Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong thế kỷ XX, huyền thoại học phát triển với sự tham gia của nhiều hệ thống lý thuyết như triết học, nhân học, cấu trúc luận, phân tâm học và biểu trưng học. Việc ứng dụng các lý thuyết này vào nghiên cứu văn học cho phép xác định hình thái, chức năng gốc của các yếu tố huyền thoại trong văn hóa nguyên thủy, đồng thời phân tích sự chuyển hóa của chúng khi thâm nhập vào văn bản văn học.

Truyện truyền kì là một thể loại tiêu biểu của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, kết hợp phương thức ghi chép hiện thực và hư cấu nghệ thuật. Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Hoa, truyền kì khi du nhập vào Việt Nam đã dung hợp sâu sắc với văn hóa dân tộc và lưu giữ đậm nét các yếu tố kì ảo – dấu vết của tư duy huyền thoại. Từ trước đến nay, các công trình học thuật chủ yếu tiếp cận truyền kì Việt Nam dưới các góc độ xã hội học, lịch sử văn học hoặc thi pháp học một cách riêng lẻ. Chưa có một công trình nào khảo sát và giải mã một cách hệ thống, bao quát toàn bộ thể loại truyền kì Việt Nam thời trung đại từ góc nhìn huyền thoại học có đối chiếu với truyền kì Trung Hoa. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này, đồng thời đáp ứng nhu cầu tích hợp kiến thức trong giảng dạy tác phẩm truyền kì ở bậc phổ thông và đại học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự hiện diện, nguồn gốc và ý nghĩa của các yếu tố huyền thoại trong truyền kì Việt Nam thời trung đại; đối chiếu các yếu tố này với thần thoại để xác định sự biến đổi hình thái, chức năng theo dụng ý nghệ thuật của tác giả; đồng thời đối chiếu với truyền kì Trung Hoa để chỉ ra sự tương đồng, khác biệt và tính sáng tạo của văn học dân tộc.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Khảo sát tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định hướng tiếp cận của đề tài.
  2. Phân tích các đặc điểm chủ yếu của huyền thoại và sự thể hiện huyền thoại trong văn học Việt Nam.
  3. Phân tích truyền kì Việt Nam thời trung đại từ phương diện tư duy huyền thoại và phương diện nghệ thuật biểu hiện huyền thoại (đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố huyền thoại trong tác phẩm truyền kì của Việt Nam và Trung Hoa thời trung đại.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Văn học trung đại Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX) và các thời kỳ phát triển của truyền kì Trung Hoa (thời Đường, Minh, Thanh).
  • Phạm vi văn bản khảo sát:
    • Văn bản truyền kì Việt Nam: Khảo sát hệ thống văn bản trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Tập 1, 2; Trần Nghĩa chủ biên, NXB Thế giới, 1997), gồm 7 tác phẩm: Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông ?), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyền kì lục (Phạm Quý Thích), Truyện kí trích lục (Khuyết danh), Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục), Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh). Tài liệu tham khảo đối chiếu là bộ Truyện truyền kỳ Việt Nam (Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1999; khảo sát các tập III, IV thuộc quyển 2 và tập V, VI thuộc quyển 3).
    • Văn bản truyền kì Trung Hoa (đối chiếu): Đường đại truyền kì (Phùng Quý Sơn biên soạn, NXB Đồng Nai, 1995); Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (NXB Văn học, 1999); Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh (Tản Đà, Đào Trinh Nhất, Nguyễn Văn Huyền dịch, NXB Văn học, 2008).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu truyền kì Việt Nam thời trung đại qua 4 hướng tiếp cận chính:

                                  TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
  Góc độ thể loại         Góc độ tác phẩm            Góc độ so sánh           Góc độ văn hóa dân gian
  - Tên gọi, thuật ngữ    - Truyền kì mạn lục        - So với truyện sử       - Yếu tố dân gian & Đạo giáo
  - Tiến trình lịch sử    - Thánh Tông di thảo       - So sánh nội bộ         - Mô típ kì ảo & tâm linh
  - Đặc trưng nghệ thuật  - Các tập truyện khác      - So sánh Trung - Việt   - Dịch chuyển không gian
                                                     - So sánh khu vực Đông Á

