Luận văn thạc sĩ về trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Anh và tiếng Việt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh trợ từ nhấn mạnh trong tiếng anh có liên hệ với tiếng việt, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2014

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Phạm vi nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Mục đích nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa của luận văn

0.7. Bố cục luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Dẫn nhập

1.2. Cấu trúc thông tin và nhấn mạnh (hay tiêu điểm thông báo)

1.2.1. Phân biệt cấu trúc cú pháp với cấu trúc thông tin

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TRỢ TỪ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

3. CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG CỦA TRỢ TỪ NHẤN MẠNH GẮN VỚI THÀNH TỐ CỦA CÂU TRONG TIẾNG VIỆT LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trợ từ nhấn mạnh là một phần quan trọng trong ngữ pháp của cả tiếng Anh và tiếng Việt. Chúng giúp người nói nhấn mạnh thông tin, tạo ra sự chú ý và làm rõ ý nghĩa của câu. Việc nghiên cứu trợ từ nhấn mạnh không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngữ pháp mà còn giúp cải thiện kỹ năng giao tiếp trong cả hai ngôn ngữ. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Anh và tiếng Việt.

1.1. Định nghĩa và vai trò của trợ từ nhấn mạnh

Trợ từ nhấn mạnh là những từ được sử dụng để làm nổi bật một phần của câu. Chúng có vai trò quan trọng trong việc truyền đạt ý nghĩa và cảm xúc của người nói. Trong tiếng Anh, các trợ từ như 'do', 'does', 'did' thường được sử dụng để nhấn mạnh. Trong khi đó, tiếng Việt sử dụng các trợ từ như 'có', 'thì', 'mà' để thể hiện sự nhấn mạnh.

1.2. Tại sao nghiên cứu trợ từ nhấn mạnh lại quan trọng

Nghiên cứu trợ từ nhấn mạnh giúp người học hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp hiệu quả. Nó cũng giúp người dịch thuật nhận diện và sử dụng đúng các phương tiện nhấn mạnh trong quá trình dịch, từ đó nâng cao chất lượng bản dịch.

II. Vấn đề và thách thức trong việc sử dụng trợ từ nhấn mạnh

Mặc dù trợ từ nhấn mạnh rất quan trọng, nhưng việc sử dụng chúng đúng cách vẫn là một thách thức lớn đối với người học. Nhiều người gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa các trợ từ và không biết khi nào nên sử dụng chúng. Điều này có thể dẫn đến việc truyền đạt thông tin không chính xác hoặc gây hiểu lầm.

2.1. Những khó khăn phổ biến khi sử dụng trợ từ nhấn mạnh

Người học thường gặp khó khăn trong việc xác định vị trí và cách sử dụng trợ từ nhấn mạnh trong câu. Họ có thể không nhận ra rằng việc sử dụng sai trợ từ có thể làm thay đổi hoàn toàn ý nghĩa của câu.

2.2. So sánh giữa trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Anh và tiếng Việt

Mặc dù cả hai ngôn ngữ đều sử dụng trợ từ nhấn mạnh, nhưng cách thức và vị trí của chúng trong câu có thể khác nhau. Việc so sánh này giúp người học nhận diện được những điểm khác biệt và tương đồng, từ đó cải thiện khả năng giao tiếp.

III. Phương pháp nghiên cứu trợ từ nhấn mạnh hiệu quả

Để nghiên cứu trợ từ nhấn mạnh, cần áp dụng các phương pháp phân tích ngữ pháp và ngữ nghĩa. Việc sử dụng các ví dụ cụ thể từ văn bản sẽ giúp làm rõ cách thức hoạt động của trợ từ nhấn mạnh trong cả hai ngôn ngữ.

3.1. Phân tích ngữ pháp của trợ từ nhấn mạnh

Phân tích ngữ pháp giúp xác định vị trí và chức năng của trợ từ nhấn mạnh trong câu. Điều này bao gồm việc xem xét cấu trúc cú pháp và cách mà trợ từ tương tác với các thành phần khác trong câu.

3.2. Sử dụng ví dụ thực tế để minh họa

Sử dụng các ví dụ từ văn bản thực tế sẽ giúp người học dễ dàng hình dung và hiểu rõ hơn về cách sử dụng trợ từ nhấn mạnh. Các ví dụ này có thể được lấy từ văn học, báo chí hoặc các tài liệu học thuật.

IV. Ứng dụng thực tiễn của trợ từ nhấn mạnh trong giao tiếp

Việc hiểu và sử dụng đúng trợ từ nhấn mạnh có thể cải thiện đáng kể khả năng giao tiếp của người học. Nó không chỉ giúp truyền đạt thông tin một cách chính xác mà còn thể hiện được cảm xúc và ý định của người nói.

