MỞ ĐẦU Chalcone là một trong những flavonoid có nhiều hoạt tính sinh học hàng đầu gồm 2 vòng benzene và một chuỗi gồm 3 carbon không no liên kết giữa chúng. Chalcone có tiềm năng lớn trong nhiều lĩnh vực nhƣ y học, công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm,… cho nên mối quan tâm đến những hoạt tính sinh học hay ứng dụng của chúng trong một số lĩnh vực đã tăng lên đáng kể trong thời gian gần đây. Các dẫn xuất của chalcone có rất nhiều hoạt tính sinh học bao gồm tác dụng diệt côn trùng, chống ung thƣ, diệt nấm, chống khối u, chống sốt rét, chống viêm[33], kháng khuẩn[27], kháng virus[20] ngoài ra còn có nhiều hoạt tính sinh học khác của chalcone có tiềm năng chống lại nhiều loại bệnh cụ thể khác nhau. Chalcone có nhiều hoạt tính sinh học và là một trong những tiền chất sinh học quan trọng của flavonoid và isoflavonoid [37] để tổng hợp flavone cùng rất nhiều hợp chất khác nữa.
Vậy nên hóa học về chalcone luôn thu hút các nhà khoa học do khả năng thay đổi cấu trúc để tạo thành một số nhóm hợp chất nhƣ azachalcone[13], isoxazole[35], pyrazole[38] đồng thời các phƣơng pháp tổng hợp chalcone cũng đƣợc đƣa ra từ rất sớm nhƣ phản ứng Claisen-Schmidt, phản ứng Wittig, tổng hợp chalcone từ các base Schiff, tổng hợp chalcone từ các hợp chất cơ kim, tổng hợp chalcone từ các dẫn xuất α, β –dibromochalcone, phản ứng quang hóa thông qua chuyển vị Fries cùng với một số phƣơng pháp thực hiện phản ứng từ thủ công nhƣ nghiền, khuấy cho đến một số phƣơng pháp hiện đại nhƣ siêu âm, lò vi sóng,… Chalcone và các dẫn xuất ngày càng đƣợc ứng dụng rộng rãi và ngày càng cho thấy nhiều tác dụng có lợi cho nhiều lĩnh vực và việc tổng hợp và nghiên cứu các tính chất của chalcone và dẫn xuất của chalcone là điều cần thiết. Để góp phần vào việc nghiên cứu hóa học các dẫn xuất của chalcone, trong khóa luận này em đã thực hiện một số nhiệm vụ chính nhƣ sau: 1 Tổng hợp 1 loạt các chalcone thế có gắn nhóm propargyloxy (18 chất) Tiến hành chuyển hóa các chalcone có gắn nhóm propargyloxy với phân tử 2,3,4,6-tetra-O-acetyl-β-D-glucopyranose azide bằng phản ứng Click. Chuyển hóa hệ liên hợp của chalcone bằng phản ứng đóng vòng với thiourea để thu đƣợc các dẫn xuất của pyrimidine-2-(1H)-thione (5 chất). Chuyển hóa hệ liên hợp của chalcone bằng phản ứng đóng vòng với malononitrile trong amonium acetate để tạo thành các dẫn xuất của 2-amino- 3-cyanopyridine (7 chất).
So sánh và đánh giá khả năng phản ứng của các hợp chất trên Đánh giá các kết quả thu đƣợc bằng các phƣơng pháp phổ hiện đại Chƣơng 1 : TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về chalcone Thuật ngữ “chalcone” đƣợc đặt ra bởi Kostanecki và Tambor năm 1899, chalcone thuộc họ flavonoid [25]. Chalcone là ketone không no gồm 2 vòng thơm liên kết với nhau bởi 3 nguyên tử carbon là nhóm carbonyl và 2 nguyên tử cacbon α, β không no. Nó tồn tại ở 2 dạng đồng phân cis và trans mà trong đó ổn định hơn về mặt nhiệt động học là đồng phân trans[26, 47]. Chalcone đƣợc coi là tiền chất sinh học cho flavonoid và isoflavonoid, có nhiều trong thực vật ăn đƣợc.
Chúng đƣợc coi là chất đầu để tổng hợp một số hợp chất màu hay chất làm ngọt nhân tạo, chất phát quang, chất xúc tác trùng hợp. Hợp chất 3,2’,4’,6’-tetrahydroxy-4- propoxy-dihydrochalcone-4-β’-neohesperdoside đã đƣợc sử dụng làm chất tạo ngọt tổng hợp với độ ngọt gấp 2200 lần so với glucose[17]. 1 : Cấu trúc của chalcone hay (E)-1,3-diphenylprop-2-en-1-one. 2 : Cách đánh số mạch carbon của chalcone.
