MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, các nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt dần và chi phí cho nhiên liệu này ngày càng tăng cao. Với tốc độ tiêu thụ năng lượng hiện tại thì trữ lượng dầu của thế giới được dự báo sẽ cạn kiệt trước năm 2050. Bên cạnh đó, các nguồn năng lượng này còn là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trong khi đó, những nguồn năng lượng tái tạo như: mặt trời, gió, sinh khối, thủy triều, địa nhiệt,… lại là những nguồn năng lượng vô tận và “sạch” hơn rất nhiều so với năng lượng không tái tạo.
Rào cản lớn nhất để tiếp cận và khai thác những nguồn năng lượng này chính là công nghệ và chi phí thiết bị đắt hơn so với thiết bị sử dụng nhiên liệu hóa thạch [1]. Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi như: nóng ẩm, mưa nhiều, đất đai phì nhiêu… nên sinh khối phát triển rất nhanh. Do vậy, nguồn phụ phẩm từ nông, lâm nghiệp vô cùng phong phú và ngày càng tăng cùng với sự phát triển của nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, những nguồn phụ phẩm đó lại đang bị coi là rác thải tự nhiên, đang bị bỏ phí hoặc lại chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường (như tình trạng đốt rơm rạ ở miền Bắc hoặc đổ trấu xuống sông, kênh rạch ở đồng bằng sông Cửu Long, đốt bỏ mùn cưa tại Yên Bái,…).
Năng lượng sinh khối nằm trong trong chu trình tuần hoàn ngắn, được các tổ chức về phát triển bền vững và môi trường khuyến khích sử dụng. Tận dụng được nguồn nhiên liệu này vừa cung cấp năng lượng cho phát triển kinh tế và đảm bảo bảo vệ môi trường [1]. Để giải quyết vấn đề này, các nhà khoa học đã khám phá ra rất nhiều vật liệu. Một trong số đó là vật liệu cách nhiệt.
Tuy nhiên, các vật liệu cần phải đạt được rất nhiều đặc tính cực kỳ quan trọng, chẳng hạn như độ dẫn nhiệt thấp, khối lượng riêng thấp, độ xốp cao, diện tích bề mặt lớn và vật liệu mang lại hiệu quả kinh tế. Năm 1932, aerogel được giới thiệu lần đầu tiên bởi Kistler [2]. Nghiên cứu này đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện và phát triển các vật liệu trong những năm gần đây. Tổng hợp composite silica aerogel là một trong những vật liệu tiềm năng.
1 Ngày nay, vật liệu composite silica aerogel là một trong những vật liệu siêu nhẹ có nhiều ứng dụng trong đời sống. Tuy nhiên, nghiên cứu liên quan đến loại vật liệu này là một số lượng lớn các rắc rối liên quan đến công nghệ, thiết bị hoặc nguồn lực của quy trình tại Việt Nam. Hơn nữa, các nguyên liệu chính đến từ chất thải công nghiệp như tro trấu, mùn cưa, bả mía, v.v… có thể tiết kiệm ngân sách cho nghiên cứu này và làm giảm giá thành sản xuất. Bên cạnh đó, các nguyên liệu thô được sử dụng để giúp giảm thiểu các vấn đề môi trường bị ô nhiễm.
Đồng thời, việc áp dụng phương pháp sấy đông khô cũng giúp tăng hiệu quả quy trình và nâng cao chất lượng sản xuất.Mục tiêu nghiên cứu Các bề mặt siêu kỵ nước có góc tiếp xúc cao > 130○ đã tạo ra rất nhiều lợi ích nghiên cứu cả trong giới học viện và ngành công nghiệp vì khả năng tự làm sạch của chúng. Năm 1997, Barthlott và Neinhuis cho thấy rằng khả năng tự làm sạch của lá sen có được là do hình thái bề mặt đặc biệt và tính chất kỵ nước [7]. Việc chế tạo các lớp phủ kỵ nước là một lĩnh vực thu hút sự nghiên cứu trong những năm gần đây vì các ứng dụng rộng rãi như kính chắn gió ô tô, bề mặt tự làm sạch và tự làm sạch bụi bẩn cho tấm pin mặt trời, vệ tinh, tường xây dựng và kính mái, kính kiến trúc và nhà kính, bề mặt truyền nhiệt trong thiết bị điều hòa không khí,… Ngày nay, các lớp phủ thu được từ phương pháp solgel đã được tìm thấy có ích cho một số ứng dụng chủ yếu do sự tổng hợp dễ dàng, linh hoạt. Mặc dù silica aerogel có rất nhiều đặc tính nổi bật nhưng chúng lại rất dễ vỡ khi có tác động cơ học dù rất nhỏ, điều này đã làm hạn chế khả năng ứng dụng của vật liệu xuất sắc này.
