Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ" do tác giả Vũ Thị Phương Lan thực hiện dưới dạng Luận án Tiến sĩ thuộc nhóm ngành Kinh tế và Quản trị kinh doanh. Luận án giải quyết vấn đề thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) trong khu vực sản xuất công nghiệp tại một địa phương cụ thể của Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và áp lực gia tăng về bảo vệ môi trường cũng như quyền lợi của người lao động.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc ưu tiên tăng trưởng kinh tế thường dẫn đến việc đánh đổi các vấn đề xã hội và môi trường. Đa số doanh nghiệp chỉ nhìn nhận TNXH dưới góc độ chi phí phát sinh mà chưa thấy rõ lợi ích kinh tế lâu dài. Tỉnh Phú Thọ được xác định là cái nôi công nghiệp của các tỉnh phía Bắc với các ngành trọng điểm như hóa chất, phân bón, giấy, dệt và nhuộm. Tuy nhiên, theo số liệu từ báo cáo năm 2008 của Ngân hàng Thế giới (WB), Phú Thọ là địa phương có chỉ số ô nhiễm chung xếp thứ 7 và chỉ số ô nhiễm đất, nước xếp thứ 6 trong cả nước. Bên cạnh đó, tình trạng đình công, tai nạn lao động và tranh chấp lao động tại địa phương vẫn diễn biến phức tạp. Tại thời điểm nghiên cứu, trên địa bàn tỉnh chưa có công trình chính thức nào về TNXHDN sử dụng phương pháp điều tra xã hội học và phân tích định lượng được công bố.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích việc thực hiện TNXH của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, làm cơ sở xây dựng các kiến nghị và khuyến nghị nhằm tăng cường thực hiện TNXH của các doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy phát triển bền vững. Tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- (i) Xác định khoảng trống nghiên cứu thông qua việc tổng quan nghiên cứu trong nước và quốc tế;
- (ii) Phát triển khung nghiên cứu cho luận án;
- (iii) Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện TNXH tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, trong đó bao gồm kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ tác động giữa thực hiện TNXH đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp;
- (iv) Đưa ra các kiến nghị, khuyến nghị nhằm tăng cường thực hiện TNXH của các doanh nghiệp Việt Nam góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện TNXH của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp với hai đối tượng cụ thể là người lao động và môi trường.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2017 - 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước theo các trục nội dung chính:
Về các nghiên cứu TNXHDN nói chung trên bình diện quốc tế, tác giả điểm lại các mốc phát triển từ công trình năm 1953 của Howard Rothmann Bowen ("Trách nhiệm xã hội của doanh nhân"), quan điểm trường phái cổ điển của Milton Friedman (1970) cho rằng mục tiêu duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật, đến mô hình kim tự tháp 4 bậc của Archie Carroll (1999) gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Lý thuyết các bên liên quan được mở rộng qua các công trình của R. Edward Freeman (1984), Baron (1995), Clarkson (1995) và Kotler & Lee (2008). Các nghiên cứu gần đây của Secchi (2007), Lee (2008) và Salmi Mohd Isa tiếp tục khẳng định tính biến động của khái niệm TNXHDN theo thời gian và bối cảnh xã hội.
Về khía cạnh TNXH đối với người lao động, các học giả quốc tế như Albinger & Freeman (2000), Greening & Turban (2000), Brammer và cộng sự (2007), Peterson (2004), Lee, EM, Park & Lee HJ (2013), và Battaglia cùng cộng sự (2014) khảo sát 213 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ngành thời trang tại Ý và Pháp, tập trung vào tác động nội bộ của TNXH đến sự hấp dẫn tuyển dụng, cam kết tổ chức và năng suất lao động.
Về khía cạnh TNXH đối với môi trường, các nghiên cứu quốc tế của Hart (1995), Jamison và cộng sự (2005), Hansen & Mowen (2007), Kusku (2007), Lyon & Maxwell (2008), Kritkausky & Schmidt (2011 về tiêu chuẩn ISO 26000), Agata Lulewicz-Sas & Joanna Godlewska (2015 tại Ba Lan), và Cui Zhang (tại Trung Quốc) đã phân tích các tiêu chí đo lường chất thải, phát thải khí, tiêu thụ tài nguyên và vai trò của các kết nối chính sách. Báo cáo năm 2008 của Ngân hàng Thế giới (WB) đã cung cấp dữ liệu đánh giá thực trạng ô nhiễm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam.
