Luận án tiến sĩ kỹ thuật hóa học nghiên cứu tổng hợp phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc ứng dụng trong khai thác và vận chuyển dầu thô

Luận án tiến sĩ kỹ thuật hóa học nghiên cứu tổng hợp phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc, ứng dụng hiệu quả trong khai thác và vận chuyển dầu thô.

Trường đại học

Đại học Bách khoa Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

163
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ

1. GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. Các đóng góp mới của luận án

1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

1.5.1. Ý nghĩa khoa học

1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn

1.6. Bố cục của luận án

2. NỘI DUNG LUẬN ÁN

2.1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1.1. NHỮNG BẤT LỢI CỦA DẦU THÔ CHỨA NHIỀU PARAFINIC

2.1.1.1. Tổng quan chung về thành phần hóa học của dầu thô

2.1.2. TỔNG QUAN VỀ PHỤ GIA POLYME CÓ KHẢ NĂNG HẠ NHIỆT ĐỘ ĐÔNG ĐẶC CỦA DẦU THÔ

2.1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM VỀ PHỤ GIA HẠ NHIỆT ĐỘ ĐÔNG ĐẶC CHO DẦU THÔ

2.2. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

2.3. THỰC NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. HÓA CHẤT, THIẾT BỊ, DỤNG CỤ

2.3.1.1. Thiết bị, dụng cụ

2.3.2. TỔNG HỢP CÁC VẬT LIỆU POLYME

2.3.2.1. Quy trình chung tổng hợp vật liệu polyme
2.3.2.2. Tổng hợp polyme số 1 - OP 01B
2.3.2.3. Tổng hợp polyme số 2 – OP 01S
2.3.2.4. Tổng hợp polyme số 3 – OP 01V
2.3.2.5. Tổng hợp polyme số 4 – OP 01
2.3.2.6. Khảo sát quá các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tổng hợp polyme OP 01
2.3.2.7. Tính hiệu suất tạo polyme

2.3.3. CHẾ TẠO HỆ PHỤ GIA GIẢM NHIỆT ĐỘ ĐÔNG ĐẶC CHO DẦU THÔ TRÊN CƠ SỞ CÁC POLYME ĐÃ TỔNG HỢP

2.3.3.1. Công thức chế tạo hệ phụ gia
2.3.3.2. Quy trình ứng dụng hệ phụ gia

2.3.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP HÓA LÝ SỬ DỤNG ĐỂ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VÀ TÍNH CHẤT POLYME

2.3.4.1. Xác định khối lượng phân tử (KLPT) trung bình
2.3.4.2. Xác định hình thái học qua ảnh SEM
2.3.4.3. Xác định thành phần nguyên tố qua phổ EDX
2.3.4.4. Xác định các nhóm chức đặc trưng trong polyme thông qua phổ hồng ngoại (FT-IR)
2.3.4.5. Xác định cấu trúc polyme qua phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR
2.3.4.6. Xác định độ bền nhiệt của polyme theo phương pháp TG-DSC

2.3.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHỤ GIA

2.3.5.1. Xác định nhiệt độ đông đặc (ASTM D 97)
2.3.5.2. Xác định tính chất lưu biến của dầu thô thông qua phương pháp đo độ nhớt (ASTM D 2196)
2.3.5.3. Xác định độ bền gel thông qua ứng suất trượt của dầu thô (ASTM D 4684)
2.3.5.4. Xác định tốc độ lắng đọng sáp của dầu thô

2.4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

2.4.1. TỔNG HỢP CÁC LOẠI VẬT LIỆU POLYME HẤP PHỤ DẦU

2.4.1.1. Tổng hợp và xác định một số đặc tính của polyme số 1 (OP 01B)
2.4.1.2. Tổng hợp và đặc trưng polyme số 2 (OP 01S)
2.4.1.3. Tổng hợp và đặc trưng polyme số 3 (OP 01V)
2.4.1.4. Tổng hợp và đặc trưng polyme số 4 (polyme OP 01)