Tên IUPAC của chalcone là 1,3-diphenylprop-2-en-1-one. Các nhóm thế trong các vòng thơm của chalcone đƣợc đánh số thứ tự và gọi theo danh pháp quốc 3 tế. Ngoài ra chalcone còn có một số tên gọi khác nhƣ: benzylideneacetophenone, phenyl styryl ketone, benzalacetophenone, β-phenylacrylophenone, γ-oxo-α,γ- diphenyl-α-propylene, α-phenyl-β-benzoylethylene.1 Tổng hợp chalcone Chalcone đƣợc tổng hợp bằng phản ứng ngƣng tụ Claisen-Schmidt với các nhóm thế thích hợp của benzaldehyde và acetophenone dƣới sự có mặt của base làm chất xúc tác và dung môi phân cực. Acetophenone đƣợc xử lí bằng KOH để chuyển hóa thành dạng enolate của nó ,sau đó nó phản ứng cộng nucleophile với benzaldehyde để tạo thành một chất trung gian (aldol).
Aldol bị mất một phân tử nƣớc để tạo thành chalcone thông qua cơ chế tách E1cB[18]. Hạn chế của phƣơng pháp này là tốc độ phản ứng chậm và mất nhiều thời gian hơn[17] nhƣng đƣợc sử dụng phổ biến do quy trình đơn giản và hiệu suất cao hơn các phƣơng pháp thông thƣờng khác. 3 : Tổng hợp chalcone bằng phản ứng ngưng tụ aldol. Phản ứng ghép cặp chéo Suzuki [14] đƣợc phát triển bởi Suzuki năm 1979 bao gồm phản ứng giữa phenyl bororic acid và cinnamyl chloride hoặc giữa benzoyl chloride và phenyl vinyl bororic acid sử dụng xúc tác là Pd(0) dƣới dạng phức chất cùng với 1 tác nhân base thƣờng là ancolate.
4 : Tổng hợp chalcone bằng phản ứng cặp chéo Suzuki. 4 Rateb và Zohdi đã sử dụng phƣơng pháp nghiền không chứa dung môi với thời gian ngắn để tổng hợp chalcone ở nhiệt độ phòng[39]. Phƣơng pháp này thực hiện bằng cách nghiền hỗn hợp methyl ketone, aldehyde và NaOH thích hợp bằng chày và cối. Radhakrishnan và cộng sự đã tổng hợp Azachalcone không có dung môi thông qua việc nghiền các chất phản ứng [36].
5 : Tổng hợp chalcone bằng phương pháp nghiền không dung môi. Phản ứng ghép cặp chéo Heck đƣợc xúc tác bằng phức chất kim loại chuyển tiếp trong môi trƣờng base yếu nhƣ Et3N để tổng hợp chalcone thông qua sự ghép cặp của aryl vinyl ketone và aryl iodide [7]. 6 : Tổng hợp chalcone bằng phản ứng Heck. Shotter và cộng sự đã tổng hợp chalcone bằng quá trình acyl hóa Friedel- Crafts từ các ether thơm và cinnamoyl chloride với sự có mặt của AlCl3 là Lewis acid thu đƣợc chalcone.
7 : Tổng hợp chalcone bằng quá trình acyl hóa Friedel-Crafts. Mistry và Desai đã sử dụng lò vi sóng để tổng hợp chalcone [29] bằng các xúc tác dị thể nhƣ K2CO3, Ba(OH)2, acid p-toluenesulfonic, KOH,. đƣợc sử dụng 5 để tổng hợp chalcone bằng cách chiếu xạ vi sóng. Ashok và cộng sự đã tổng hợp một loại chalcone dựa trên carbazole mới sử dụng KOH dạng bột trong điều kiện vi sóng không có dung môi[4].
8 : Tổng hợp chalcone bằng chiếu xạ vi sóng không dung môi. Quá trình tổng hợp chalcone cũng đƣợc tiến hành trong máy siêu âm bằng các xúc tác dị thể nhƣ K2CO3, Ba(OH)2, KOH, Al2O3 [9]. Chtourou và cộng sự[9] đã tổng hợp chalcone với hiệu suất trên 80% bằng cách sử dụng KSF theo kĩ thuật siêu âm trong môi trƣờng không có dung môi. 9 : Tổng hợp chalcone bằng chiếu xạ siêu âm.
Tính chất vật lí của chalcone Chalcone đƣợc tìm thấy trong nhiều loại trái cây nhƣ táo cam quýt, các loại rau củ nhƣ khoai tây, giá đỗ ngoài ra còn có trong hoa lá, rễ, thân của thực vật [10]. Chalcone kết tinh trong nƣớc hoặc rƣợu dƣới dạng tinh thể hình kim, nóng chảy ở 57. Chalcone có hệ liên hợp C=C và C=O nên ở điều kiện thƣờng hầu hết các chalcone thƣờng là các tinh thể rắn thƣờng có màu dạng vàng. Trong dung dịch kiềm chúng thƣờng có màu đỏ đậm hoặc cam.