Về mối quan hệ giữa thực hiện TNXH và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, tác giả chỉ ra ba luồng kết quả mâu thuẫn trong y văn quốc tế:
- Luồng quan điểm tác động tích cực: Mishra & Suar (2010 tại Ấn Độ), Sayed và cộng sự (2015 tại Iran), Udiale & Fagbemi (2012 tại Nigeria), Baird, Geylani & Roberts (2012), Asatryan & Brezinnová, Gras-Gil và cộng sự, Dan Dhaliwal và cộng sự (nghiên cứu tại 31 quốc gia), Wolfgang Drobertz và cộng sự, Yusoff, Mohamad & Darus, Patricia Crifo và cộng sự (khảo sát 10.293 công ty Pháp), Dessy Angelia & Rosita Suryamingsih (tại Indonesia), Famiyeh (tại Ghana), Hategan & Curea-Pitorac (2017 tại Romania), Jain, Vyas & Roy (2017), Wahba & Elsayed.
- Luồng quan điểm tác động tiêu cực: Wright & Ferris (dữ liệu 10 năm của 116 công ty), Cordeiro & Sarkis (mẫu 523 công ty Mỹ), Peng & Yang (tại Đài Loan).
- Luồng quan điểm trung lập hoặc không có mối quan hệ: Ullmann (1985), Abbott & Monsen (1979), Griffin & Mahon (1997), McWilliams & Siegel (mẫu 524 công ty trong 6 năm), Soana (2011 trong ngành ngân hàng).
Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả phân loại thành 4 hướng tiếp cận chính:
- Tiếp cận theo mô hình kim tự tháp của Carroll: Điển hình là nghiên cứu của Phạm Thị Huyền Sang (giai đoạn 2000-2015) phân tích góc độ pháp lý về môi trường, người tiêu dùng và lao động;
- Tiếp cận theo lý thuyết các bên liên quan: Nguyễn Thị Phương Mai (2015, ngành thực phẩm dựa trên mô hình TRA của Ajzen & Fishbein), Nguyễn Hồng Hà (ngành thức ăn chăn nuôi miền Bắc), Phạm Đức Hiếu (về công bố thông tin TNXH);
- Tiếp cận theo quan điểm chiến lược: Hoàng Thị Thanh Hương (khảo sát 185 DNNVV ngành may bằng SPSS 16);
- Tiếp cận theo hướng chi phí - lợi ích: Trần Thị Hoàng Yến (2016, khảo sát 168 nhà quản trị tại 38 ngân hàng thương mại Việt Nam bằng SPSS 22).