2.4.2. KHẢO SÁT QUÁ TRÌNH TỔNG HỢP COPOLYME OP 01

2.4.2.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ
2.4.2.2. Ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào
2.4.2.3. Ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn
2.4.2.4. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đồng trùng hợp

2.4.3. NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO HỆ PHỤ GIA TRÊN CƠ SỞ POLYME TỔNG HỢP

2.4.3.1. Khảo sát hiệu quả giảm nhiệt độ đông đặc của từng thành phần sử dụng để chế tạo hệ phụ gia
2.4.3.2. Chế tạo và khảo sát sự giảm nhiệt độ đông đặc của hệ phụ gia

2.4.4. KẾT QUẢ ỨNG DỤNG HỆ PHỤ GIA BK 0102 TRONG VIỆC GIẢM NHIỆT ĐỘ ĐÔNG ĐẶC CHO DẦU THÔ DIAMOND

2.4.4.1. Ảnh hưởng của nồng độ phụ gia đến nhiệt độ đông đặc dầu thô Diamond
2.4.4.2. Ảnh hưởng của nồng độ phụ gia đến độ nhớt dầu thô Diamond
2.4.4.3. Ảnh hưởng của nồng độ phụ gia đến ứng suất trượt dầu thô Diamond
2.4.4.4. Ảnh hưởng của nồng độ phụ gia đến lắng đọng sáp của dầu thô Diamond

CÁC ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về đề tài

Nghiên cứu này tập trung vào tổng hợp phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc cho khai thác và vận chuyển dầu thô, đặc biệt là dầu thô chứa nhiều parafin. Phụ gia giảm nhiệt độ được xem là giải pháp hiệu quả để ngăn chặn sự kết tinh parafin, giảm lắng đọng sáp và cải thiện tính lưu biến của dầu thô. Nghiên cứu tổng hợp các copolyme từ ba monome: behenyl acrylat, stearyl metacrylat và vinyl axetat, nhằm tạo ra hệ phụ gia có hiệu quả cao trong việc hạ nhiệt độ đông đặc của dầu thô mỏ Diamond.

1.1 Lý do chọn đề tài

Dầu thô chứa nhiều parafin gặp phải vấn đề kết tinh và lắng đọng sáp trong quá trình khai thác và vận chuyển, gây tắc nghẽn đường ống và giảm hiệu suất. Phụ gia giảm nhiệt độ được sử dụng để ức chế sự hình thành tinh thể parafin, cải thiện dòng chảy và giảm chi phí bảo trì. Nghiên cứu này nhằm tìm ra hệ phụ gia hiệu quả từ các copolyme tổng hợp, đặc biệt cho dầu thô mỏ Diamond.

1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là tổng hợp và tối ưu hóa hệ phụ gia từ các copolyme để giảm nhiệt độ đông đặc của dầu thô. Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc tổng hợp các copolyme, xác định cấu trúc và tính chất hóa học, cũng như đánh giá hiệu quả của hệ phụ gia trên dầu thô mỏ Diamond.

II. Tổng quan lý thuyết

Phần này trình bày các vấn đề liên quan đến dầu thô chứa parafin, bao gồm thành phần hóa học, ảnh hưởng của parafin đến tính chất cơ lý của dầu, và các phương pháp kiểm soát sáp parafin. Phụ gia polyme được nghiên cứu như một giải pháp hiệu quả để giảm nhiệt độ đông đặc và cải thiện tính lưu biến của dầu thô.

2.1 Thành phần hóa học của dầu thô

Dầu thô là hỗn hợp phức tạp của các hydrocacbon, trong đó parafin là thành phần chính gây ra hiện tượng kết tinh. Các hydrocacbon parafinic mạch thẳng (n-parafin) dễ kết tinh hơn so với các loại có nhánh, gây ra các vấn đề trong khai thác và vận chuyển.