Chalcone hòa tan tốt trong alcohol, acid và kiềm cũng nhƣ các dung môi hữu cơ nhƣ acetone, ethyl acetate, dichloromethane,. Tính chất hóa học của chalcone Do có hệ liên hợp C=C và C=O nên ở điều kiện thƣờng hầu hết các chalcone đều có màu vàng. Không những chúng mang đầy đủ các tính chất của anken và ketone mà còn có các tính chất đặc trƣng khác của hệ liên hợp. Do tồn tại hệ liên hợp nên các chalcone bền hơn các ketone không no có liên kết đôi không liên hợp.
Tùy vào tác nhân phản ứng và cấu tạo của chalcone mà phản ứng cộng sẽ ƣu tiên theo kiểu cộng 1, 2; cộng 1, 4 hay cộng 3, 4[2]. Phản ứng của nhóm C=C Phản ứng khử: Hợp chất carbonyl không no có thể khử thành hợp chất carbonyl no với điều kiện thích hợp (tác nhân thƣờng dùng là Na/C2H5OH hay Zn/CH3COOH…)[2]. 10 : Phản ứng tạo thành hợp chất carbonyl no. Phản ứng halogen hóa: Theo cơ chế cộng electrophin cho dẫn xuất α, β – dihalogen.
Phản ứng cộng 1, 4 cũng có thể xảy ra khi cho các ketone α, β – không no tác dụng với hợp chất cơ Gilman (R2CuLi). 11 : Phản ứng cộng 1,4. Phản ứng Michael: Phản ứng đƣợc tiến hành trong môi trƣờng base, với tác nhân nucleophile là 1 enolate khác tham gia cộng 1,4 vào nối đôi C=C để tạo thành các hợp chất dicarbonyl, sau đó có thế kết hơp với phản ứng ngƣng tụ aldol nội phân tử để tạo thành các ketone (phản ứng Robinson)[2]. 12 : Phản ứng Robinson.
Phản ứng của nhóm C=O ( phản ứng cộng 1,2) Phản ứng cộng 1, 2 thƣờng xảy ra khi cho ketone α, β – không no tác dụng với hợp chất cơ magie hoặc cơ lithi[2]. Phản ứng Luche tiến hành với tác nhân khử là NaBH4 kết hợp với CeCl3. Phản ứng này xảy ra chọn lọc với nhóm –C=O tạo thành alcol tƣơng ứng ở vị trí allyl của nối đôi [2]. 13 : Phản ứng Luche.
Ngoài ra nhóm –C=O còn có khả năng tham gia các phản ứng ngƣng tụ, tách loại, thế… 1. Phản ứng với các hợp chất chứa nito Phản ứng của các α, β-ketone không no với các hợp chất chứa nitrogen nhƣ các amine tạo thành các β-aminoketone (phản ứng cộng 1,4) Hình 1. 14 : Phản ứng của chalcone với amine. Phản ứng khác : Đóng vòng nội phân tử: Một số ketone α, β – không no có nhóm –OH và nhóm –CO–CH=CH– cạnh nhau thì chúng có thể tham gia phản ứng đóng vòng nội phân tử.
15 : Phản ứng đóng vòng nội phân tử. Phản ứng với guanidine: Các ketone α, β – không no gắn với vòng thơm gần đây đƣợc chuyển hóa thành vòng pirimidine có tính ứng dụng cao bằng phản ứng với guanidine trong lò vi sóng hoặc đun hồi lƣu hỗn hợp đẳng mol các chất phản ứng trong dung môi ethanol. 16 : Phản ứng đóng vòng với guanidine. Phản ứng với diaminobenzene để tạo thành hợp chất vòng 7 cạnh diazepine hoặc phản ứng với aminothiophenol để tạo thành vòng 7 cạnh thiazepine.
Nhiều ketone α, β – không no tác dụng với hydrazine và hydroxylamine qua nhiều giai đoạn cộng 1, 2 và 1, 4 tạo thành những hợp chất dị vòng là pirazoline và isoxazoline. Hoạt tính sinh học của chalcone 1. Chống ung thư Licochalcone A (2), đƣợc phân lập từ Glycyrrhiza glabra là một loại chalcone chống ung thƣ khác có độc tính đối với bệnh bạch cầu L1210 và tế bào u ác tính B16[40]. Wu và cộng sự đã báo cáo một chalcone có khả năng chống ung thƣ Millepachine (1) đƣợc phân lập từ Millettia pachycarpa là một loài thực vật có hoa họ đậu[46].