Ngoài ra, các nghiên cứu chuyên ngành khác gồm: Đào Quang Vinh (khảo sát 24 doanh nghiệp dệt may và da giày), Phạm Văn Đức (2009), Nguyễn Thị Thu Trang (2017), Phạm Văn Thuận (2010), Nigel Twose & Tara Rao, Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức & Nguyễn Đình Tài, Nguyễn Ngọc Thắng (nghiên cứu tại Tập đoàn FPT theo chuẩn ISO 26000), Phạm Việt Thắng (khảo sát 750 lao động dệt may qua mô hình SEM và SPSS 17.0), Châu Thị Lệ Duyên (khảo sát 392 doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long qua mô hình SEM), và khảo sát của Viện Khoa học Lao động và Xã hội (trên 24 doanh nghiệp dệt may, da giày ghi nhận doanh thu tăng 25%, năng suất lao động tăng từ 34,2 lên 35,8 triệu đồng/lao động/năm, tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97%).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ mô tả hiện tượng, tập trung vào phạm vi một ngành cụ thể (dệt may, thực phẩm, ngân hàng) hoặc chưa lượng hóa tác động của TNXH đến hiệu quả tài chính. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại địa bàn công nghiệp tỉnh Phú Thọ, tập trung chuyên sâu vào hai khía cạnh người lao động và môi trường, đồng thời kiểm định tác động đến các chỉ tiêu tài chính có sự kiểm soát của quy mô và số năm hoạt động.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng lập luận dựa trên các trường phái:
- Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) của R. Edward Freeman (1984), kết hợp các phát triển của Clarkson (1995), Mitchell và cộng sự (1997), Baron (1995) và Moir (2001). Luận án xác định người lao động là bên liên quan chủ yếu (nội bộ) và môi trường là thành tố phi thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp;
- Mô hình kim tự tháp TNXHDN của Archie Carroll (1999) gồm 4 tầng trách nhiệm: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện;
- Lý thuyết bộ ba cốt lõi bền vững (Triple-bottom line - TBL) của Elkington (1997) với ba trụ cột Kinh tế - Xã hội - Môi trường;
- Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence theory), Lý thuyết đạo đức kinh doanh (Business Ethics theory), và Lý thuyết lợi tức cổ đông (Shareholder Benefit theory của Milton Friedman);
- Định nghĩa chuẩn tắc được luận án lựa chọn là định nghĩa của Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì sự Phát triển Bền vững (WBCSD, 1999);
- Khung tiêu chuẩn quốc tế ISO 26000 với 7 chủ đề cốt lõi: quản trị tổ chức, nhân quyền, thực hành lao động, môi trường, hoạt động công bằng, các vấn đề người tiêu dùng, sự tham gia và phát triển cộng đồng.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp đồng thời phương pháp định tính và định lượng:
- Các phương pháp định tính:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Kế thừa, tổng hợp tài liệu học thuật trong và ngoài nước;
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia để điều chỉnh thang đo và các yếu tố ảnh hưởng;
- Phương pháp phân tích nội dung: Tính toán các chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nghiên cứu;
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu kết quả khảo sát giữa các nhóm đối tượng (lãnh đạo doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng);
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp 20 nhà lãnh đạo doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm nhận diện các rào cản thực tế.
- Các phương pháp định lượng:
- Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha;
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) kết hợp kiểm định Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) và Bartlett để rút gọn và gom nhóm các biến quan sát;
- Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS): Phân tích quan hệ giữa biến phụ thuộc là hiệu quả tài chính (ROA, ROE) với các biến độc lập là mức độ thực hiện TNXH với người lao động và môi trường thông qua hàm tuyến tính bậc 1, có xét đến các biến kiểm soát gồm quy mô doanh nghiệp và số năm hoạt động.