Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA NEN TANG PHÁP LY CUA SU KET HỢP GIỮA PHÁT TRIEN KINH TE BIEN VỚI BẢO VỆ CHỦ QUYEN QUOC GIA CỦA VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam 1. Khái niệm kinh tế biển Khái niệm kinh tế biển không mới trên thế giới và ở Việt Nam, tuy nhiên việc nghiên cứu kinh tế biển vẫn là hệ van đề mở cả trên phương diện học thuật và thực tiễn. Ở Việt Nam được đề cập với tư cách là chiến lược quan trọng của quá trình phát triển Việt Nam hiện đại được đề cập tại Hội nghị lần thứ Tư ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW, cũng từ đó vấn đề về kinh tế biển ngày càng được nghiên cứu nhiều với những cách tiếp cận khác nhau, điển hình như sau: Ngô Lực Tải (2015), Kinh tế biển Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập [65.
Tác giả cho rằng khái niệm về kinh tế biển là mang tính thực tiễn, chia làm 2 phần: Phần một là các hoạt động kinh tế ở trên biển như (khai thác dau khí, hàng hải, du lịch biên, dich vụ tìm kiếm cứu nạn, nghề muối, kinh tế đảo, cứu nạn trên biển); phần hai là các hoạt động liên quan trực tiếp đến khai thác biển, dựa vào yếu tố biển nhưng diễn ra trên đất liền (chế biến hai sản, chế biến dầu khí, đóng và sửa chữa tàu bién,. Chu Đức Dũng (2011), Chiến lược phát triển kinh tế Biển Dong cua một số nước Đông Nam A [L1, tr. Tác giả cho răng kinh tế biển là toàn bộ những hoạt động kinh tế ở trên biên, diễn ra chủ yếu gồm (Khai thác dầu khí, hàng hai, hải sản, làm muối, kinh tế dao, du lịch biển, dịch vụ tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ). Các hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp đến khai thác biển bao gồm (kinh tế ven biên, trực tiếp hoạt động kinh tế biển hoặc nhờ vào các yếu tố biển).
12 Trong “Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” [2.77] đề cập đến kinh tế biển, ven biển gồm “ (1) Khai thác, chế biến dâu, khí, (2) Kinh tế hàng hải, (3) Khai thác và chế biến hải sản, (4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; (5) Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển” Kinh tế biển được hiểu là các ngành kinh tế trực tiếp khai thác, chế biến những tài nguyên biển. Xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất tập trung ven biển kết hợp với phát triển đô thị ven biển để hỗ trợ PTKTB. Đây là cách tiếp cận khái quát nhất đưới góc độ vĩ mô, nó thể hiện được những ngành kinh tế biển đặc trưng và kết nối với các hoạt động kinh tế khác. Mặc dù có nhiều khái niệm về kinh tế biển song chủ yếu chỉ tập trung liệt kê các thành tố cấu thành kinh tế biển, phân loại dựa vào tính chất hoạt động các ngành kinh tế liên quan trực tiếp đến biển.
Nhìn chung hiện nay tiếp cận kinh tế biển theo hai cách (1) theo cách tiếp cận hẹp, kinh tế biển là bao hàm các ngành kinh tế như sử dụng tài nguyên biển, tổ chức sản xuất kinh doanh trên biển như khai thác chế biến dầu khí, vận tải biển, cảng biển, kinh tế dao, du lịch biển. (2) theo cách tiếp cận rộng, kinh tế biển không chi là những ngành kinh tế theo cách tiếp cận 1 mà còn bao hàm những hoạt động kinh tế ven biển, tài nguyên biển như đóng, sửa chữa tàu biển; công nghệ làm muối, công nghệ chế biến hải sản, dầu khí, khu công nghiệp ven biên, xây dựng các khu đô thị; khoa học công nghệ biển; đào tao nguồn nhân lực biển; phát triển công nghệ thông tin. Tùy theo cách tiếp cận, khía cạnh nghiên cứu dé phan ánh những đặc trưng của kinh tế biển đó là gián tiếp hay trực tiếp dựa vào tài nguyên biển để tố chức những hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ khác về không gian địa lý, quy mô tô chức hoạt động kinh tế. Tuy nhiên trong bối cảnh các nền kinh tế hội nhập quốc tế sâu rộng nên cách tiếp cận theo chiều rộng có tính khái quát hơn.