1. Nghiên cứu truyền kì từ góc độ thể loại

  • Về tên gọi và phân loại thể loại: Trần Đình Sử (Thi pháp văn học trung đại, 2005) xếp truyện truyền kì vào bộ phận thể loại truyện chữ Hán. Biện Minh Điền (Loại hình văn học trung đại Việt Nam) coi truyền kì vừa là thể loại vừa là một xu hướng sáng tác. Nguyễn Huệ Chi (Truyện truyền kì Việt Nam, 1999) xác định truyền kì là văn xuôi nghệ thuật có sự tham gia đậm nét của yếu tố kì ảo. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học, 2011) định nghĩa tiểu thuyết truyền kì nhấn mạnh vào tính chất hư cấu. Đinh Phan Cẩm Vân (Tiếp cận thể loại văn học cổ Trung Quốc, 2011) truy xuất nguồn gốc truyền kì từ chí quái Lục triều đến đỉnh cao thời Đường. Trần Nghĩa (Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, 1997) phân biệt truyền kì với chí quái ở việc tác giả sử dụng "hư bút" có ý thức. Trần Ích Nguyên (2000), Nguyễn Phúc An (2004), Vũ Ngọc Khánh và Nguyễn Quang Ân (1999) phân loại các tập truyện truyền kì trong kho tàng văn học chữ Hán. Nguyễn Đăng Na (Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, 2006) xem truyền kì là thể tài của truyện ngắn trung đại. Đinh Thị Khang (2012), Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, 2008), Bùi Việt Thắng (2000), Bùi Duy Tân, Vũ Thanh, Vương Tiểu Thuẫn (2000), Nguyễn Văn Dân (1984), Lâm Giang và Nguyễn Văn Tuân xác định các khái niệm truyện ngắn trung đại, truyện kì ảo, văn xuôi huyễn tưởng và truyện ký.
  • Về tiến trình hình thành và phát triển: Nguyễn Đăng Na (2007) phân chia 3 giai đoạn: Thế kỷ X – XIV (chuẩn bị bằng văn học dân gian và văn học chức năng), Thế kỷ XV – XVI (phát triển đỉnh cao với Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục), Thế kỷ XVIII – XIX (xu hướng hiện thực hóa, suy giảm kì ảo). Các tác giả Đinh Thị Khang, Nguyễn Phúc An, Lê Trí Viễn (2002), Phan Cự Đệ (2006), Nguyễn Nam (2002), B. Riftin (2012), Bùi Việt Thắng (2000) cùng khẳng định quy luật vận động thể loại từ khởi đầu, cực thịnh đến phân rã.
  • Về đặc trưng thể loại: S. Nekliudov (2007), Lã Nhâm Thìn (Giáo trình văn học trung đại Việt Nam), Phạm Văn Hưng (Văn hóa tính dục ở Việt Nam thế kỉ X-XIX), Trần Đình Sử (2005), Đinh Phan Cẩm Vân (2011), Đỗ Thị Mỹ Phương (2013) khảo sát kết cấu cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật kì ảo xen lẫn bình phàm, điểm nhìn trần thuật và ngôn ngữ kết hợp văn xuôi, biền ngẫu, thơ ca.