4.1. Cách sử dụng trợ từ nhấn mạnh trong giao tiếp hàng ngày

Trong giao tiếp hàng ngày, việc sử dụng trợ từ nhấn mạnh có thể giúp người nói nhấn mạnh ý kiến hoặc cảm xúc của mình. Điều này rất quan trọng trong các tình huống như thuyết trình, tranh luận hoặc khi muốn thể hiện sự đồng tình hoặc phản đối.

4.2. Tác động của trợ từ nhấn mạnh đến người nghe

Trợ từ nhấn mạnh không chỉ ảnh hưởng đến cách mà người nói truyền đạt thông tin mà còn tác động đến cách mà người nghe tiếp nhận thông điệp. Việc sử dụng đúng trợ từ có thể giúp người nghe hiểu rõ hơn về ý định của người nói.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trợ từ nhấn mạnh

Nghiên cứu trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Anh và tiếng Việt không chỉ giúp nâng cao chất lượng giao tiếp mà còn mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới. Việc hiểu rõ về trợ từ nhấn mạnh sẽ giúp người học cải thiện kỹ năng ngôn ngữ của mình.

5.1. Tóm tắt những điểm chính trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trợ từ nhấn mạnh đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt thông tin. Việc hiểu rõ về chúng sẽ giúp người học sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả hơn.

5.2. Hướng nghiên cứu tương lai về trợ từ nhấn mạnh

Các nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc phát triển các phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn cho trợ từ nhấn mạnh, cũng như khám phá thêm về sự khác biệt và tương đồng giữa các ngôn ngữ khác nhau.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh trợ từ nhấn mạnh trong tiếng anh có liên hệ với tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu của phát ngôn, được đánh dấu bởi vị trí đầu câu, tương đương với vị trí thông thường của chủ ngữ. Chính vị trí này đã góp phần làm cho cấu trúc đề - thuyết có thể được nhận vai trò cấu trúc cú pháp của câu trong một số ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ không biến hình. Khác với quan niệm của một số nhà Việt ngữ coi cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cú pháp, Halliday [63], [64] quan niệm đề và thuyết là các thành phần của một cú với tư cách là một thông điệp. Tuy nhiên Halliday cũng lưu ý rằng khi coi đề là điểm khởi đầu của thông điệp mà người nói lựa chọn, ta không thể được phép nhầm lẫn với thông tin cũ, thông tin mà người nói cho là người nghe đã biết và cấu trúc đề - thuyết không thể nhầm lẫn với cấu trúc thông tin cũ - mới mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây.

15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc thông tin cũ - mới: Theo Halliday cấu trúc đề - thuyết là sự lựa chọn theo người nói và cấu trúc thông tin cũ - mới là sự lựa chọn để phù hợp với người nghe. Có thể có những trường hợp hai sự phân chia này trùng nhau bởi vì thông thường thông tin mà người nói chọn để khởi đầu là thông tin cũ - thông tin mà người nghe đã biết – như trong ví dụ sau: (11) A: Cậu có thích ăn kem không? (12) B: Kem thì lúc nào mình cũng thích. Thông tin về “kem” trong câu trả lời là thông tin đã được nhắc đến trong câu hỏi - tức là thông tin cũ - và cũng là thông tin mà người nói chọn làm điểm khởi đầu cho câu trả lời của mình, tuy rằng người nói cũng có thể chọn lựa một cách trả lời khác: (13) A: Mình thì lúc nào cũng thích ăn kem.

(14) B: Lúc nào mình cũng thích ăn kem. Trong (12) người nói chọn cá nhân mình làm điểm xuất phát, và trong (13)thì người nói muốn chọn điểm xuất phát chính là thông tin mà người nghe chưa biết, nhằm nhấn mạnh phần đề, cũng chính là phần thông tin mới. Như vậy, trong (13) đề và thông tin cũ không trùng nhau. Cũng theo Halliday, có những trường hợp câu không có thông tin cũ nhưng bất kỳ phát ngôn nào cũng có điểm xuất phát, hay nói cách khác, câu luôn có đề.

Đây là kiểu câu mà truyền thống gọi là “câu tồn tại”, mà chức năng là giới thiệu một thực thể xuất hiện lần đầu trong diễn ngôn, ví dụ: (14) Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ có một gia đình nghèo…. Trong ví dụ trên, câu chứa toàn thông tin mới với điểm xuất phát là “ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ” và từ điểm xuất phát đó, giới thiệu sự tồn tại của một gia đình nghèo. Cách phân chia cấu trúc thông tin cũ - mới là cách phân chia theo trường phái Praha. Cách phân chia này phải được xét đến mối quan hệ với bối cảnh và người sử dụng.