2.2 Phụ gia polyme giảm nhiệt độ đông đặc

Phụ gia polyme hoạt động bằng cách tương tác với các phân tử parafin, ngăn chặn sự hình thành tinh thể. Các polyme như EVA (etylen vinyl acetate) và các copolyme khác được sử dụng rộng rãi để cải thiện tính lưu biến của dầu thô.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích hóa lý để tạo ra các copolyme và đánh giá hiệu quả của chúng. Các kỹ thuật như SEM, FT-IR, NMR, và TG-DSC được sử dụng để xác định cấu trúc và tính chất của các polyme tổng hợp.

3.1 Tổng hợp copolyme

Copolyme được tổng hợp từ ba monome: behenyl acrylat, stearyl metacrylat và vinyl axetat. Quá trình tổng hợp được tối ưu hóa để đạt hiệu suất cao và khối lượng phân tử phù hợp.

3.2 Phân tích hóa lý

Các phương pháp phân tích như SEM, FT-IR, và NMR được sử dụng để xác định cấu trúc và tính chất của copolyme. Kết quả cho thấy copolyme OP 01 có khối lượng phân tử phù hợp và độ đa phân tán thấp.

IV. Kết quả và thảo luận

Nghiên cứu đã tổng hợp thành công copolyme OP 01 và chế tạo hệ phụ gia BK 0102. Hệ phụ gia này giảm nhiệt độ đông đặc của dầu thô mỏ Diamond từ 36°C xuống 21°C, hiệu quả vượt trội so với các phụ gia thương mại hiện có.

4.1 Hiệu quả của hệ phụ gia

Hệ phụ gia BK 0102 không chỉ giảm nhiệt độ đông đặc mà còn cải thiện độ nhớt và ứng suất trượt của dầu thô. Kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng cao trong thực tế.

4.2 So sánh với phụ gia thương mại

BK 0102 cho hiệu quả tốt hơn so với các phụ gia thương mại như VX-7484 và PAO 83363, đặc biệt trong việc giảm lắng đọng sáp và cải thiện tính lưu biến của dầu thô.

V. Kết luận và đóng góp mới

Nghiên cứu đã tổng hợp thành công copolyme OP 01 và chế tạo hệ phụ gia BK 0102, mang lại hiệu quả cao trong việc giảm nhiệt độ đông đặc và cải thiện tính lưu biến của dầu thô mỏ Diamond. Đây là một đóng góp quan trọng cho công nghệ khai thác và vận chuyển dầu thô.

5.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu mở ra hướng mới trong việc tổng hợp các copolyme từ các monome khác nhau, tạo ra hệ phụ gia có tính chất nổi trội.

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Hệ phụ gia BK 0102 có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp dầu khí, giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả trong khai thác và vận chuyển dầu thô.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kỹ thuật hóa học nghiên cứu tổng hợp phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc ứng dụng trong khai thác và vận chuyển dầu thô

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. NHỮNG BẤT LỢI CỦA DẦU THÔ CHỨA NHIỀU PARAFINIC 1. Tổng quan chung về thành phần hóa học của dầu thô a.

Thành phần hydrocacbon Dầu mỏ là một hỗn hợp chất với thành phần hóa học rất phức tạp, trong đó có hàng trăm các cấu tử khác nhau. Mỗi loại dầu mỏ được đặc trưng bởi thành phần riêng, song về bản chất, chúng đều có các hydrocacbon là thành phần chính, chiếm hàm lượng từ 60% đến 90%; còn lại là các hợp chất chứa oxy, lưu huỳnh, nitơ, các phức cơ kim, và các chất nhựa, asphalten. Trong khí dầu mỏ còn có chứa các khí trơ như: N2, He, Ar, Xe… Một điều cần lưu ý là, tuy dầu mỏ trên thế giới rất khác nhau về thành phần hóa học, song lại rất gần nhau về thành phần nguyên tố (hàm lượng C dao động trong khoảng 82% đến 87%, còn H từ 12% đến 15%). Nhìn chung, dầu mỏ càng chứa nhiều hydrocacbon, càng ít các thành phần dị nguyên tố, sẽ có chất lượng càng tốt, và có giá trị kinh tế cao [1-5, 18].