2. Nghiên cứu truyền kì từ góc độ tác phẩm

  • Nghiên cứu Truyền kì mạn lục: Lê Trí Viễn, Nguyễn Phạm Hùng (1995, 2006), Đinh Thị Khang (2012) phân tích giá trị hiện thực, tư tưởng nhân văn và nghệ thuật kì ảo. Lê Văn Tấn (2019) nghiên cứu tư tưởng ẩn dật của nhà nho và thân phận phụ nữ. Nguyễn Đăng Na (2006) khảo sát số lượng truyện (20 hay 22 truyện). Nguyễn Kim Châu (2013) nghiên cứu thời gian trần thuật. Nguyễn Nam (2000, 2002) và Nguyễn Quang Hồng (2003) phân tích văn bản học, tên tác giả Nguyễn Dữ/Nguyễn Tự. Vũ Tố Hảo (1978), Đinh Văn Minh (1996), Kawamoto Kurive (1996) nghiên cứu các dị bản. Phan Cự Đệ và Phạm Văn Hưng đi sâu vào từng truyện cụ thể (Truyện kì ngộ ở trại Tây, Truyện Lệ Nương).
  • Nghiên cứu Thánh Tông di thảo và các tác phẩm khác: Nguyễn Đổng Chi (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam), Bùi Duy Tân, Vũ Thanh, Phạm Ngọc Lan, Lê Nhật Ký, N. Nikulin (Lịch sử văn học Việt Nam), Trần Thị Băng Thanh (1999, 2010), Trần Bá Chí (2006), Nguyễn Nam (1996) đánh giá vị trí của Thánh Tông di thảo. Trần Thị Băng Thanh nghiên cứu Truyền kì tân phả; Trần Nghĩa (1996) nghiên cứu Nam thiên trân dị tập; Bùi Văn Nguyên (2001) nghiên cứu Lĩnh Nam chích quái; Nguyễn Kim Oanh (1997) nghiên cứu Vân nang tiểu sử; Nguyễn Cẩm Thúy (1983) nghiên cứu Lan Trì kiến văn lục; Trần Đình Việt (1994) nghiên cứu Tang thương ngẫu lục.

3. Nghiên cứu truyền kì từ góc độ so sánh

  • So sánh với thể loại khác và so sánh nội bộ: Trần Đình Sử (2005) so sánh truyền kì với truyện sử. Nguyễn Hữu Sơn (2002) so sánh văn bản giữa Nam Ông mộng lục và Đại Việt sử kí toàn thư.
  • So sánh truyền kì Việt Nam và Trung Hoa: Hà Thiện Hán, Trần Nghĩa (2005), Trần Ích Nguyên (Nghiên cứu so sánh "Tiễn đăng tân thoại" và "Truyền kì mạn lục", 2000), Đinh Phan Cẩm Vân (2005, 2011), Nguyễn Xuân Hòa, Nhan Bảo (1998), Phạm Tú Châu (1987, 1999), Đinh Thị Khang (2016), Nguyễn Đăng Na (2006) tập trung làm rõ mối quan hệ tiếp thu và cải biến sáng tạo giữa Truyền kì mạn lục và Tiễn đăng tân thoại.
  • So sánh truyền kì Việt Nam với các nước Đông Á: Đoàn Lê Giang (2010) so sánh Truyền kì mạn lục với Vũ nguyệt vật ngữ (Nhật Bản). Kim Kihyun (Nhân vật trong truyện kì ảo trung đại Việt Nam và Hàn Quốc dưới góc nhìn so sánh) so sánh nhân vật truyền kì Việt - Hàn. Kim Seona (1995), Phan Nguyễn Phước Tiên (2012), B. Riftin (2006), Jeon Kye Kyung (2004, 2006), Phạm Tú Châu (1995), Lưu Thị Hồng Việt (2012), Hà Thanh Vân nghiên cứu so sánh liên vùng qua các tác phẩm Kim Ngao tân thoại (Triều Tiên), Già tỳ tử (Nhật Bản), Tiễn đăng tân thoại (Trung Quốc) và Truyền kì mạn lục (Việt Nam).