Tuy nhiên, nói về thông tin cũ và thông tin mới, quan điểm của học giả khác nhau về nhận thức thế nào là mới, thế nào là cũ vẫn có chỗ khác nhau. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Halliday [63] mô tả thông tin cũ như là phần thông tin được người nói cho là có thể phục hồi được từ văn bản hay ngữ cảnh và một thông tin được gọi là mới thì là không phải vì nó không thể được đề cập đến trước đó, mặc dù thông thường thì nó chưa được đề cập đến, mà vì người nói trình bày nó như là không thể phục hồi được từ phần văn bản đi trước. Ủng hộ ý kiến này, Chafe [46] cho rằng vị thế cũ phải được giới hạn trong phạm vi kiến thức mà người nói cho là ở trong trạng thái nhận thức của người nghe tại thời điểm phát ngôn, ví dụ: (15) A: Anh gặp ai ngày hôm qua? B: Tôi gặp em gái anh ngày hôm qua. Theo quan điểm của Chafe và Halliday, có thể được xem là thông tin mới nếu người nói cho rằng em gái của người nghe không ở trong trạng thái nhận thức của người nghe vào thời điểm phát ngôn.

Mối quan hệ giữa tính chất thông tin cũ hay mới đối với người nghe hay đối với văn bản có thể được trình bày như sau: (i) Cũ với người nghe và cũ với văn bản: Đó là thông tin đã được gợi lên trong văn bản hiện dùng và do đó người nói tin là người nghe đã biết. (ii) Cũ với người nghe, nhưng mới với văn bản: Đó là thông tin chưa được gợi lên trong văn bản hiện dùng, nhưng người nói tin là người nghe đã biết. (iii) Mới với người nghe và mới với văn bản: Đó là thông tin chưa được gợi lên trong bản hiện dùng, và người nói tin là người nghe đã biết. (iv) Mới với người nghe và cũ với văn bản: Về mặt lý thuyết, đó là thông tin đã được gợi lên trong văn bản hiện dùng, nhưng người nói tin là người nghe chưa biết.

Tuy nhiên, (Prince 1981,tr.43), loại thông tin này không thể xuất hiện trong văn bản tự nhiên được. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm cũ / mới được Gundel [61] xác định theo hai lĩnh vực khác nhau: một thuộc lĩnh vực ngữ pháp và một thuộc lĩnh vực ngữ dụng và ngữ nghĩa tri nhận. Về mặt ngữ pháp, khái niệm cũ / mới gắn liền với tính quy chiếu trong ngôn bản hay trong suy nghĩ của người nói / người nghe. Về ngữ dụng, khái niệm cũ / mới gắn liền với tính quan hệ, theo đó ví dụ như khi có hai phần X và Y, thì X được cho là cũ, trong mối quan hệ với Y và Y được cho là mới trong mối quan hệ với X.

Với quan niệm này thì “she” trong ví dụ dưới đây được coi là cũ vì đã có quy chiếu trong văn bản nhưng là mới trong mối quan hệ với thông tin về “called”. (16) Who called? (Ai gọi thế ?) Pat said she called.1] Tóm lại, các nhà ngôn ngữ học đã có những cách tiếp cận khác nhau về sự phân đoạn thông tin cũ / mới: Thông tin cũ chúng tôi dùng trong luận văn này sẽ được hiểu theo nghĩa là thông tin cũ với người nghe và với văn bản (trường hợp (i) của Prince) và thông tin mới được hiểu là phần thông tin chưa được “gợi lên” trong văn bản (như của Halliday) hay có thể có quy chiếu trong văn bản nhưng không thể suy diễn được vì nó là phần thông tin mới trong mối quan hệ với thông tin cũ (như cách hiểu của Gundel). Do đó, theo chúng tôi, tính xác định của biểu thức không đi đôi với khái niệm cũ / mới về mặt thông tin. Để đạt được mục đích giao tiếp, phát ngôn thông thường phải chứa đựng thông tin mới.

Có những phát ngôn chỉ chứa thông tin mới mà không có thông tin cũ. Ví dụ: khi trả lời cho câu hỏi: “Có chuyện gì vậy?” câu trả lời: “Có hai thằng bé đánh nhau!” chỉ chứa đựng thông tin mới. Cấu trúc thông tin của một phát ngôn theo mô hình cũ - mới được coi là cấu trúc thông tin dưới góc độ dụng học vì nó cho biết thông tin về mối quan hệ của người nói và người nghe. Người nói phải tính đến người nghe trong một hoàn cảnh nào đó đã biết gì và muốn biết gì.

