Nghiên Cứu Về Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp Tại Tỉnh Phú Thọ

Chuyên khảo phân tích Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh phú thọ, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

200
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

1.1.1. Tình hình nghiên cứu quốc tế

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

4. CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ, KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Trách Nhiệm Xã Hội tại Phú Thọ

Nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) không còn xa lạ trên thế giới, nhưng mới nổi lên ở Việt Nam trong quá trình hội nhập. Hội nhập mở ra cơ hội phát triển, nhưng cũng tạo ra thách thức cạnh tranh. CSR từ thiện nguyện đã trở thành yếu tố quyết định khả năng tiếp cận thị trường cao cấp. Doanh nghiệp cần chiến lược CSR để nâng cao năng suất, tăng lòng trung thành của nhân viên, và đóng góp vào sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm và chuyên gia về CSR, cũng như thiếu hành lang pháp lý. Đặc biệt, thiếu kiến thức về khái niệm, nội hàm và lợi ích của CSR. CSR không mới, nhưng vẫn hấp dẫn doanh nghiệp, nhà đầu tư, người tiêu dùng và xã hội. Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải tuân thủ các tiêu chuẩn về môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo nhân viên và phát triển cộng đồng.

1.1. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển CSR Phú Thọ

Phú Thọ có nền công nghiệp phát triển sớm, là cái nôi của công nghiệp các tỉnh phía Bắc. Các ngành công nghiệp đặc trưng là dệt, nhuộm, hóa chất, phân bón, giấy. Sau hơn một thế kỷ phát triển, Phú Thọ trở thành địa phương có nền kinh tế phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu kinh tế, Phú Thọ hiện nay là một địa phương có nền công nghiệp ô nhiễm xếp thứ 7 trong cả nước. Tình trạng đình công, tai nạn lao động, mâu thuẫn về quan hệ lao động có xu hướng gia tăng. Chưa có nghiên cứu chính thức nào về CSR được công bố, đặc biệt là những nghiên cứu có sử dụng điều tra xã hội học.

1.2. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu CSR Doanh Nghiệp Phú Thọ

Nghiên cứu về CSR tại Phú Thọ là cần thiết để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích doanh nghiệp với lợi ích của các bên liên quan, đặc biệt là môi trường và xã hội. Quan trọng hơn, nghiên cứu này nhằm tăng cường thực hiện CSR của doanh nghiệp, tăng cường nhận thức và sự hiểu biết về khái niệm, nội hàm CSR. Vì lý do đó, đề tài “Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” được lựa chọn để nghiên cứu cho luận án tiến sĩ.

II. Vấn Đề và Thách Thức CSR tại Doanh Nghiệp Phú Thọ

Tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, lợi ích và tăng trưởng kinh tế đang được ưu tiên hàng đầu, họ chấp nhận đánh đổi các vấn đề về xã hội, môi trường nên hầu hết tại các quốc gia này hiểu biết của doanh nghiệp và cộng đồng về TNXHDN còn hạn chế. Đặc biệt là ở đây DN mới chỉ nhìn thấy chi phí khi thực hiện TNXHDN phải bỏ ra mà chưa thấy được các lợi ích to lớn khác từ việc thực hiện TNXHDN mang lại. Phú Thọ là địa phương có nền công nghiệp phát triển từ khá sớm, là cái nôi của nền công nghiệp các tỉnh phía Bắc.

2.1. Ô nhiễm Môi Trường và Ảnh Hưởng Đến Phát Triển Bền Vững Phú Thọ

Các ngành công nghiệp đặc trưng và mũi nhọn của Phú Thọ hiện nay là công nghiệp dệt, nhuộm, hoá chất, phân bón, giấy. Trải qua hơn một thế kỷ phát triển công nghiệp với các ngành đặc trưng như trên Phú Thọ đã trở thành địa phương có nền kinh tế phát triển vượt bậc tại khu vực Đông Bắc. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu về kinh tế đạt được thì Phú Thọ hiện nay đã và đang trở thành một địa phương có nền công nghiệp ô nhiễm xếp thứ 7 trong cả nước.