Dựa trên cách tiêp cận này Học viên cao học đưa ra khái niệm về kinh tê 13 biển sau: Kinh tế biển là ngành kinh tế tong hợp phát triển và ton tại phù hợp với tài nguyên và địa chính trị biển nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng từ biển phục vụ phát triển KT - XH. Có thê hiểu khái niệm kinh tế biển là hoạt động kinh tế bao gồm những hoạt động kinh doanh, sản xuất theo các khía cạnh: dựa vào khả năng khai thác, sử dụng mặt biển, xây dựng cảng biển, cảnh quan biên, phát triển du lịch biển, tuyến hang hải thương mại, khu kinh tế ven biển, khu đô thị ven biển để hoạt động kinh tế; các hoạt động kinh tế dựa trên chế biến tài nguyên biên, khai thác và chế biến dầu khí, các khoáng sản, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến hải sản. Với mục đích phát triển kinh tế phục vụ nhiệm vụ phát triển KT - XH, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố và nâng cao tiềm lực quốc gia. Về quan điểm PTKTB: Được lồng ghép, dé cập trong chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước, chính sách phát triển của các địa phương như: Phát triển kinh tế hàng hải; khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí, hải sản; gắn PTKTB, đảo với các khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghiệp, đô thị ven biển.
Trước mắt, cần tập trung phát triển một số ngành mũi nhọn như vận tải biển, hình thành các khu kinh tế ven biến, tạo điều kiện an toàn cho ngư dân hoạt động trên biển, đảo; xây dựng CSHT bảo vệ môi trường biên. Về giải pháp PTKTB: Đã có nhiều giải pháp đề xuất nhằm PTKTB thường tập trung vào các vấn đề: Nâng cao nhận thức, xây dựng chính sách, quy hoạch, quan ly nhà nước, tạo NNL PTKTB. Tuy nhiên, thiếu hoặc ít các giải pháp dưới góc nhìn khoa học kinh tế chính trị, giải pháp PTKTB chưa đi sâu phân tích vi trí, vai trò, biện pháp thực hiện, giải pháp toàn diện dưới góc độ kinh tế chính trị với PTKTB ở nước ta hiện nay. Khái niệm bảo vệ chủ quyén quốc gia Bảo vệ chủ quyền là thực hiện tổng thé các giải pháp, biện pháp trên lĩnh vực chính trị, quôc phòng - an ninh, kinh tê, văn hóa - xã hội và bảo đảm 14 quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn về mọi mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ Tổ quốc.
Chủ quyền quốc gia gồm 2 nội dung: Quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thô của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong phạm vi lãnh thé của mình, quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp, tư pháp. Vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh của quốc gia phải do quốc gia đó quyết định. Các quốc gia khác, tổ chức quốc tế không có quyền can thiệp vào mọi tổ chức, cá nhân cư trú trên lãnh thô của quốc gia đó.
Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thé hiện ở chỗ: (1) Tự quyết định mọi vấn đề đối nội, đối ngoại của mình, các quốc gia khác không có quyền can thiệp hoặc áp đặt; không có thế lực, cơ quan nào đứng trên quốc gia, có quyền đặt ra pháp luật và bắt buộc quốc gia phải thực hiện. (2) Quốc gia chỉ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại, các quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc tham gia, đồng thời tôn trọng các tập quán quốc tế cũng như các điều ước quốc tế do các quốc gia khác ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện tại. Chủ quyên quốc gia trên biển cũng bao hàm những nội dung cơ bản nói trên. Quốc gia ven bién thuc hién chu quyén của mình một các tuyệt đối, đầy đủ, toàn ven ở trong vùng nội thủy và thực hiện chủ quyền một cách day đủ, toàn vẹn ở trong lãnh hải.
Vì nội thủy được coi là bộ phận đất liền như sông suối, ao hồ, các vùng nước nằm trong đất liền. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia ven biển. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của lãnh hải. Luật Biên Việt Nam năm 2012 quy định tại điều 9 “Nhà nước thực hiện chủ quyên hoàn toàn, tuyệt đôi và đây đủ đôi với nội thủy trên đât liên”.
15 Công ước LHQ về Biển năm 1982, điều 12 quy định “Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất đưới đáy biển của lãnh hải”. Mỗi quốc gia ven biển có năm vùng biên gồm: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Trong mỗi vùng biển quốc gia có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán khác nhau. Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia gồm nội thủy và lãnh hải, các vùng biển quốc gia có quyền chủ quyền và quyền tài phán gồm vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa.
Quan điểm kết hợp giữa phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyên quốc gia. Angghen chỉ ra “Toàn bộ tô chức và phương pháp chiến đấu của Quân đội, do đó, thăng lợi và thất bại, đều tỏ ra là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế” [45, tr. Theo đó, quốc phòng là hoạt động chuẩn bị ran de, đây lùi hoặc đối phó chiến tranh, nên chịu sự chi phối của kinh tế. Vận dụng sáng tạo luận điểm trên, Đảng ta luôn nhất quán chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng trong PTKTB.