Ngoài các quan niệm về cấu trúc thông tin phân chia thành cấu trúc đề - thuyết hay thông tin cũ và thông tin mới, một phát ngôn còn cho biết về đối tượng của 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông báo và thông báo về đối tượng đó. Thông tin nêu ra trong trường hợp này là thông tin chủ đề và cũng sẽ là trọng tâm của luận văn chúng tôi về các phương tiện nhấn mạnh về mặt thông tin. Thông tin chủ đề Theo Dik [49, tr.92], thành tố có chức năng là chủ đề (topic) chỉ một thực thể mà người nói cho là người nghe đã biết, và là cái mà phần vị ngữ xác nhận về nó. Quan điểm về chủ đề cũng được Lambrecht [73, tr.131] tán thành khi ông cho rằng cái được gọi là chủ đề (topic) của một mệnh đề (proposition) là “cái” mà khi trong một tình huống đã cho mệnh đề đó được giải thích là nói về sở chỉ đó tức là mệnh đề đó diễn đạt thông tin thỏa đáng để tăng kiến thức của người nghe về sở chỉ này.

Ví dụ hai câu sau: (17a) Nhà gần hồ. (17b) Hồ gần nhà. Trong (17a), người nói / viết chọn “nhà” làm chủ đề và cung cấp thông tin về nó. Vậy, hai câu tuy có cùng một nội dung mệnh đề nhưng khác nhau về thông tin chủ đề, vì hai câu chọn lựa hai đối tượng thông báo khác nhau.

Theo định nghĩa của Lambrecht thì chủ đề là sở chỉ đã được đề cập đến mà người nói sẽ làm sáng tỏ thêm ở trong mệnh đề. Theo định nghĩa trên, thì đề (theme) và chủ đề (topic) rất có khả năng trùng nhau bởi vì khi chủ đề - cái đã được đề cập đến - nay lại được nhắc lại với những thông tin thỏa đáng thì thông thường được đặt ở vị trí đầu câu, và đó cũng là vị trí mà người nói lựa chọn để khởi đầu cho phát ngôn của mình. Dik [49] đưa ra một cách phân biệt về mặt hình thức giữa đề (theme) và chủ đề (topic): đó là đề (theme) thì phải tách ra về mặt cấu trúc với cú, còn chủ đề (topic) thì nhất thiết phải là một thành phần trong cấu trúc. Ông cũng chỉ ra rằng đề (theme) và chủ đề (topic) có thể khác biệt nhau trong cùng một câu như ví dụ ông dẫn ra: 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (18) As for Paris, the Eiffel Tower is really spectacular.

(Nói đến Paris thì phải nói tháp Eiffel thực sự ngoạn mục.) Trong ví dụ trên, theo Dik, “Paris” là đề (theme) và “the Eiffel Tower” là chủ đề (topic). Tuy nhiên ở đây chúng tôi nhận thấy rằng “the Eiffel Tower” chỉ có thể được coi là chủ đề khi trả lời cho câu hỏi: “The Eiffel is considered one of the seven wonders of the world, how is it regarded in Paris?” (Tháp Eiffe được coi là một trong bảy kỳ quan của thế giới, nó có giá trị thế nào ở Paris?) chứ không trả lời cho câu hỏi: “What is the most distinguished in Paris?” (Biểu tượng gì gây ấn tượng nhất ở Paris?) Một ví dụ khác mà Dik dẫn ra sự khác biệt giữa đề và chủ đề: (19) That man, I hate him.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Anh và tiếng Việt" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức trợ từ nhấn mạnh được sử dụng trong hai ngôn ngữ này. Nghiên cứu không chỉ phân tích cấu trúc ngữ pháp mà còn khám phá cách mà trợ từ ảnh hưởng đến ý nghĩa và cảm xúc trong giao tiếp. Điều này giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự khác biệt và tương đồng giữa tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp và viết lách của họ.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các khía cạnh ngôn ngữ học liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ tính tình thái trong tiếng anh và tiếng việt nghiên cứu từ góc độ tri nhận, nơi phân tích sự khác biệt trong cách sử dụng động từ khiếm khuyết giữa hai ngôn ngữ. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ english and vietnamese business complaint letters a comparative study from systemic functional perspectives sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức diễn đạt trong các bức thư khiếu nại kinh doanh. Cuối cùng, tài liệu A study on english passive voice in after twenty years with reference to vietnamese equivalents sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách sử dụng câu bị động trong tiếng Anh và các tương đương của nó trong tiếng Việt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và nâng cao kỹ năng ngôn ngữ của mình.