4. Nghiên cứu truyền kì từ góc độ văn hóa dân gian

Đinh Thị Khang, Vũ Thanh, Trần Nghĩa (1997, 1999) khảo cứu nguồn gốc thần thoại, truyện tích dân gian và ảnh hưởng của Đạo giáo đối với nghệ thuật xây dựng nhân vật. Lê Đắc Tường (2019) nghiên cứu khuynh hướng Thiền - Lão. Nguyễn Hữu Sơn (2010), Lê Dương Khắc Minh (2016), Trần Thị An (2003), Nguyễn Ngọc Hiệp (2005), Lê Thu Yến (2014) khảo sát tính hiện thực của yếu tố tâm linh. Bùi Thanh Truyền (2011) nghiên cứu nhân vật ma. Nguyễn Thị Mai Liên (2014) nghiên cứu không - thời gian mộng ảo. Nguyễn Thị Kim Ngân nghiên cứu sự chuyển dịch không gian từ cổ tích sang truyền kì. Lê Thị Hồng Nhạn (2011) phân tích yếu tố kì trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.

Khoảng trống nghiên cứu

Các công trình đi trước đã cung cấp tư liệu về văn bản, thi pháp và so sánh văn học. Tuy nhiên, chưa có công trình nào sử dụng lý thuyết huyền thoại học một cách toàn diện để phân tích bản chất tư duy huyền thoại, sự chuyển hóa cấu trúc cổ mẫu và các phương thức biểu hiện nghệ thuật trong toàn bộ hệ thống truyện truyền kì Việt Nam thời trung đại đặt trong tương quan đối chiếu với truyền kì Trung Hoa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án vận dụng các lý thuyết chuyên ngành về huyền thoại học kết hợp thi pháp học:

  • Lý thuyết cấu trúc: Tiếp thu luận điểm của Claude Lévi-Strauss về cấu trúc thần thoại, xem huyền thoại là thao tác vô thức logic và công cụ giải quyết mâu thuẫn thông qua hệ thống các cặp đối lập nhị phân.
  • Lý thuyết nhân học: Vận dụng quan niệm vạn vật hữu linh (animism) của Edward Tylor, coi huyền thoại là hình thức tôn giáo và nhận thức nguyên thủy của nhân loại.
  • Lý thuyết phân tâm học: Sử dụng lý thuyết vô thức tập thể và hệ thống cổ mẫu (archetypes) của Carl Gustav Jung, kết hợp kiến giải của Sigmund Freud về bản năng vô thức.
  • Lý thuyết thi pháp học: Tiếp thu quan điểm của E. Meletinsky (Thi pháp của huyền thoại), Chu Xuân Diên, Đào Ngọc Chương để mô hình hóa và phân tách các yếu tố cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian.
  • Các hệ thống lý thuyết bổ trợ: Khái niệm tư duy đôi (lí tính - huyền thoại) và tư duy tượng trưng của Edgar Morin; huyền thoại như hệ thống ký hiệu học của Roland Barthes; sự phân biệt cái thiêng và cái phàm của Mircea Eliade (Nguồn gốc các tôn giáo); lý thuyết tư duy tiền logic và định luật tham dự của Lucien Lévy-Bruhl (Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy); quan niệm con người là động vật biểu tượng và mô hình không gian thiêng - trần tục của Ernst Cassirer; các quan điểm phân biệt thể loại huyền thoại, cổ tích, sử thi của Susanne Langer, Wilbur Marshall Urban, Géza Róheim, Philippe Sellier.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp định tính kết hợp các thao tác học thuật cụ thể:

  • Phương pháp phê bình huyền thoại (chủ đạo): Khảo sát sự di chuyển của các yếu tố huyền thoại từ hệ thống thần thoại nguyên thủy sang hệ thống văn bản văn học viết trung đại, nhận diện sự biến đổi về hình thái và chức năng.
  • Phương pháp phê bình lịch sử - xã hội: Đặt các tác phẩm truyền kì vào bối cảnh lịch sử, thể chế chính trị và đời sống văn hóa trung đại để phân tích động lực tiếp biến huyền thoại.
  • Phương pháp phê bình thi pháp học: Phân tích các yếu tố cấu trúc nghệ thuật gồm hệ thống nhân vật, mô típ nghệ thuật, cấu trúc không gian và thời gian trần thuật.
  • Các thao tác nghiên cứu:
    • Thao tác phân tích - tổng hợp: Phân tích hình thái, chức năng của yếu tố huyền thoại trong thần thoại và truyền kì; tổng hợp bức tranh toàn cảnh về tư duy nghệ thuật trung đại.
    • Thao tác so sánh - đối chiếu: So sánh giữa thần thoại và truyền kì; đối chiếu truyền kì Việt Nam với truyền kì Trung Hoa thời Đường, Minh, Thanh.
    • Thao tác thống kê - phân loại: Thống kê và phân nhóm các cổ mẫu, mô típ huyền thoại xuất hiện trong văn bản khảo sát.

