LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, năng lượng và môi trường là hai vấn đề được quan tâm hàng đầu trên thế giới. Nguồn nhiên liệu hóa thạch từ than đá, dầu mỏ, khí đốt đang dần cạn kiệt. Trong khi đó, tình hình gia tăng dân số bùng nổ ở nhiều quốc gia dẫn đến nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng tăng. Bên cạnh tình hình bất ổn về năng lượng, môi trường cũng là một vấn đề nhức nhối đang được nhắc đến hàng ngày.
Lượng phát thải khí CO2 từ việc sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng tăng dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu. Những năm qua, trên trái đất, sự cảnh báo từ thiên nhiên ngày càng đáng sợ hơn, hiện tượng băng tan ở hai cực, nhiệt độ bình quân trên trái đất ngày càng tăng, lũ lụt, hạn hán, thiên tai … Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi chúng ta phải tìm ra một nguồn năng lượng thay thế thân thiện với môi trường. Nhiều dạng năng lượng tái tạo đang được nghiên cứu và phát triển để thay thế cho nhiên liệu hóa thạch nhưng nổi trội hơn hết là pin nhiên liệu màng trao đổi proton (PEMFC). Pin PEMFC có nhiều ưu điểm vượt trội như hiệu quả hoạt động cao, không sinh ra những khí độc hại, có thể tạo được nhiều mức năng lượng đáp ứng cho nhiều loại thiết bị khác nhau trong đời sống [1,2].
Tuy nhiên, hiện nay pin PEMFC đang gặp phải một vấn đề mà được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và tìm hướng khắc phục – đó là sự ăn mòn nghiêm trọng carbon (chất mang xúc tác Pt) bên điện cực catot của pin PEMFC [3,4,5]. Sự ăn mòn carbon dẫn đến sự hao hụt Pt, kết tụ Pt trên chất mang làm giảm hiệu quả hoạt động của pin PEMFC, tốn chi phí. Gần đây, vật liệu noncarbon được đánh giá là có khả năng đáp ứng các điều kiện về diện tích bề mặt riêng, độ dẫn điện, độ bền trong môi trường hoạt động của pin PEMFC và mức độ liên kết chặt chẽ với Pt để làm chất mang thay thế carbon [3]. Từ ý tưởng trên chúng tôi nhận thấy tin-doped indium oxide (ITO) là một vật liệu noncarbon lý tưởng có khả năng đáp ứng được các yêu cầu để làm chất mang Pt cho điện cực catot của pin PEMFC.
ITO là vật liệu tin được gắn vào trong cấu trúc của indium(III) oxide để kết hợp ưu điểm của cả tin dioxide và indium(III) oxide. Tin 1 dioxide được chứng minh là có tương tác bền chặt với kim loại Pt [6], trong khi đó indium(III) oxide thì có độ dẫn điện cao, bền trong môi trường hoạt động của pin PEMFC [7]. Do đó, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: “Nghiên cứu quá trình tổng hợp và tính chất vật liệu Tin doped Indium oxide” với mục tiêu tổng hợp được vật liệu tin doped indium oxide và khảo sát tính chất diện tích bề mặt riêng và độ dẫn điện của vật liệu. TỔNG QUAN CHƢƠNG 1.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về pin nhiên liệu màng trao đổi proton (PEMFC) Một trong những loại pin nhiên liệu được nghiên cứu và ứng dụng nhiều nhất hiện nay là pin nhiêu liệu màng trao đổi proton (màng poly-perfluorocarbon sulfonate chỉ cho proton đi qua). PEMFC được sử dụng lần đầu tiên vào những năm 1960 trong chương trình NASA Gemini. PEMFC hiện nay đã được ứng dụng rộng rãi từ những thiết bị cầm tay như điện thoại, máy tính xách tay cho đến những sản phẩm có kích thước và năng lượng lớn hơn như xe hơi, xe buýt, tàu thủy, trạm cung cấp nhiệt.