Luận văn này tập trung nghiên cứu tính chất kỵ nước, độ bền nén và độ dẫn nhiệt TCi của composite silica aerogel được tổng hợp từ methyltrimothoxysilane (MTMS), dung dịch natri silicate (từ dịch chiết tro trấu). Ngoài ra, còn sử dụng poly (vinyl alcohol) (PVA) và bông thủy tinh để cải thiện tính chất cơ của composite silica aerogel, hướng đến tạo ra sản phẩm có khả năng hứa hẹn trong việc sản xuất ứng dụng làm vật liệu cách nhiệt (đạt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7194 : 2002) trong tương lai.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu: Luận văn là một công trình nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng. Đối tượng nghiên cứu của luận văn là composite silica aerogel. Các kết quả của luận văn đưa ra là một trong những tiền đề, hứa hẹn bổ sung thêm thông tin mới trong lĩnh vực nghiên cứu vật liệu aerogel dùng làm vật liệu cách nhiệt.Những đóng góp mới của luận văn 1) Chế tạo được vật liệu composite silica aerogel bằng phương pháp sol–gel hai bước (xúc tác axitbazơ), trao đổi dung môi, sấy đông khô.
Sản phẩm có độ xốp lớn, tỷ trọng nhẹ, có tính kỵ nước cao, và độ dẫn nhiệt thấp. 2) Nghiên cứu tổng hợp composite silica aerogel từ methyl trimethoxy silane (MTMS) và dung dịch sodium silicate (dịch chiết tro trấu) (góp phần xử lý môi trường), được kết hợp với PVA và bông thủy tinh, cho ứng dụng vật liệu cách nhiệt. 3 Chương 1: TỔNG QUAN 1.Hiện trạng tro trấu ở Việt Nam Việt Nam là một trong những quốc gia có nền sản xuất gạo lớn nhất thế giới (khoảng 50 triệu tấn mỗi năm). Do đó, tạo ra lượng tro trấu khá lớn (khoảng 2 triệu tấn mỗi năm).
Chúng không được sử dụng nhiều mà phần lớn được đốt rồi thải ra sông tiêu hủy. Điển hình là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nơi cung cấp 50% sản lượng gạo cho cả nước, đã có khoảng 3 triệu tấn tro trấu mỗi năm nhưng chỉ khoảng 10% được sử dụng làm chất đốt. Các nhà máy xay xát ở đây đã thẳng tay đổ tro trấu xuống sông, rạch. Trấu trôi lềnh bềnh khắp nơi ,chìm xuống đáy gây ô nhiễm nguồn nước.
Ở An Giang có khoảng 700 nghìn tấn tro trấu mỗi năm và lại được sử dụng lãng phí vào việc làm chất đốt để nấu ăn và thải vào các dòng sông ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân. Đi dọc một số bờ sông ở quận Ô Môn, huyện Thới Lai, huyện Cờ Đỏ của thành phố Cần Thơ như sông Thị Đội, sông Ngang. sẽ thấy rất nhiều vỏ trấu trôi trên mặt sông. Bờ sông ngập một màu vàng của vỏ trấu.