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu

Nhóm ngữ liệu Tác phẩm / Văn bản khảo sát Tác giả / Người biên soạn / Dịch giả Nguồn xuất bản
Truyền kì Việt Nam (Khảo sát chính) Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả, Tân truyền kì lục, Truyện kí trích lục, Vân nang tiểu sử, Lan Trì kiến văn lục Lê Thánh Tông (?), Nguyễn Dữ, Đoàn Thị Điểm, Phạm Quý Thích, Khuyết danh, Phạm Đình Dục, Vũ Trinh (Trần Nghĩa chủ biên) Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Tập 1, 2), NXB Thế giới, 1997
Truyền kì Việt Nam (Đối chiếu bổ trợ) 262 truyện truyền kì và phỏng truyền kì (khảo sát tập III, IV, V, VI) Nguyễn Huệ Chi (Chủ biên) Truyện truyền kỳ Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999
Truyền kì Trung Hoa (Khảo sát đối chiếu) Đường đại truyền kì Phùng Quý Sơn (Biên soạn) NXB Đồng Nai, 1995
Truyền kì Trung Hoa (Khảo sát đối chiếu) Tiễn đăng tân thoại Cù Hựu NXB Văn học, 1999
Truyền kì Trung Hoa (Khảo sát đối chiếu) Liêu trai chí dị Bồ Tùng Linh (Tản Đà, Đào Trinh Nhất, Nguyễn Văn Huyền dịch) NXB Văn học, 2008
Hệ thống thần thoại Thần thoại Việt Nam và thần thoại Trung Hoa Nhiều tác giả Khảo sát theo các thư tịch cổ và tuyển tập dân gian

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRUYỀN KÌ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN CỦA ĐỀ TÀI

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về truyền kì Việt Nam theo 4 hướng: góc độ thể loại, góc độ tác phẩm, góc độ so sánh và góc độ văn hóa dân gian. Chương này xác lập cơ sở phương pháp luận của đề tài thông qua việc trình bày chi tiết các lý thuyết huyền thoại học (cấu trúc luận của C. Lévi-Strauss, nhân học của E. Tylor, phân tâm học của C. Jung, thi pháp học của E. Meletinsky) và xác định quy trình nghiên cứu 3 bước: nhận diện yếu tố huyền thoại trong tác phẩm, đối chiếu hình thái và chức năng gốc trong thần thoại, phân tích sự chuyển hóa chức năng khi thâm nhập vào văn bản truyền kì.

Chương 2: HUYỀN THOẠI VÀ SỰ THỂ HIỆN HUYỀN THOẠI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

Chương 2 trình bày hệ thống khái niệm về huyền thoại, tư duy huyền thoại và nghệ thuật huyền thoại:

  • Tư duy huyền thoại: Phân tích đặc trưng của tư duy nguyên thủy thông qua cơ chế đồng nhất các phạm trù: đồng nhất tự nhiên và siêu nhiên (thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên như thần trời, thần đất, thần sét, thần biển, thần lúa; thiêng hóa sự vật, bái vật giáo); đồng nhất con người và siêu nhiên; đồng nhất con người và tự nhiên; đồng nhất khởi đầu và nguyên nhân.
  • Sự dung chứa các cổ mẫu và nghệ thuật huyền thoại: Khảo sát các cổ mẫu biểu tượng của vô thức tập thể; phân tích đặc điểm không gian thiêng - trần tục, thời gian thần thoại nguyên khởi và ngôn ngữ biểu tượng.
  • Sự thể hiện huyền thoại trong văn học Việt Nam: Khảo sát sự tiếp nối của huyền thoại qua các chặng đường lịch sử văn học dân tộc: từ văn học dân gian (thần thoại suy nguyên, truyền thuyết anh hùng) chuyển tiếp sang văn học trung đại (sử thi hóa, truyền kì hóa các yếu tố hoang đường) và sự tái hiện huyền thoại trong văn học hiện đại sau năm 1986.