2.2. Mâu Thuẫn Lao Động và Quyền Lợi Người Lao Động Phú Thọ

Trong những năm gần đây vẫn còn tình trạng đình công của người lao động, vẫn còn tai nạn lao động, các mâu thuẫn về mối quan hệ lao động giữa người lao động và chủ doanh nghiệp có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Đặc biệt tại đây, chưa có nghiên cứu chính thức nào về TNXH được công bố, đặc biệt là những nghiên cứu có sử dụng điều tra xã hội học.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu CSR và Đánh Giá tại Phú Thọ

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận án đã kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng nhằm khắc phục những hạn chế của từng phương pháp và gia tăng sự phong phú của nguồn dữ liệu trong nghiên cứu. Các phương pháp nghiên cứu định tính được NCS sử dụng bao gồm: Phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp tham vấn chuyên gia, phương pháp phân tích nội dung, phương pháp so sánh. Các phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng gồm: Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích hồi quy.

3.1. Phương Pháp Định Tính trong Nghiên Cứu CSR Phú Thọ

Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Hệ thống hoá các lý thuyết về TNXHDN dựa trên kế thừa các tài liệu tham khảo, các công trình nghiên cứu về TNXHDN trong và ngoài nước. Phương pháp tham vấn chuyên gia: Tham vấn các chuyên gia về TNXHDN về các trường phái lý thuyết, các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện TNXHDN và thang đo sử dụng trong mô hình nghiên cứu. Phương pháp phân tích nội dung: Sử dụng để phân tích và tính toán các chỉ tiêu ROA, ROE dựa trên báo cáo tài chính của các DN nghiên cứu.

3.2. Phương Pháp Định Lượng trong Đánh Giá CSR Phú Thọ

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA): Được sử dụng nhằm rút gọn một tập hợp gồm nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến ban đầu. Phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha: Phương pháp này cho phép kiểm tra những câu hỏi nào thực sự đóng góp cho việc đo lường các nhân tố.

IV. Thực Trạng Thực Hiện CSR của Doanh Nghiệp tại Phú Thọ

Nghiên cứu phản ánh rõ nét bức tranh thực trạng thực hiện TNXH với người lao động và môi trường tại các doanh nghiệp Phú Thọ, nghiên cứu đã chỉ ra các trách nhiệm này dù đã được doanh nghiệp biết đến và quan tâm nhưng thực hiện vẫn còn mang tính chất bị động và chưa nhận thức được những lợi ích từ việc làm này. Hai là, nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tác động giữa thực hiện TNXH với môi trường và người lao động với hiệu quả tài chính của DN và mối quan hệ này là tích cực, đồng thời có sự khác biệt về mối quan hệ này được kiểm soát bởi quy mô và số năm hoạt động của DN.

4.1. CSR với Người Lao Động Thực Trạng và Đánh Giá tại Phú Thọ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mặc dù các doanh nghiệp tại Phú Thọ đã biết đến và quan tâm đến trách nhiệm xã hội đối với người lao động, nhưng việc thực hiện vẫn còn mang tính chất bị động. Các doanh nghiệp chưa thực sự nhận thức được đầy đủ những lợi ích mà việc thực hiện CSR mang lại cho người lao động và cho chính doanh nghiệp.

4.2. CSR với Môi Trường Thực Trạng và Đánh Giá tại Phú Thọ

Tương tự như CSR với người lao động, việc thực hiện CSR với môi trường tại các doanh nghiệp Phú Thọ cũng còn nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc bảo vệ môi trường và chưa nhận thức được đầy đủ những tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất đến môi trường.

V. Tác Động của CSR đến Hiệu Quả Tài Chính Doanh Nghiệp Phú Thọ

Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tác động giữa thực hiện TNXH với môi trường và người lao động với hiệu quả tài chính của DN và mối quan hệ này là tích cực, đồng thời có sự khác biệt về mối quan hệ này được kiểm soát bởi quy mô và số năm hoạt động của DN. Kết quả này hàm ý có mối quan hệ khác nhau giữa DN siêu nhỏ, DN nhỏ và vừa với DN lớn, và có mối quan hệ khác nhau giữa DN mới hoạt động và DN đã hoạt động lâu năm khi thực hiện TNXHDN với người lao động và môi trường.

5.1. Mối Quan Hệ Giữa CSR và ROA của Doanh Nghiệp Phú Thọ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc thực hiện CSR có tác động tích cực đến ROA (Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản) của các doanh nghiệp tại Phú Thọ. Điều này cho thấy rằng, việc đầu tư vào CSR không chỉ mang lại lợi ích cho xã hội và môi trường, mà còn giúp doanh nghiệp tăng cường hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời.