Nước sông ở những đoạn này vốn đã ô nhiễm, giờ quyện với mùi vỏ trấu phân hủy tạo nên một hương vị rất khó chịu. Chính vì lượng tro trấu thải ra như vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt của người dân và ghe thuyền qua lại, gây ô nhiễm nguồn nước nặng. Lượng vỏ trấu quá nhiều, không còn chỗ chứa thì cách duy nhất là đổ ra sông để nước cuốn trôi. Vì thế cần biết các công dụng của vỏ trấu để sử dụng đúng cách nếu không vỏ trấu sẽ trở thành tác nhân gây nên ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân sống xung quanh khu vực đó [28].Thành phần của tro trấu Vỏ trấu chiếm khoảng 20% trọng lượng hạt lúa, sau khi cháy các thành phần hữu cơ sẽ chuyển hóa thành tro chứa các thành phần oxit kim loại.
Silic oxit là chất có tỷ lệ phần trăm về khối lượng cao nhất trong tro trấu, chiếm khoảng 80-90%. Vì vậy, sử dụng tro trấu là nguồn nguyên liệu điều chế SiO2 đã và đang được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu [27].1: Thành phần tro trấu Tỷ lệ theo khối lượng (%) Tỷ lệ theo khối lượng (%) SiO2 80-90 Al2O3 1-2,5 K2 O 0,2 CaO 1-2 Na2O 0,2-0,5 SiO2 được sử dụng trong đời sống sản xuất rất phổ biến. Nếu tận dụng được nguồn SiO2 sẽ có ý nghĩa rất lớn. Sẽ không cần phải nhập khẩu SiO2 và vấn đề ô nhiễm môi trường từ tro trấu cũng được cải thiện phần nào.Tổng quan về aerogel 1.Aerogel là gì? Có thể mường tượng vật liệu aerogel là một dạng vật liệu gel (một trạng thái, trong đó mạng lưới chất rắn chứa các thành phần chất lỏng kết dính với nhau), thành phần lỏng của gel sẽ được thay thế bởi thành phần khí.
Kết quả làm cho sản phẩm gel có được là một chất rắn, chứa hơn 90% không khí nên rất nhẹ, khối lượng riêng thấp và cách nhiệt. Nó còn có các tên khác như là khói đóng băng, không khí rắn, khối rắn [5].Lịch sử tìm ra aerogel Sự ra đời của aerogel bắt nguồn từ một câu chuyện được kể lại vào cuối những năm 1920, khi Samuel Kistler (1900-1975), giáo sư hóa học người Mỹ đã đánh cược với đồng nghiệp của mình là Charles Learned rằng “có tồn tại một loại gel không lỏng ?”. Bằng sự kiên trì và quyết tâm của mình, sau nhiều thử nghiệm và gặp không ít thất bại, cuối cùng Kistler đã tìm ra một loại gel ở trạng thái khí (không phải trạng thái lỏng), một loại gel mới chưa từng được biết đến, thậm chí chưa một ai tưởng tượng ra nó. Ông đã trở thành người đầu tiên thay thế được trạng thái lỏng của gel thành trạng thái khí, và đặt tên cho nó là "aerogel".
Năm 1931, ông đã công bố phát hiện của mình trong bài viết "Coherent expanded aerogels and Jellies", đăng trên tạp chí khoa học 5 Nature. Có lẽ ông cũng không ngờ, những năm sau này, vật liệu dạng aerogel đã và đang tạo ra cuộc cách mạng các sản phẩm trong tương lai, từ máy giặt đến các phi thuyền không gian. Ông đã tìm ra aerogel như thế nào? Ban đầu, ông tạo ra trong môi trường gel một nhiệt độ và áp suất đạt đến điểm tới hạn ở mức mà không có sự khác biệt nhiều giữa chất lỏng và chất khí. Tiếp đến, giữ nguyên mức nhiệt độ ở điểm tới hạn, giảm từ từ áp suất.
Khi áp suất giảm, các phân tử được giải phóng dưới dạng khí và lỏng với mật độ không quá dày đặc. Bước tiếp theo là làm lạnh. Trước khi làm lạnh, sẽ có một lượng rượu nhỏ được ngưng tụ lại thành chất lỏng, sau đó sẽ được chuyển thành dạng hơi như ban đầu [5].