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp công nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2017 - 2019, các báo cáo môi trường của Ngân hàng Thế giới (2008), số liệu thống kê của Viện Đánh giá Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ); dữ liệu sơ cấp thu được từ các bảng hỏi khảo sát lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động tại địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về TNXHDN. Tác giả phân tích các quan điểm học thuật từ khởi nguồn năm 1953 đến nay, đi sâu vào các khía cạnh TNXH đối với người lao động, môi trường và phát triển bền vững. Luận án phân tích chi tiết dữ liệu thực nghiệm từ các tác giả quốc tế để làm rõ tính tranh cãi về tác động của TNXH lên hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, chương này phân loại các công trình theo 4 hướng tiếp cận và chỉ ra thực trạng ô nhiễm môi trường công nghiệp tại tỉnh Phú Thọ dựa trên báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB, 2008), cụ thể tỉnh xếp thứ 7 về ô nhiễm chung và thứ 6 về ô nhiễm đất, nước; ngành phân bón tại Phú Thọ có chỉ số ô nhiễm không khí cao. Chương 1 kết luận bằng việc xác định rõ khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp công nghiệp tỉnh Phú Thọ, định hình mục tiêu cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và khung nghiên cứu
Chương 2 thiết lập nền tảng lý luận và mô hình nghiên cứu. Tác giả tổng hợp sự phát triển của khái niệm TNXHDN qua các thời kỳ:
| TT |
Tác giả |
Năm xuất bản |
Khái niệm TNXHDN tóm tắt trong luận án |
| 1 |
H. Bowen |
1953 |
Các chính sách, quyết định và hành động phù hợp với mục đích và giá trị của xã hội |
| 2 |
Milton Friedman |
1970 |
Doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông |
| 3 |
Keith Davis |
1973 |
Sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ |
| 4 |
Elkington |
1997 |
Dựa trên ba trụ cột Kinh tế - Xã hội - Môi trường (Triple-bottom line) |
| 5 |
Archie Carroll |
1999 |
Bao gồm tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện ở một thời điểm nhất định |
| 6 |
WBCSD |
1999 |
Cam kết đóng góp cho phát triển kinh tế bền vững, tuân thủ chuẩn mực môi trường, lao động, cộng đồng |
| 7 |
Matten và Moon |
2004 |
Khái niệm bao trùm (đạo đức kinh doanh, từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững, môi trường) |
| 8 |
Nhóm ISO 26000 |
2007 |
Trách nhiệm đối với tác động của quyết định và hoạt động đến xã hội, môi trường qua hành vi minh bạch, đạo đức |
Luận án phân tích vai trò của TNXHDN đối với bản thân doanh nghiệp, đối với nhà nước và phát triển bền vững 3 trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường). Dựa trên phỏng vấn sâu 20 lãnh đạo doanh nghiệp công nghiệp Phú Thọ, tác giả chỉ ra 4 rào cản lớn:
- Rào cản tài chính: Chi phí lương, cơ sở vật chất, công nghệ và xử lý chất thải trong khi 92% doanh nghiệp công nghiệp tại Phú Thọ là DNNVV có nguồn vốn hạn chế;
- Rào cản công nghệ: Dẫn số liệu từ Viện Đánh giá Khoa học và Công nghệ cho biết chỉ có 23% doanh nghiệp được điều tra có hoạt động đổi mới công nghệ do thiếu vốn và thiếu cơ chế bảo lãnh vay vốn;
- Rào cản hành lang pháp lý: Chính sách hỗ trợ còn phân tán, mức hỗ trợ thấp, thủ tục phức tạp và thiếu tính liên kết cụm ngành sản xuất;
- Rào cản tiếp cận thị trường.
Từ cơ sở lý thuyết, chương này xây dựng khung phân tích, thiết lập thang đo thực hiện TNXH với người lao động, môi trường và thiết kế mô hình hồi quy kiểm định tác động đến ROA, ROE.
Chương 3: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm. Sau khi khái quát điều kiện kinh tế - xã hội và cơ cấu các ngành công nghiệp mũi nhọn của Phú Thọ (dệt, nhuộm, hóa chất, phân bón, giấy), tác giả phân tích thực trạng thực hiện TNXH theo hình thức pháp lý, ngành nghề kinh doanh, quy mô và tình trạng niêm yết của doanh nghiệp.
Kết quả kiểm định định lượng của chương phản ánh:
- Thống kê mô tả mẫu khảo sát lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động;
- Kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) với kiểm định KMO và Bartlett, chứng minh tính thích hợp của tập biến quan sát;
- Kết quả phân tích hồi quy OLS khẳng định việc thực hiện TNXH với người lao động và môi trường có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp công nghiệp (thông qua hai chỉ tiêu ROA và ROE);
- Phân tích hồi quy kiểm soát chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ tác động theo quy mô doanh nghiệp (doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa so với doanh nghiệp lớn) và theo số năm hoạt động (doanh nghiệp mới hoạt động so với doanh nghiệp hoạt động lâu năm).
Đánh giá tổng kết thực trạng, tác giả chỉ ra các thành công và tồn tại: Các doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức về TNXH nhưng việc thực thi còn mang tính thụ động, chủ yếu nhằm đối phó với quy định pháp luật hoặc kiểm tra của cơ quan quản lý, chưa chủ động tích hợp TNXH vào chiến lược kinh doanh cốt lõi.