PEMFC có nhiều ưu điểm như vận hành ở nhiệt độ thấp (khoảng 80oC), hiệu quả sử dụng năng lượng cao (khoảng 50%) và thời gian khởi động nhanh. Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiên liệu hydrogen thì sẽ không làm phát thải khí CO2 và các chất khí độc hại cho môi trường như NO2, SO2 và CO [8,9]. Cấu tạo bên trong của pin PEMFC gồm điện cực anot chứa nhiên liệu hydrogen (thường là khí thiên nhiên) và điện cực catot chứa oxygen (thường là không khí). Hai điện cực được tách nhau bởi một màng điện phân không dẫn electron, không thấm khí và chỉ cho proton H+ đi qua.
Bề mặt tiếp xúc với lớp màng điện phân được phủ lớp xúc tác Pt cho cả quá trình khử và oxy hóa ở hai bên điện cực catot và anot. Kế bên lớp xúc tác là lớp khuếch tán khí dẫn điện và có lỗ xốp cho phép các dòng chất khí phản ứng (hydrogen và oxygen) di chuyển đến lớp xúc tác để thực hiện các phản ứng và sản phẩm tạo ra (H2O) có thể thoát ra ngoài. Bên trong lớp khuếch tán khí được bố trí các kênh dẫn khí để phân phối hydrogen và oxygen đến bề mặt lớp màng. Bản chất của pin nhiên liệu PEMFC là quá trình chuyển hóa năng lượng sinh ra từ phản ứng tỏa nhiệt giữa hydrogen và oxygen để tạo thành dòng điện (Phương trình 1.1) và tạo ra sản phẩm phụ là nước.1) Tuy nhiên, quá trình phản ứng không đơn giản như phương trình nêu trên.
Phản ứng được chia thành hai quá trình nhỏ. Đầu tiên, từ đầu vào bên phía điện cực anot, phân tử hydrogen H2 khuếch tán qua lớp khuếch tán khí và tới bề mặt lớp xúc tác. Tại đây, phân tử hydrogen nhường electron để trở thành ion dương (proton H+) theo phương trình 1. Tiếp đến ion H+ sẽ đi qua lớp màng điện phân để đến điện cực catot, trong khi đó thì các electron lại không đi qua được và phải theo các kênh khí trong lớp khuếch tán khí để đi theo mạch ngoài qua bên điện cực catot.
Chính nhờ sự di chuyển của electron giúp tạo ra dòng điện cho pin nhiên liệu. Tại điện cực catot, oxygen được đưa vào pin nhiên liệu thông qua lớp khuếch tán khí và tới bề mặt lớp xúc tác với sự có mặt của Pt, H+ và electron, quá trình phản ứng xảy ra theo phương trình 1.5 để tạo ra nước. Nước khuếch tán ngược qua lớp khuếch tán khí và theo các kênh dẫn khí đi ra ngoài. Bên cạnh đó nhiệt sinh ra từ các phản ứng điện hóa cũng được làm nguội nhờ hệ thống làm lạnh tuần hoàn ở lớp dĩa dẫn nhiệt.5) 4 Động cơ điện Lớp xúc tác bên anot Lớp xúc tác bên catot H2 4H+ +4e- O2 + 4H+ +4e- 2H2O Dĩa lưỡng cực Dĩa lưỡng cực Lớp khuếch Màng điện Lớp khuếch tán khí phân tán khí Tâm phản ứng anot Tâm phản ứng catot Hình 1.
Sơ đồ cấu tạo và hoạt động của pin PEMFC. * Trích từ: Internet: http://www. Những thách thức đối với pin nhiên liệu màng trao đổi proton Mặc dù pin PEMFC là năng lượng thân thiện với môi trường có nhiều ưu điểm và thu hút nhiều sự quan tâm để thay thế cho nhiên liệu hóa thạch, nhưng PEMFC vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và một trong những vấn đề quan trọng là tìm xúc tác có độ bền và độ hoạt động cao cho phản ứng khử oxy ở điện cực catot. Xúc tác cho điện cực catot của PEMFC thương mại hiện nay hầu như là Pt đính trên chất mang carbon (Pt/C) [13].
