CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. Kinh tế biển Khái niệm kinh tế biển mang tính thực tiễn, thay vì chỉ tập trung vào từng ngành cụ thể, các cuộc thảo luận thường chú trọng đến các lĩnh vực liên quan và hoạt động không diễn ra trên biển. Do đặc thù của không gian biển có sự liên kết chặt chẽ và phụ thuộc vào các yếu tố từ đất liền nên các nghiên cứu không thể bỏ qua các lĩnh vực và hoạt động liên quan đến biển.
Ở Mỹ, các tác giả Brian Roach, Jonathan Rubin và Charles Moris (1999, 57) cho rằng: “Kinh tế biển là các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển hoặc ven biển bao gồm một số hoạt động như hoạt động khai thác hải sản và vận tải biển, những hoạt động phụ thuộc vào biển”. Do đó, mọi hoạt động diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp đến biển đều được xem là các ngành nghề trong kinh tế biển. Theo Douglas-Westwood Limited (2005, 11) cho rằng: “Kinh tế biển là tổng hợp các ngành kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động có liên quan đến khai thác, sử dụng biển như: vận tải biển, du lịch biển, thương mại biển, công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo gắn với tài nguyên biển và các ngành hỗ trợ như giáo dục, đào tạo và nghiên cứu KHCN biển. Các ngành quản lý và quốc phòng hải quân tuy không trực tiếp hoạt động kinh tế biển nhưng là ngành hỗ trợ đắc lực cho kinh tế biển”.
Tại Trung Quốc, theo các học giả Dương Kim Thâm & cộng sự (1990, 47): “Kinh tế biển bao gồm ba loại ngành nghề theo các thời kỳ khác nhau là nghề đánh bắt hải sản, làm muối và vận tải biển là những nghề biển truyền thống, khai thác dầu khí trên biển, nghề nuôi trồng hải sản và ngành du lịch biển là nghề biển mới phát triển, nghề khai thác các nguồn năng lượng có trong biển, các loại tài nguyên khoáng sản ở dưới biển sâu và lợi dụng nước biển là những nghề biển tương lai”. Ba học giả Trung Quốc đầu những năm 90 đã khái quát các ngành nghề của kinh tế biển khá đầy đủ nhưng không nói đến các lĩnh vực như chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần nghề cá và cảng biển. 14 Tại Việt Nam, khái niệm kinh tế biển dù không được định nghĩa một cách chính xác song được các nhà nghiên cứu nhắc tới như tác giả Huỳnh Văn Thanh (2002, 3) cho rằng “Kinh tế biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế trên biển với các hoạt động kinh tế trên đất liền, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò khai thác nguyên liệu, cho hoạt động vận tải, hoạt động du lịch trên biển, còn hầu hết các hoạt động tổ chức sản xuất, chế biến, hậu cần dịch vụ phục vụ khai thác biển lại nằm trên đất liền. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật trong mấy thập kỷ gần đây cho phép con người có thể khai thác, sử dụng nhiều loại tài nguyên thiên nhiên của biển và đại dương”.
Theo Lê Quốc Bang (2017) cho rằng “Kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển (tuy không diễn ra trên biển nhưng hoạt động kinh tế này nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển). Kinh tế biển bao gồm các lĩnh vực: kinh tế hàng hải; nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy, hải sản; công nghiệp dầu khí; du lịch biển; xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với các khu đô thị ven biển; phát triển, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học – công nghệ về khai thác và quản lý kinh tế biển”. Khái niệm về kinh tế biển có sự khác biệt giữa các quốc gia nhưng vẫn có những điểm chung như không gian biển đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các hoạt động kinh tế biển. Tuy nhiên, không gian kinh tế biển của từng quốc gia phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa dẫn đến sự khác biệt trong các tiêu chí và phương pháp phân định.
Thêm vào đó, còn nhiều vấn đề khác biệt chẳng hạn trong khi nhiều nước thừa nhận kinh tế ven biển, hải đảo là một phần của kinh tế biển thì một vài quốc gia phân định rõ ràng. Các hoạt động an ninh, cải cách hành chính, quản lý biển hoặc đào tạo nhân lực cũng lựa chọn khi ước lượng giá trị kinh tế biển. 15 Kế thừa tính hợp lý của các quan niệm nêu trên, theo tác giả: “Kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền phục vụ các hoạt động kinh tế trên biển”. Phát triển kinh tế biển Theo quan điểm duy vật biện chứng của Karl Heinrich Marx (Trích dẫn trong Nguyễn Đình Bình, 2018, 29) chỉ ra rằng: “ Khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Quan điểm này cũng cho rằng, sự phát triển là quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như với sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn. Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ, trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới”. Khái niệm phát triển kinh tế, theo Đinh Văn Hải & Lương Thu Thuỷ (2014, 15) cho rằng: “phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời điểm nhất định.
Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản phẩm lượng (tăng trưởng) vô tiến trình về cấu hình kinh tế - xã hội”. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006) trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã đưa ra quan điểm “Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã hội” Khi nghiên cứu kinh tế biển nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về phát triển kinh tế biển. Trong kinh tế biển ở Châu Âu và Trung Quốc của UNEP (2011) và Rong Liu, Liyan Chen (2013) (Trích dẫn trong Đào Quốc Đạt, 2016, 5) nhấn mạnh “sự phát triển kinh tế biển một cách bền vững (nền kinh tế biển xanh) là sự phát triển hài hòa giữa thúc đẩy các ngành kinh tế liên quan đến biển với cải thiện dịch vụ văn hóa-xã hội và bảo đảm môi trường biển dựa trên sự quản lý thống 16 nhất”. Tác giả Bùi Thị Thanh Hương (2011, 25-32) cho rằng “Theo nghĩa rộng, phát triển kinh tế biển được hiểu là việc phát triển toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến khai thác biển.
Theo nghĩa hẹp, phát triển kinh tế biển là việc phát triển kinh tế dựa trên những tiềm năng lợi thế riêng có do nguồn lực, điều kiện tự nhiên của vùng biển đem lại”. Nguồn lực biển ở mỗi nơi là khác nhau. Chính vì vậy, phát triển kinh tế biển theo nghĩa hẹp đòi hỏi phải phát triển những ngành nghề phát huy được tiềm năng, lợi thế tài nguyên biển. Trên cơ sở những phân tích nhận định trên, tác giả đưa ra định nghĩa về phát triển kinh tế biển như sau: “Phát triển kinh tế biển là quá trình mở rộng nền kinh tế biển một cách toàn diện và tiến bộ, bao gồm sự phát triển đồng bộ của các ngành kinh tế biển và các lĩnh vực văn hóa, xã hội.
Điều này được thực hiện thông qua một chiến lược và phương pháp quản lý kinh tế biển hiệu quả, nhằm tăng tỷ trọng các ngành kinh tế biển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả và tiến bộ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đồng thời đảm bảo an ninh và quốc phòng”. VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Thứ nhất, phát triển kinh tế biển sẽ khai thác được tiềm năng tài nguyên biển để phát triển kinh tế Phát triển kinh tế biển sẽ giúp người dân đầu tư hơn về máy móc trang thiết bị tàu thuyền để đánh bắt xa bờ vừa bảo vệ tài nguyên biển và mang giá trị kinh tế cao hơn. Thông qua các chủ trương đề án về nuôi trồng thuỷ sản trên biển sẽ tăng cả diện tích lẫn sản lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng về công nghệ, kỹ thuật mới vào tập trung phát triển các giống nuôi chủ lực mang lại sản lượng và đạt hiệu quả kinh tế. Việc khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư vào công nghiệp chế biến hải sản với máy móc hiện đại sẽ tạo ra giá trị xuất khẩu mang lại nguồn thu lớn.
Thông qua việc đầu tư về vốn, cơ sở hạ tầng … vào phát triển du lịch biển theo chiều sâu sẽ khai thác hiệu quả các loại hình du lịch, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước làm tăng nguồn thu thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Phát triển kinh 17 tế biển sẽ mang lại nguồn tài chính để đầu tư trang thiết bị đồng nghĩa với việc đẩy nhanh công tác tìm kiếm dò tìm các mỏ dầu khí và các tài nguyên khoáng sản ngoài khơi, xuất khẩu đem lại ngoại tệ lớn cho đất nước. Thứ hai, phát triển kinh tế biển góp phần giải quyết việc làm tăng thu nhập và đào tạo lực lượng lao động có trình độ chuyên môn. Cuốn “The Ocean Economy in 2030 - Kinh tế Đại dương năm 2030” của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (2016) khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế biển trong việc thúc đẩy sự hưng thịnh của nhân loại trong tương lai.