Chương 4: Kiến nghị, khuyến nghị và kết luận
Chương 4 tổng hợp các hàm ý từ kết quả nghiên cứu. Tác giả đề xuất các cơ sở xây dựng giải pháp và phân nhóm khuyến nghị cụ thể:
- Khuyến nghị đối với doanh nghiệp và người lao động: Xây dựng chiến lược TNXH dài hạn gắn với kế hoạch tài chính thực tế, đầu tư cải tiến công nghệ giảm thiểu chất thải, cải thiện môi trường làm việc, duy trì cơ chế đối thoại định kỳ giữa người sử dụng lao động và người lao động;
- Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ, tạo cơ chế ưu đãi về tín dụng và thuế đối với các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ sạch, minh bạch hóa cơ chế giám sát môi trường, xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia hướng dẫn báo cáo TNXH, và phát triển các cụm liên kết ngành công nghiệp;
- Trình bày đóng góp mới, các hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đóng góp vào việc hệ thống hóa và khái quát hóa cơ sở lý luận về TNXHDN trong bối cảnh các nước đang phát triển. Nghiên cứu xây dựng khung phân tích thực hiện TNXH với người lao động và môi trường áp dụng cho khối doanh nghiệp công nghiệp; chuẩn hóa hệ thống thang đo các biến quan sát theo chuẩn mực quốc tế (ISO 26000, WBCSD) phù hợp với thực tiễn Việt Nam; và thiết lập mô hình kiểm định tác động của TNXH đến hiệu quả tài chính có xét đến biến kiểm soát quy mô và thâm niên hoạt động.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh thực trạng về việc thực hiện TNXH của các doanh nghiệp công nghiệp tại tỉnh Phú Thọ. Nghiên cứu chứng minh bằng dữ liệu định lượng rằng thực hiện TNXH với người lao động và môi trường có mối quan hệ tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp (ROA và ROE). Đồng thời, luận án chỉ ra sự khác biệt về mức độ tác động này giữa các nhóm doanh nghiệp theo quy mô vốn/lao động và số năm hoạt động. Kết quả này cung cấp luận cứ thực chứng để các nhà quản trị doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án được xác định từ phạm vi nghiên cứu thực tế:
- Không gian nghiên cứu chỉ tập trung tại địa bàn một tỉnh (Phú Thọ), chưa khảo sát so sánh với các tỉnh công nghiệp lân cận;
- Nội dung nghiên cứu mới tập trung chủ yếu vào 2 nhóm đối tượng cốt lõi là người lao động và môi trường, chưa bao quát toàn bộ các bên liên quan khác như khách hàng, nhà cung ứng hay cộng đồng địa phương;
- Thời gian nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 2017 - 2019;
- Khả năng tiếp cận số liệu báo cáo tài chính chuẩn hóa của các DNNVV gặp khó khăn do tính minh bạch tài chính ở khu vực này chưa đồng đều.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các địa phương khác thuộc vùng Đông Bắc hoặc các trung tâm công nghiệp lớn của cả nước;
- Bổ sung các khía cạnh trách nhiệm xã hội khác theo tiêu chuẩn ISO 26000 như quản trị tổ chức, bảo vệ người tiêu dùng và hoạt động công bằng;
- Mở rộng kiểm định mô hình trên chuỗi thời gian dài hơn để đánh giá độ trễ tác động của TNXH đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển: Phần tổng quan tài liệu và hệ thống thang đo đánh giá TNXH (với người lao động và môi trường), quy trình xử lý dữ liệu qua Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy OLS là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nghiên cứu định lượng;
- Lãnh đạo và nhà quản trị các doanh nghiệp công nghiệp, đặc biệt là các DNNVV: Báo cáo phân tích 4 nhóm rào cản (tài chính, công nghệ, pháp lý, thị trường) và bằng chứng về tác động tích cực đến ROA, ROE giúp doanh nghiệp có cơ sở xây dựng kế hoạch cân đối chi phí và lợi ích;
- Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ và các cơ quan hoạch định chính sách): Các kiến nghị về hoàn thiện khung pháp lý, hỗ trợ đổi mới công nghệ và kiểm soát ô nhiễm cung cấp căn cứ thực tiễn cho việc ban hành chính sách hỗ trợ phát triển bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả lựa chọn các doanh nghiệp công nghiệp tại tỉnh Phú Thọ làm địa bàn nghiên cứu?