5.2. Mối Quan Hệ Giữa CSR và ROE của Doanh Nghiệp Phú Thọ

Tương tự như ROA, việc thực hiện CSR cũng có tác động tích cực đến ROE (Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) của các doanh nghiệp tại Phú Thọ. Điều này càng khẳng định thêm rằng, CSR là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị và tạo dựng lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

VI. Giải Pháp Nâng Cao CSR cho Doanh Nghiệp tại Phú Thọ

Nghiên cứu đã đưa ra các khuyến nghị và kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước, với doanh nghiệp, với người lao động và nhằm tăng cường thực hiện TNXH trong thời gian tới. Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bên liên quan để tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc thực hiện CSR tại Phú Thọ.

6.1. Khuyến Nghị cho Doanh Nghiệp và Người Lao Động Phú Thọ

Doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách CSR, đồng thời tăng cường truyền thông về những lợi ích của CSR cho người lao động. Người lao động cần nâng cao nhận thức về CSR và tích cực tham gia vào các hoạt động CSR của doanh nghiệp.

6.2. Kiến Nghị cho Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước Phú Thọ

Cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về CSR, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện CSR của các doanh nghiệp. Cần có các chính sách khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện CSR.

06/06/2025
Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Chương 2: Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và khung nghiên cứu Chương 3: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Chương 4: Kiến nghị, khuyến nghị và kết luận 5 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Tình hình nghiên cứu quốc tế Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1953 khi Howard Rothmann Bowen công bố cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi ngƣời quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của ngƣời khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do DN làm tổn hại cho xã hội.

Sau đó là các nghiên cứu của Milton Friedman (1970); Carroll (1999); Kotler and Lee (2008), Fuller & Tian (2006), Garriga & Melé (2004), Jenkins (2006), Lantos (2001), Maignan & Ferrell (2001); Maignan & Ferrell (2005), Thompson, Smith & Hood (2001). Trong thời kỳ đầu, các nghiên cứu thƣờng xoay quanh các vấn đề nhằm làm rõ khái niệm và nội hàm của TNXHDN. Quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng rất khác nhau theo thời gian, cụ thể: (i) Quan niệm truyền thống hay của trƣờng phái cổ điển cho rằng TNXH cuối cùng của DN là tối đa hóa lợi nhuận và tạo ra giá trị cho các cổ đông trên cơ sở thực hiện kinh doanh có đạo đức và tuân thủ pháp luật. Đại diện tiêu biểu cho quan điểm này là Milton Friedman (1970).

Những ngƣời ủng hộ Friedman và trƣờng phái này cho rằng các DN không phải chịu trách nhiệm về toàn bộ xã hội, mà chỉ có các cá nhân mới phải chịu trách nhiệm này, trong khi các DN chỉ có trách nhiệm xã hội duy nhất là kinh doanh và sử dụng các nguồn lực của mình trong quá trình hoạt động để gia tăng lợi nhuận trong khuôn khổ của pháp luật, không có lừa dối và gian lận. Theo quan điểm truyền thống thì khía cạnh tài chính dƣờng nhƣ là động lực duy nhất để phát triển DN. Nếu cùng một lúc các nhà lãnh đạo phải thực hiện hiện hai trách nhiệm là vừa đạt đƣợc lợi nhuận, vừa đáp ứng đƣợc các TNXH thì rất có thể sẽ tạo ra sự mâu thuẫn về quyền lợi và tiềm ẩn nguy cơ xung đột về lợi ích giữa các bên liên quan, dẫn đến sự sụp đổ DN. Do đó, mục tiêu duy nhất của DN là tìm kiếm lợi nhuận cho các cổ đông mà không cần quan tâm đến các vấn đề xã hội đang cần.

Quan điểm trên, ngày nay không còn đƣợc quan tâm và ủng hộ do sự thay đổi chính sách phát triển kinh tế của thế giới và lợi ích chung của loài ngƣời, đặc biệt là 6 với sự phát triển công nghiệp ngày càng mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Ngày nay, ngoài trách nhiệm chính là tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tƣ và chủ sở hữu thì các DN còn phải thực hiện các trách nhiệm khác đối với xã hội, thực hiện hài hoà các lợi ích này thì DN mới có thể tồn tại và phát triển bền vững theo thời gian. Do đó, khái niệm TNXHDN đã đƣợc mở rộng vƣợt ra khỏi trách nhiệm về kinh tế. (ii) Theo quan điểm hiện đại, một số nhà nghiên cứu đã giới thiệu ý tƣởng về TNXH của những ngƣời kinh doanh ở phạm vi rộng hơn.

