Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIỆM KY LUAT CUA VIÊN CHỨC 1. Khái quát chung về viên chức 1. Khái niệm viên chức Thuật ngữ viên chức được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau và được hình thành, phát triển theo các giai đoạn lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội cụ thé của Nhà nước (Nhà nước phong kiến, Nhà nước xã hội chủ nghĩa). Vì vậy, có giai đoạn thuật ngữ viên chức được quy định trong các van bản pháp luật, dung dé chỉ những người làm việc trong cơ quan, tô chức thuộc bộ máy nhà nước, tô chức xã hội; cũng có thời kỳ thuật ngữ này không được sử dụng rộng rãi, pháp luật cũng không có sự quy định cụ thê, có giai đoạn, thuật ngữ viên chức được hiểu va sử dụng đồng nhất với thuật ngữ công chức, cán bộ, cũng có thời kì cả ba thuật ngữ cán bộ, công chức, viên chức được sử dụng, quy định thống nhất trong cùng một văn bản (pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998); cũng có thời kỳ thuật ngữ cán bộ, công nhân viên, cán bộ, viên chức, công nhân viên.
được sử dụng để chỉ những đội ngũ những người làm việc trong các cơ quan, đơn vỊ, tô chức của nhà nước, tổ chức xã hội và cả ở các đơn vị kinh tế của nhà nước. Thực tế, thuật ngữ "viên chức” xuất hiện từ rất sớm, được quy định và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật của nhà nước, nó ra đời, ton tại trong đời sống xã hội và được sử dụng dé chỉ những người làm việc trong các cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội (trong các co quan, đơn vi và tổ chức của nhà nước, của tô chức chính trị, chính trị xã hội) và được quy định trong hệ thống các văn bản pháp luật ở nước ta như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân; Luật Tổ chức chính quyên địa phương, Luật Binh dang giới, Luật Bảo hiểm xã hội; Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công nghệ thông tin; Luật Dau thầu; Luật Công an nhân dân; Luật Cán bộ, công chức, Luật viên chức; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Giáo dục. Đây cũng là khái niệm quan trọng, cơ bản có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn dé nghiên cứu đề tài này đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Dé xem xét khái niệm viên chức một cách phù hợp, bảo đảm tính khách quan, có thê hiểu viên chức theo các cách tiếp cận trong một số quan niệm sau Trong các công trình nghiên cứu, có công trình quan niệm viên chức là: "người làm việc trong một cơ quan của nhà nước hay trong một sở tu".
Khái niệm này xuất phát từ quan niệm viên chức căn cứ vào tính đặc thù là nơi làm việc của người lao động (người làm việc trong cơ quan, tổ chức), nên việc nhận biết được các đặc trưng khác của viên chức rất khó tiếp cận và nó có thê dẫn đến sự đồng nhất đối với những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, trừ những người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động, tạm tuyên. đều là viên chức. Trong Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp do Nhà xuất bản Tư pháp phát hành thì khái niệm viên chức được hiểu là người làm việc trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân được tuyển dụng, bồ nhiệm vào một ngạch hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vi sự nghiệp của nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và nguồn thu từ đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật. Giáo trình Luật hành chính, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2017 đưa ra khái niệm về viên chức tương đối đầy đủ và thể hiện khái quát được những quy định của Luật viên chức năm 2010.
Đó là: Viên chức là công dân Việt Nam, có đủ yêu cầu, điều kiện về chuyên môn, chứng chỉ.được tuyên dụng theo vi trí việc làm va làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập hoặc từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Viện Ngôn ngữ học - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (1992), Tir điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ học, tr. Viện Khoa học Pháp lý (2006), Tir điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. Trường Dai học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Ha Nội, tr.
Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Ha NoiVién chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bô nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đôi, bô sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29/4/2003, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật. Bên cạnh những quan niệm về viên chức nêu trên, Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi bổ sung năm 2003) và Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dung, sử dung và quản ly công chức. Nhìn chung, các văn bản này thể hiện bước tiễn quan trọng khi đã quy định, đối tượng, phạm vi điều chỉnh đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành công vụ, nhiệm vụ. Nhưng các văn bản này đều chưa phân định công chức.
Đến năm 2000, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh sửa đổi bô sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998, một sỐ quy định được bồ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế. Song, trách nhiệm pháp lý của viên chức vẫn được quy định tản mạn trong nhiều văn bản chuyên biệt như: Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nha nước; người có thầm quyền của co quan tiến hành tô tụng gây ra; Pháp lệnh chống tham những 1998; Nghị định số 97/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức. Dưới góc độ pháp lý, khi nghiên cứu cần xem xét khái niệm viên chức được tiếp cận ở những góc độ khác nhau. Có thể xem xét quan niệm sau: Theo Từ điển Luật học, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Tư pháp đưa ra khái niệm: Viên chức là người làm việc trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân được tuyển dụng, 4.
Nguyễn Cửu Việt (2005), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. bồ nhiệm vào một ngạch hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và nguồn thu từ đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật ”. Đồng thời, viên chức phải là người được tuyên dung theo vi trí việc làm, làm việc tại đơn vi sự nghiệp công lập. Đó là những người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, dao tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thê thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên - môi trường, dịch vụ.
như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học.; làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo Điều 2 Luật viên chức năm 2010: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hop đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của don vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo khái niệm viên chức được quy định tại Điều 2 Luật viên chức năm 2010 thì viên chức ở nước ta được xác định như sau: Viên chức được hình thành thông qua hình thức tuyển dụng (có thể qua thi tuyển hoặc xét tuyên), thông qua việc ký kết hợp đồng làm việc. Như vậy, viên chức được tuyên dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, được bố nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp tại các đơn vi sự nghiệp công lập.
Nơi làm việc của viên chức là các đơn vi sự nghiệp công lập, nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, cung cấp các dịch vụ công về văn hóa, y tế, giáo dục. cho công dân, tổ chức theo quy định của pháp luật. Quy định này làm nổi bật sự khác biệt chế độ làm việc của viên chức. Viên chức nhà nước đã thoát ly ra khỏi bộ máy công quyên, không thực hiện quyền lực công nhà nước, mà là người thay mặt nhà nước cung cấp những dịch vụ thiết yếu cho nhân dân - dịch vụ công, thực hiện các công việc 5.
Viện Khoa học Pháp lý (2006), Tử điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 854 10 hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vi sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo duc, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thé dục thé thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên môi trường, dịch vụ. như bác sĩ, giáo viên, giảng viên, nghiên cứu viên. Với việc định nghĩa viên chức bao gồm những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ công cho thấy các dịch vụ được viên chức cung ứng theo quy định của Luật viên chức được tiếp cận từ góc độ hành chính, quản lý nhà nước.
Công việc mà viên chức đảm nhiệm là những nhiệm vụ, công việc cụ thê gan với chuyên môn nghiệp vụ, day là một trong các điểm khác biệt cơ bản của công chức với viên chức. Viên chức đảm nhận nhiệm vụ với quy định về yêu cau, chất lượng chuyên môn nghề nghiệp cụ thé. Tính nghề nghiệp thể hiện ở viên chức thường xuyên thực hiện một dịch vụ công theo nghiệp vụ chuyên môn mà viên chức đó đảm nhiệm.