Phú Thọ là cái nôi công nghiệp lâu đời của các tỉnh phía Bắc với các ngành đặc trưng (hóa chất, phân bón, giấy, dệt, nhuộm) chiếm vị trí quan trọng trong vùng Đông Bắc. Tuy nhiên, theo báo cáo năm 2008 của Ngân hàng Thế giới, Phú Thọ đứng thứ 7 về chỉ số ô nhiễm chung và thứ 6 về ô nhiễm đất, nước trên toàn quốc. Bên cạnh đó, tình trạng tranh chấp lao động, tai nạn lao động và đình công vẫn xảy ra. Trước thời điểm nghiên cứu, tại địa bàn chưa có công trình chính thức nào sử dụng phương pháp điều tra xã hội học và định lượng về TNXHDN.
2. Mô hình nghiên cứu định lượng của luận án sử dụng các biến số nào?
Biến phụ thuộc là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, được đo lường qua hai chỉ tiêu: tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Biến độc lập là mức độ thực hiện TNXH với người lao động và mức độ thực hiện TNXH với môi trường. Biến kiểm soát trong mô hình bao gồm quy mô doanh nghiệp và số năm hoạt động của doanh nghiệp.
3. Khảo sát thực tế trong luận án chỉ ra những khó khăn chủ yếu nào của doanh nghiệp công nghiệp tại Phú Thọ khi thực thi TNXH?
Qua phỏng vấn sâu 20 lãnh đạo doanh nghiệp, tác giả tổng hợp 4 rào cản lớn:
- Khó khăn tài chính: Nguồn lực hạn chế trong khi các khoản chi cho tiền lương, bảo hộ, máy móc và xử lý chất thải rất lớn (đặc biệt khi 92% số doanh nghiệp công nghiệp tại địa phương là DNNVV);
- Khó khăn công nghệ: Dẫn chứng số liệu từ Viện Đánh giá Khoa học và Công nghệ cho biết chỉ 23% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới công nghệ;
- Khó khăn hành lang pháp lý: Chính sách hỗ trợ còn phân tán, mức hỗ trợ thấp, thủ tục rườm rà và thiếu tính liên kết chuỗi/cụm ngành;
- Khó khăn tiếp cận thị trường.
4. Luận án tổng hợp những luồng kết quả nghiên cứu quốc tế nào về mối quan hệ giữa TNXH và hiệu quả tài chính?
Luận án chỉ ra ba luồng kết quả mâu thuẫn trong y văn quốc tế: luồng thứ nhất khẳng định tác động tích cực (Mishra & Suar, Sayed và cộng sự, Udiale & Fagbemi, Crifo và cộng sự); luồng thứ hai tìm thấy tác động tiêu cực/nghịch chiều do chi phí TNXH làm giảm năng lực cạnh tranh ngắn hạn (Wright & Ferris, Cordeiro & Sarkis, Peng & Yang); luồng thứ ba kết luận mối quan hệ là trung lập hoặc không có ý nghĩa thống kê (Ullmann, McWilliams & Siegel, Soana).
5. Khái niệm TNXHDN nào được tác giả lựa chọn làm định nghĩa nền tảng cho luận án?
Tác giả ủng hộ và sử dụng định nghĩa của Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì sự Phát triển Bền vững (WBCSD, 1999): TNXHDN là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội.
Kết luận
Luận án của tác giả Vũ Thị Phương Lan là công trình nghiên cứu học thuật kết hợp phương pháp định tính và định lượng nhằm phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2017 - 2019. Bằng việc phân tích thang đo Cronbach's Alpha, EFA và mô hình hồi quy OLS, tác giả chứng minh mối quan hệ tác động tích cực của việc thực hiện TNXH đối với người lao động và môi trường lên hiệu quả tài chính (ROA, ROE), đồng thời xác nhận sự khác biệt được kiểm soát bởi quy mô và số năm hoạt động của doanh nghiệp. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống kiến nghị trong luận án cung cấp căn cứ khoa học cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược TNXH và hỗ trợ các cơ quan nhà nước hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp bền vững.