Trong giai đoạn này các nhà nghiên cứu cho rằng TNXHDN là bổn phận đối với môi trƣờng, các nhóm lợi ích và bổn phận về tài chính. Trong đó, các nhóm lợi ích bao gồm: các nhà đầu tƣ, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, chính phủ, các hiệp hội thƣơng mại, các nhóm bảo vệ môi trƣờng [50]. Đồng quan điểm này, rất nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp cận theo các khía cạnh khác nhau của TNXHDN. Tiêu biểu phải kể đến đó là các nghiên cứu của tác giả Archie Carroll (1999); R.

Đây là một mô hình có tính toàn diện và đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu ngày nay. Theo Carroll, các DN là những tác nhân kinh tế đƣợc tạo ra với mục đích cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng. Vì vậy, lợi nhuận là mục tiêu đầu tiên của DN, các trách nhiệm sau đó đều dựa trên trách nhiệm này (hình 1.1) Từ thiện Đạo đức Pháp lý Kinh tế (Nguồn: Archie Carroll, 1999) Hình 1.1: Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Archie Carroll Trong đó: Trách nhiệm kinh tế - Tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trƣởng là điều kiện tiên quyết bởi DN đƣợc thành lập trƣớc hết vì mục tiêu tìm kiếm 7 lợi nhuận của chủ sở hữu, các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của DN. Trong quá trình hoạt động các DN có trách nhiệm thực hiện luật pháp khi tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách công bằng.

Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai trách nhiệm không thể thiếu với việc thực hiện TNXHDN. Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị đƣợc xã hội chấp nhận nhƣng chƣa có trong luật pháp. Ngoài việc thực hiện các trách nhiệm pháp lý đƣợc quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thì DN cần phải thực hiện các cam kết ngoài luật. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện nhƣng lại là trung tâm của TNXH.

Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của DN vƣợt ra ngoài sự mong đợi của xã hội nhƣ quyên góp, ủng hộ cho ngƣời yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng, tự giác làm những việc có ích cho xã hội khi cần thiết. Trách nhiệm này khác trách nhiệm đạo đức là DN hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện. Nếu chƣa thực hiện đến trách nhiệm này, các DN vẫn đƣợc coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội mong đợi. Nhƣợc điểm của mô hình của Carroll (1999) là các trách nhiệm dƣờng nhƣ , đƣợc xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao và dƣờng nhƣ độc lập với nhau, trong khi đó trên thực tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hoá nhƣ , ngày nay, các trách nhiệm vẫn có thể lồng ghép, cùng thực hiện với nhau tại một thời điểm mà vẫn không bị xung đột hay ảnh hƣởng đến sự phát triển bền vững của DN.

 Nghiên cứu TNXHDN theo hướng các bên liên quan. Các bên liên quan đƣợc R. Freeman chia các bên liên quan thành hai nhóm chính là nhóm liên quan chủ yếu và nhóm liên quan thứ yếu. Nhóm liên quan chủ yếu gồm có: Khách hàng, nhà cung cấp, ngƣời lao động, các nhà tài trợ, cộng đồng.

Nhóm liên quan thứ yếu gồm: Chính phủ, các đối thủ cạnh tranh, nhóm ủng hộ ngƣời tiêu dùng, nhóm có lợi ích đặc biệt, giới truyền thông. Mối quan hệ giữa các bên hữu quan không phải bất biến 8 mà mang tính chất động, có thể thay đổi theo thời gian. Dựa trên lý thuyết của Freeman, Baron (1995) đã chia các bên liên quan thành hai nhóm, đƣợc gọi là thị trƣờng và phi thị trƣờng. Nhóm thị trƣờng gồm : Khách hàng, đối thủ cạnh tranh, , ngƣời lao động, đối tác và nhà cung cấp; nhóm phi thị trƣờng gồm: Các tổ chức phi chính phủ, chính phủ, nhà quản lý, môi trƣờng, giới truyền thông, xã hội hoặc cộng đồng.