Chương 3: TRUYỀN KÌ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN TƯ DUY HUYỀN THOẠI (ĐỐI CHIẾU VỚI TRUYỀN KÌ TRUNG HOA THỜI TRUNG ĐẠI)

Chương 3 tập trung phân tích sự biểu hiện của tư duy huyền thoại trong việc xây dựng hệ thống nhân vật và tái sinh cổ mẫu:

  • Thần thánh hóa các nhân vật của dân gian:
    • Nhân vật lịch sử: Các nhân vật lịch sử có công đánh giặc, bảo vệ non sông được tác giả truyền kì khoác lên lớp vỏ huyền thoại, thiêng hóa thành thần linh phù trợ đất nước (so sánh với hệ thống nhân vật truyền kì Trung Hoa).
    • Nhân vật tôn giáo: Tái hiện và thần thánh hóa các nhân vật thuộc hệ thống Phật giáo, Đạo giáo (các vị thiền sư, đạo sĩ, tiên ông có phép thuật thần thông).
  • Tái sinh các cổ mẫu:
    • Cổ mẫu thần: Chuyển biến từ thần linh sáng tạo vũ trụ trong thần thoại sang các vị thần bảo trợ xã hội, thần sông núi gần gũi với đời sống trần thế.
    • Cổ mẫu yêu ma: Khảo sát các dạng thức ma quỷ, yêu tinh cây cỏ (mộc tinh), súc vật biến hóa mang dục vọng, tâm tư và khát vọng gắn liền với cõi nhân sinh.
    • Cổ mẫu nước: Biểu tượng của sự sống, sự thanh tẩy, ranh giới giữa cõi trần và cõi chết/thủy phủ (như hồ Động Đình, sông nước trong Truyền kì mạn lục).
    • Cổ mẫu đêm: Không gian - thời gian khởi sinh của các hoạt động tâm linh, kì ngộ, biến hình và bộc lộ vô thức bản năng của con người.

Chương 4: TRUYỀN KÌ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN HUYỀN THOẠI (ĐỐI CHIẾU VỚI TRUYỀN KÌ TRUNG HOA THỜI TRUNG ĐẠI)

Chương 4 khảo sát phương diện hình thức và cấu trúc nghệ thuật mang tính chất huyền thoại:

  • Hệ thống mô típ huyền thoại:
    • Mô típ hiển linh: Thần linh, hồn ma xuất hiện để cứu giúp người oan khuất hoặc trừng phạt kẻ ác.
    • Mô típ biến hình: Con người hóa thần, hóa ma; cỏ cây súc vật hóa thành hình người nhằm thực hiện các giao tiếp xã hội hoặc tình yêu lứa đôi.
    • Mô típ chinh phục cái chết: Sự hồi sinh, đầu thai, hoặc tiếp tục tồn tại ở một thế giới phi phàm sau khi chết (như nhân vật Vũ Thị Thiết, Nhị Khanh).
    • Mô típ kết duyên kì lạ: Hôn nhân giữa người và tiên, người và ma, người và tinh vật; phản ánh khát vọng tự do yêu đương và hạnh phúc trần thế.
  • Không gian huyền thoại:
    • Không gian đồng hiện thực giới và hư giới: Sự xóa nhòa ranh giới giữa cõi trần tục và cõi âm/cõi tiên; hai thế giới tồn tại song song và có thể chuyển dịch qua lại.
    • Không gian đồng hiện trung tâm thần thiêng và ngoại vi thế tục: Sự tương tác giữa các địa điểm tôn nghiêm (đền đài, miếu mạo) và các địa danh lịch sử, địa lý thực tế tại Việt Nam.
  • Thời gian huyền thoại:
    • Thời gian đồng hiện đồng đại: Sự diễn ra đồng thời của các sự kiện ở các không gian cách biệt.
    • Thời gian đồng hiện lịch đại: Sự đan cài giữa thời gian lịch sử tuyến tính và thời gian thần thoại vĩnh hằng, nơi quá khứ, hiện tại và tương lai hòa nhập vào nhau trong các giấc mộng hoặc các cuộc hội ngộ huyền ảo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và học thuật

