Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Chương 2: Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và khung nghiên cứu Chương 3: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Chương 4: Kiến nghị, khuyến nghị và kết luận 5 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Tình hình nghiên cứu quốc tế Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1953 khi Howard Rothmann Bowen công bố cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi ngƣời quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của ngƣời khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do DN làm tổn hại cho xã hội.
Sau đó là các nghiên cứu của Milton Friedman (1970); Carroll (1999); Kotler and Lee (2008), Fuller & Tian (2006), Garriga & Melé (2004), Jenkins (2006), Lantos (2001), Maignan & Ferrell (2001); Maignan & Ferrell (2005), Thompson, Smith & Hood (2001). Trong thời kỳ đầu, các nghiên cứu thƣờng xoay quanh các vấn đề nhằm làm rõ khái niệm và nội hàm của TNXHDN. Quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng rất khác nhau theo thời gian, cụ thể: (i) Quan niệm truyền thống hay của trƣờng phái cổ điển cho rằng TNXH cuối cùng của DN là tối đa hóa lợi nhuận và tạo ra giá trị cho các cổ đông trên cơ sở thực hiện kinh doanh có đạo đức và tuân thủ pháp luật. Đại diện tiêu biểu cho quan điểm này là Milton Friedman (1970).
Những ngƣời ủng hộ Friedman và trƣờng phái này cho rằng các DN không phải chịu trách nhiệm về toàn bộ xã hội, mà chỉ có các cá nhân mới phải chịu trách nhiệm này, trong khi các DN chỉ có trách nhiệm xã hội duy nhất là kinh doanh và sử dụng các nguồn lực của mình trong quá trình hoạt động để gia tăng lợi nhuận trong khuôn khổ của pháp luật, không có lừa dối và gian lận. Theo quan điểm truyền thống thì khía cạnh tài chính dƣờng nhƣ là động lực duy nhất để phát triển DN. Nếu cùng một lúc các nhà lãnh đạo phải thực hiện hiện hai trách nhiệm là vừa đạt đƣợc lợi nhuận, vừa đáp ứng đƣợc các TNXH thì rất có thể sẽ tạo ra sự mâu thuẫn về quyền lợi và tiềm ẩn nguy cơ xung đột về lợi ích giữa các bên liên quan, dẫn đến sự sụp đổ DN. Do đó, mục tiêu duy nhất của DN là tìm kiếm lợi nhuận cho các cổ đông mà không cần quan tâm đến các vấn đề xã hội đang cần.
Quan điểm trên, ngày nay không còn đƣợc quan tâm và ủng hộ do sự thay đổi chính sách phát triển kinh tế của thế giới và lợi ích chung của loài ngƣời, đặc biệt là 6 với sự phát triển công nghiệp ngày càng mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Ngày nay, ngoài trách nhiệm chính là tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tƣ và chủ sở hữu thì các DN còn phải thực hiện các trách nhiệm khác đối với xã hội, thực hiện hài hoà các lợi ích này thì DN mới có thể tồn tại và phát triển bền vững theo thời gian. Do đó, khái niệm TNXHDN đã đƣợc mở rộng vƣợt ra khỏi trách nhiệm về kinh tế. (ii) Theo quan điểm hiện đại, một số nhà nghiên cứu đã giới thiệu ý tƣởng về TNXH của những ngƣời kinh doanh ở phạm vi rộng hơn.
Trong giai đoạn này các nhà nghiên cứu cho rằng TNXHDN là bổn phận đối với môi trƣờng, các nhóm lợi ích và bổn phận về tài chính. Trong đó, các nhóm lợi ích bao gồm: các nhà đầu tƣ, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, chính phủ, các hiệp hội thƣơng mại, các nhóm bảo vệ môi trƣờng [50]. Đồng quan điểm này, rất nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp cận theo các khía cạnh khác nhau của TNXHDN. Tiêu biểu phải kể đến đó là các nghiên cứu của tác giả Archie Carroll (1999); R.
Đây là một mô hình có tính toàn diện và đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu ngày nay. Theo Carroll, các DN là những tác nhân kinh tế đƣợc tạo ra với mục đích cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng. Vì vậy, lợi nhuận là mục tiêu đầu tiên của DN, các trách nhiệm sau đó đều dựa trên trách nhiệm này (hình 1.1) Từ thiện Đạo đức Pháp lý Kinh tế (Nguồn: Archie Carroll, 1999) Hình 1.1: Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Archie Carroll Trong đó: Trách nhiệm kinh tế - Tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trƣởng là điều kiện tiên quyết bởi DN đƣợc thành lập trƣớc hết vì mục tiêu tìm kiếm 7 lợi nhuận của chủ sở hữu, các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của DN. Trong quá trình hoạt động các DN có trách nhiệm thực hiện luật pháp khi tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách công bằng.
Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai trách nhiệm không thể thiếu với việc thực hiện TNXHDN. Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị đƣợc xã hội chấp nhận nhƣng chƣa có trong luật pháp. Ngoài việc thực hiện các trách nhiệm pháp lý đƣợc quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thì DN cần phải thực hiện các cam kết ngoài luật. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện nhƣng lại là trung tâm của TNXH.
Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của DN vƣợt ra ngoài sự mong đợi của xã hội nhƣ quyên góp, ủng hộ cho ngƣời yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng, tự giác làm những việc có ích cho xã hội khi cần thiết. Trách nhiệm này khác trách nhiệm đạo đức là DN hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện. Nếu chƣa thực hiện đến trách nhiệm này, các DN vẫn đƣợc coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội mong đợi. Nhƣợc điểm của mô hình của Carroll (1999) là các trách nhiệm dƣờng nhƣ , đƣợc xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao và dƣờng nhƣ độc lập với nhau, trong khi đó trên thực tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hoá nhƣ , ngày nay, các trách nhiệm vẫn có thể lồng ghép, cùng thực hiện với nhau tại một thời điểm mà vẫn không bị xung đột hay ảnh hƣởng đến sự phát triển bền vững của DN.
Nghiên cứu TNXHDN theo hướng các bên liên quan. Các bên liên quan đƣợc R. Freeman chia các bên liên quan thành hai nhóm chính là nhóm liên quan chủ yếu và nhóm liên quan thứ yếu. Nhóm liên quan chủ yếu gồm có: Khách hàng, nhà cung cấp, ngƣời lao động, các nhà tài trợ, cộng đồng.
Nhóm liên quan thứ yếu gồm: Chính phủ, các đối thủ cạnh tranh, nhóm ủng hộ ngƣời tiêu dùng, nhóm có lợi ích đặc biệt, giới truyền thông. Mối quan hệ giữa các bên hữu quan không phải bất biến 8 mà mang tính chất động, có thể thay đổi theo thời gian. Dựa trên lý thuyết của Freeman, Baron (1995) đã chia các bên liên quan thành hai nhóm, đƣợc gọi là thị trƣờng và phi thị trƣờng. Nhóm thị trƣờng gồm : Khách hàng, đối thủ cạnh tranh, , ngƣời lao động, đối tác và nhà cung cấp; nhóm phi thị trƣờng gồm: Các tổ chức phi chính phủ, chính phủ, nhà quản lý, môi trƣờng, giới truyền thông, xã hội hoặc cộng đồng.
Cả hai nhóm này đều có ảnh hƣởng đến các cấp độ khác nhau về áp lực hoặc động cơ TNXHDN cụ thể: Chính phủ, các cơ quan nhà nƣớc, các cổ đông của công ty có ảnh hƣởng đến việc ban hành các quyết định của công ty; các đối tác kinh doanh, ngƣời lao động giúp DN đạt những mục tiêu của mình; cộng đồng, giới truyền thông và các đối tƣợng khác ảnh hƣởng đến quá trình ra quyết định của DN [38]. Clackson cho rằng, các bên hữu quan có thể yêu cầu hoặc thực hiện quyền sở hữu đối với DN và ảnh hƣởng tới các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và tƣơng lai của DN [48]. Kotler và Lee lại cho rằng theo khái niệm tiếp thị xã hội, các nhà tiếp thị nên cân nhắc ba yếu tố khi đƣa ra chính sách marketing: Lợi nhuận của công ty, mong muốn của ngƣời tiêu dùng và lợi ích của xã hội [62]. (iii) Các nghiên cứu gần đây cho thấy, thuật ngữ TNXHDN đã đƣợc công nhận và ủng hộ ở hầu hết các tổ chức, tuy nhiên không có sự nhất trí chung nào về khái niệm và lý thuyết về TNXHDN, điều này đã tạo ra các rào cản cho các tổ chức tiếp cận các cơ hội và thách thức do TNXHDN mang lại.
Secchi cho rằng "cần có những nỗ lực mới hơn để giảm sự không đồng nhất giữa lý thuyết và cách tiếp cận TNXHDN" [104]. Lee cũng kết luận định nghĩa về TNXHDN đã và đang thay đổi trong ý nghĩa và thực tiễn [86]; nghiên cứu của Salmi Mohd Isa cho thấy, theo thời gian khi xã hội thay đổi thì yêu cầu về TNXHDN sẽ đƣợc đánh giá lại [103]. Tình hình nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu về TNXHDN thƣờng đƣợc tác giả dựa trên bốn cách tiếp cận: (1) theo mô hình kim tự tháp của A.Carroll (1999); (2) lý thuyết các bên liên quan; (3) theo quan điểm chiến lƣợc; (4) theo hƣớng chi phí - lợi ích, cụ thể: (1) Cách tiếp cận thứ nhất: theo mô hình kim tự tháp của A. Bằng phƣơng pháp định tính, dƣới góc độ phƣơng pháp luận triết học các tác giả này đã làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện TNXHDN, khẳng định TNXH 9 là tất yếu, khách quan đối với sự tồn tại và phát triển đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay.
Trên cơ sở thực trạng, các tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện TNXHDN. Sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu giống nhƣ các tác giả trên, đứng trên góc độ pháp luật tác giả Phạm Thị Huyền Sang đã nghiên cứu ba nhóm đối tƣợng trên cơ sở trách nhiệm quy định trong luật pháp về bảo vệ môi trƣờng; ngƣời tiêu dùng và ngƣời lao động; từ năm 2000 đến năm 2015 tại các DN của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nhận thức TNXH còn hạn chế, bản thân các DN còn thiếu nguồn lực cho việc thực hiện TNXH, các cơ chế quản lý của nhà nƣớc còn yếu kém và chƣa hiệu quả, các quy định của pháp luật về TNXH còn nằm rải rác và chƣa thống nhất, cơ chế giám sát của ngƣời dân về việc thực hiện TNXHDN còn chƣa cao.