Cả hai nhóm này đều có ảnh hƣởng đến các cấp độ khác nhau về áp lực hoặc động cơ TNXHDN cụ thể: Chính phủ, các cơ quan nhà nƣớc, các cổ đông của công ty có ảnh hƣởng đến việc ban hành các quyết định của công ty; các đối tác kinh doanh, ngƣời lao động giúp DN đạt những mục tiêu của mình; cộng đồng, giới truyền thông và các đối tƣợng khác ảnh hƣởng đến quá trình ra quyết định của DN [38]. Clackson cho rằng, các bên hữu quan có thể yêu cầu hoặc thực hiện quyền sở hữu đối với DN và ảnh hƣởng tới các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và tƣơng lai của DN [48]. Kotler và Lee lại cho rằng theo khái niệm tiếp thị xã hội, các nhà tiếp thị nên cân nhắc ba yếu tố khi đƣa ra chính sách marketing: Lợi nhuận của công ty, mong muốn của ngƣời tiêu dùng và lợi ích của xã hội [62]. (iii) Các nghiên cứu gần đây cho thấy, thuật ngữ TNXHDN đã đƣợc công nhận và ủng hộ ở hầu hết các tổ chức, tuy nhiên không có sự nhất trí chung nào về khái niệm và lý thuyết về TNXHDN, điều này đã tạo ra các rào cản cho các tổ chức tiếp cận các cơ hội và thách thức do TNXHDN mang lại.

Secchi cho rằng "cần có những nỗ lực mới hơn để giảm sự không đồng nhất giữa lý thuyết và cách tiếp cận TNXHDN" [104]. Lee cũng kết luận định nghĩa về TNXHDN đã và đang thay đổi trong ý nghĩa và thực tiễn [86]; nghiên cứu của Salmi Mohd Isa cho thấy, theo thời gian khi xã hội thay đổi thì yêu cầu về TNXHDN sẽ đƣợc đánh giá lại [103]. Tình hình nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu về TNXHDN thƣờng đƣợc tác giả dựa trên bốn cách tiếp cận: (1) theo mô hình kim tự tháp của A.Carroll (1999); (2) lý thuyết các bên liên quan; (3) theo quan điểm chiến lƣợc; (4) theo hƣớng chi phí - lợi ích, cụ thể: (1) Cách tiếp cận thứ nhất: theo mô hình kim tự tháp của A. Bằng phƣơng pháp định tính, dƣới góc độ phƣơng pháp luận triết học các tác giả này đã làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện TNXHDN, khẳng định TNXH 9 là tất yếu, khách quan đối với sự tồn tại và phát triển đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay.

Trên cơ sở thực trạng, các tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện TNXHDN. Sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu giống nhƣ các tác giả trên, đứng trên góc độ pháp luật tác giả Phạm Thị Huyền Sang đã nghiên cứu ba nhóm đối tƣợng trên cơ sở trách nhiệm quy định trong luật pháp về bảo vệ môi trƣờng; ngƣời tiêu dùng và ngƣời lao động; từ năm 2000 đến năm 2015 tại các DN của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nhận thức TNXH còn hạn chế, bản thân các DN còn thiếu nguồn lực cho việc thực hiện TNXH, các cơ chế quản lý của nhà nƣớc còn yếu kém và chƣa hiệu quả, các quy định của pháp luật về TNXH còn nằm rải rác và chƣa thống nhất, cơ chế giám sát của ngƣời dân về việc thực hiện TNXHDN còn chƣa cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp Tại Tỉnh Phú Thọ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội trong hoạt động của các doanh nghiệp tại Phú Thọ. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội mà còn chỉ ra những lợi ích mà doanh nghiệp có thể thu được từ việc áp dụng các chính sách này, như tăng cường lòng tin của khách hàng và cải thiện hình ảnh thương hiệu.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ tác động của trách nhiệm xã hội đến sự hài lòng của khách hàng trường hợp các doanh nghiệp ngành đồ uống nước giải khát ở tp hcm, nơi nghiên cứu mối liên hệ giữa trách nhiệm xã hội và sự hài lòng của khách hàng. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn những lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội csr của doanh nghiệp nghiên cứu trường hợp của tập đoàn siam cement scg sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các lợi ích cụ thể mà doanh nghiệp có thể đạt được từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Cuối cùng, tài liệu Quan điểm của người tiêu dùng về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nhanh tại việt nam sẽ cung cấp cái nhìn từ phía người tiêu dùng về trách nhiệm xã hội, từ đó giúp doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược của mình cho phù hợp hơn.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.