  1. Hệ thống hóa diện mạo thể loại: Luận án là công trình nghiên cứu có tính hệ thống đầu tiên khảo sát, thống kê và phân loại toàn diện các yếu tố huyền thoại trong văn xuôi truyền kì Việt Nam thời trung đại đặt trong mối quan hệ so sánh đối chiếu với truyền kì Trung Hoa.
  2. Vận dụng khung lý thuyết liên ngành: Đề tài đã vận dụng các thành tựu của huyền thoại học (cấu trúc luận, nhân học, phân tâm học) để giải mã cấu trúc cổ mẫu, cơ chế tư duy tiền logic và sự vận hành của logic nhị phân trong văn học tự sự trung đại.
  3. Làm rõ quy luật tiếp biến văn học: Luận án đã chỉ ra quy luật chuyển hóa của các yếu tố huyền thoại khi di chuyển từ thần thoại dân gian sang văn học viết: từ chức năng giải thích vũ trụ (suy nguyên luận) sang phương tiện nghệ thuật biểu đạt hiện thực xã hội và số phận con người cá nhân.
  4. Xác lập đặc trưng văn hóa dân tộc: Thông qua việc đối chiếu với truyền kì Trung Hoa, công trình đã làm sáng tỏ sự giao thoa văn hóa khu vực Đông Á cùng những sáng tạo riêng biệt của các tác gia Việt Nam (gắn liền không gian, thời gian và nhân vật với lịch sử, địa lý và tâm thức văn hóa của người Việt).

Đề xuất và kiến nghị ứng dụng

  • Luận án đề xuất việc đưa góc nhìn huyền thoại học vào quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại tại các trường đại học, cao đẳng nhằm giúp người học tiếp cận tác phẩm một cách đa diện, vượt qua lối tiếp cận xã hội học thuần túy.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy tích hợp các văn bản truyền kì trong chương trình môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chính vào 7 tác phẩm truyền kì chữ Hán tiêu biểu trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Tập 1, 2) và 3 nguồn ngữ liệu truyền kì Trung Hoa tiêu biểu. Bộ tuyển tập Truyện truyền kỳ Việt Nam của Nguyễn Huệ Chi tại thời điểm nghiên cứu chưa được xuất bản trọn vẹn (mới xuất bản quyển 2 và quyển 3) nên chỉ được sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ trợ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát yếu tố huyền thoại sang các thể loại tự sự khác của văn học trung đại Việt Nam như truyện thơ Nôm, giai thoại văn học; đồng thời mở rộng phạm vi so sánh đối chiếu với truyền kì của các quốc gia Đông Á khác như Hàn Quốc (Kim Ngao tân thoại) và Nhật Bản (Vũ nguyệt vật ngữ, Già tỳ tử).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn học so sánh và Văn hóa học.
    • Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm phụ trách các học phần Văn học trung đại Việt Nam, Thi pháp học và Văn học khu vực Đông Á.
    • Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trực tiếp giảng dạy các tác phẩm văn xuôi tự sự trung đại.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
    • Hệ thống lý thuyết về huyền thoại học và quy trình phân tích yếu tố huyền thoại trong văn bản văn học.
    • Khung phân loại các cổ mẫu (thần, yêu ma, nước, đêm) và các mô típ nghệ thuật (hiển linh, biến hình, chinh phục cái chết, kết duyên kì lạ).
    • Mô hình phân tích không gian đồng hiện và thời gian đồng hiện trong thi pháp truyện truyền kì.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát hệ thống văn bản truyền kì Việt Nam dựa trên nguồn ngữ liệu chính nào?
Luận án khảo sát chính hệ thống truyện truyền kì trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Tập 1, 2 do Trần Nghĩa chủ biên, NXB Thế giới, 1997), bao gồm 7 tác phẩm: Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả, Tân truyền kì lục, Truyện kí trích lục, Vân nang tiểu sử và Lan Trì kiến văn lục. Bộ Truyện truyền kỳ Việt Nam (Nguyễn Huệ Chi chủ biên, 1999) được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối chiếu.