Carbon là chất mang có nhiều ưu điểm như diện tích bề mặt lớn để phân tán các hạt nano kim loại, cấu trúc lỗ xốp giúp vận chuyển chất phản ứng, sản phẩm và khả năng dẫn điện tốt thích hợp ứng dụng cho các phản ứng điện hóa [14]. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì carbon vẫn còn những hạn chế cần được cải tiến. Tương tác yếu giữa kim loại và carbon dẫn đến kim loại Pt sẽ bị phá hủy theo nhiều cơ chế. Pt có thể bị kết tụ trên chất mang carbon bởi vì ở kích thước nano, các 5 hạt Pt có xu hướng kết dính với nhau để tạo các hạt lớn hơn để giảm năng lượng bề mặt.
Sự kết tụ Pt làm giảm diện tích bề mặt hoạt động ảnh hưởng đến hiệu quả xúc tác trong quá trình hoạt động của pin nhiên liệu (Hình 1. Bên cạnh đó, trong điều kiện hoạt động của pin nhiên liệu, Kawahara và nhóm nghiên cứu của ông đã chứng minh rằng Pt có thể bị hòa tan thành ion Pt2+ hay Pt4+ ở hai bên điện cực theo các phương trình 1.8:[5] Catot Pt Pt4+ + 4e- (1.7) Anot PtO2 + 4H+ + 2e- Pt2+ + 2H2O (1.8) Thêm vào đó, độ bền của carbon trong môi trường oxi hóa của pin nhiên liệu PEMFC cũng là vấn đề hạn chế nghiêm trọng. Trong quá trình hoạt động, carbon sẽ bị ăn mòn dần theo phản ứng oxi hóa không hoàn toàn (phương trình 1.9) hoặc là oxi hóa hoàn toàn (phương trình 1.10) Sự ăn mòn carbon có thể do nhiều yếu tố như thế hoạt động của pin, diện tích bề mặt carbon hay độ ẩm tương đối trong pin. Nhưng thế điện hóa có thể là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.
Nhóm nghiên cứu của Kangasniemi [19] đã đưa ra các bằng chứng cho thấy sự oxi hóa bề mặt xảy ra đối với carbon Vulcan khi thế điện hóa là 0,8 V ở 65oC thì cao hơn 1,0 V tại nhiệt độ phòng. Vì vậy quá trình ăn mòn carbon ở bên điện cực catot của pin xảy ra nghiêm trọng hơn. 6 Kết tụ Hòa tan Chất mang carbon Tinh thể Pt + Ru Carbon Carbon bị ăn mòn Sự mất mát Pt và Ru Chất nền Hình 1. Hiện tƣợng Pt bị kết tụ trên chất mang carbon và carbon bị ăn mòn.
[3,4] Những hạn chế kể trên đòi hỏi phải tìm kiếm vật liệu mới bền trong môi trường catot của pin PEMFC, có khả năng dẫn điện tốt, có bề mặt riêng lớn và khả năng tương tác tốt với Pt để thay thế cho carbon. Vật liệu nền không carbon (noncarbon) đang nhận được nhiều sự quan tâm để làm chất mang thay thế cho carbon do đáp ứng được các yêu cầu kể trên [3]. Vật liệu nền không carbon (noncarbon) cho pin PEMFC Để giải quyết sự ăn mòn carbon trong pin nhiên liệu và khả năng tương tác yếu với Pt của carbon, nhiều vật liệu không carbon đã được nghiên cứu như nitrides, carbides, mesoporous silicas, polymers dẫn điện và oxides kim loại nhằm thay thế carbon. Để làm chất mang xúc tác trong pin nhiên liệu, vật liệu làm chất mang đòi hỏi 7 phải có những tính chất như độ dẫn điện tốt, khả năng chống ăn mòn cao trong điều kiện hoạt động của pin nhiên liệu, phân bố kích thước hạt đồng đều, diện tích bề mặt riêng lớn, lực liên kết với các hạt xúc tác bền vững.
Gần đây, vật liệu oxide kim loại dẫn điện nổi lên như là một đại diện tiềm năng trong số các vật liệu noncarbon nhờ đáp ứng tương đối các yêu cầu của một chất mang xúc tác cho pin nhiên liệu [3].