2. Khung lý thuyết huyền thoại học của luận án bao gồm những trường phái chủ yếu nào?
Luận án vận dụng 4 lý thuyết nòng cốt: Lý thuyết cấu trúc của C. Lévi-Strauss (cấu trúc thần thoại, logic nhị phân); Lý thuyết nhân học của E. Tylor (vạn vật hữu linh); Lý thuyết phân tâm học của C. Jung (vô thức tập thể, cổ mẫu); và Lý thuyết thi pháp học của E. Meletinsky. Ngoài ra còn tham khảo luận điểm của E. Morin, R. Barthes, M. Eliade, L. Lévy-Bruhl, E. Cassirer và Chu Xuân Diên.

3. Tư duy huyền thoại trong truyền kì Việt Nam được luận án phân tích qua những cổ mẫu nào?
Tác giả khảo sát sự tái sinh của 4 cổ mẫu tiêu biểu: Cổ mẫu thần (thần bảo trợ xã hội, thần sông núi), Cổ mẫu yêu ma (ma quỷ, mộc tinh, tinh vật mang dục vọng nhân sinh), Cổ mẫu nước (nguồn sống, sự thanh tẩy, ranh giới cõi âm - cõi dương) và Cổ mẫu đêm (thời gian khởi phát của biến hình, mộng ảo và vô thức).

4. Luận án chỉ ra những mô típ huyền thoại tiêu biểu nào trong nghệ thuật biểu hiện của truyền kì?
Có 4 mô típ huyền thoại chính được phân tích: Mô típ hiển linh; Mô típ biến hình; Mô típ chinh phục cái chết (hồi sinh, đầu thai, tồn tại ở cõi khác); và Mô típ kết duyên kì lạ (hôn nhân người - tiên, người - ma, người - tinh vật).

5. Luận án rút ra kết luận gì về sự tương đồng và khác biệt khi đối chiếu truyền kì Việt Nam với truyền kì Trung Hoa?
Truyền kì Việt Nam tiếp thu các mô típ, kết cấu và tư duy huyền thoại từ truyền kì Trung Hoa (nhất là đời Đường, Tiễn đăng tân thoại đời Minh). Tuy nhiên, các tác giả Việt Nam đã tái tạo sáng tạo bằng cách bản địa hóa nhân vật, gắn không gian và thời gian nghệ thuật với lịch sử, địa lý nước Việt, thể hiện ý thức dân tộc và phản ánh đời sống tâm linh, tình cảm của con người Việt Nam.


Kết luận

Luận án Truyền kì Việt Nam thời trung đại từ góc nhìn huyền thoại (đối chiếu với truyền kì Trung Hoa thời trung đại) đã giải quyết một khoảng trống trong nghiên cứu văn học trung đại bằng việc vận dụng các lý thuyết huyền thoại học hiện đại. Tác phẩm làm sáng tỏ sự chuyển hóa của tư duy huyền thoại và nghệ thuật biểu hiện huyền thoại trong hệ thống văn xuôi tự sự chữ Hán của Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX. Qua việc đối chiếu với thần thoại dân gian và truyền kì Trung Hoa, luận án khẳng định quy luật tiếp biến văn học linh hoạt cùng bản sắc văn hóa dân tộc trong tiến trình phát triển của truyện truyền kì Việt Nam. Công trình có giá trị học thuật đối với nghiên cứu chuyên sâu và giảng dạy văn học trong nhà trường.