Nhìn một cách tổng quát thì thành phần hoá học của dầu mỏ được chia thành hai thành phần: các hợp chất hydrocacbon (HC) là hợp chất mà trong thành phần của nó chỉ chứa hai nguyên tố là cacbon và hydro; các hợp chất phi HC, là các hợp chất mà trong thành phần của nó ngoài cacbon, hydro, còn chứa thêm các nguyên tố khác như nitơ, lưu huỳnh, oxy. Hydrocacbon là thành phần chính và quan trọng nhất của dầu mỏ, thường được chia làm 3 loại: các hợp chất parafinic, các hợp chất vòng no hay naphtenic, các hydrocacbon thơm hay aromatic. Trong thực tế, các phân đoạn có nhiệt độ sôi trung bình và cao thì ngoài các hợp chất trên còn có các hợp chất lai hợp tức là hợp chất mà trong phân tử của chúng có chứa đồng thời một số loại gốc hydrocacbon trên. Điều đáng chú ý là các hydrocacbon không no (olefin, xyclo olefin, diolefin vv.) không có trong hầu hết các loại dầu mỏ, nguyên nhân là trong môi trường áp suất cao và có mặt hydro cũng như các chất khử, vi khuẩn., hầu hết các liên kết olefin đã chuyển hóa thành liên kết bão hòa [1].

5 Parafinic là loại hydrocacbon rất phổ biến trong dầu mỏ. Dầu mỏ có độ biến chất càng sâu, tỷ trọng càng nhẹ càng chứa nhiều parafinic; độ biến chất của dầu mỏ ở đây được hiểu là mức độ cắt mạch các hợp chất hữu cơ phức tạp (có nguồn gốc từ động, thực vật.) theo thời gian, trong các điều kiện yếm khí (dưới lòng đất hoặc lòng đại dương). Tuỳ theo cấu trúc mà parafin được chia thành hai loại là parafinic mạch thẳng không nhánh (n-parafin) và parafinic có nhánh (iso-parafin). N-parafin là loại hydrocacbon dễ tách và dễ xác định nhất trong số các loại hydrocacbon có trong dầu mỏ; hiện nay, với việc sử dụng phương pháp sắc ký kết hợp với rây phân tử để tách n- parafin, đã xác định được tất cả các n-parafin từ C1 đến C45.

Hàm lượng của các n- parafin trong dầu mỏ thường dao động từ 25-30% thể tích. Tùy theo dầu mỏ được tạo thành từ những thời kỳ địa chất nào, mà sự phân bố các n-parafin trong dầu sẽ khác nhau, nhìn chung tuân theo quy tắc sau: tuổi dầu càng cao, độ sâu lún chìm càng lớn, hàm lượng n-parafin trong phần nhẹ của dầu mỏ càng nhiều. Các iso-parafin thường chỉ nằm ở phần nhẹ và phần có nhiệt độ sôi trung bình của dầu. Chúng thường có cấu trúc đơn giản, mạch chính dài, nhánh phụ ít và ngắn, thường là nhóm metyl.

Các iso-parafin có số cacbon từ C5 đến C10 là các cấu tử rất quý trong phần nhẹ của dầu mỏ do chúng làm tăng khả năng chống kích nổ (tăng trị số octan) của xăng. So với n-parafin, iso-parafin có độ linh động cao hơn [1-5, 9]. Naphtenic là các hợp chất bão hòa nhưng chứa vòng no, là một trong số các hydrocacbon phổ biến và quan trọng trong dầu mỏ. Hàm lượng của naphtenic trong dầu mỏ có thể thay đổi từ 30-60% khối lượng.

Naphtenic trong dầu mỏ thường gặp dưới 3 dạng chính: loại vòng 5 cạnh, loại vòng 6 cạnh, loại nhiều vòng ngưng tụ hoặc qua cầu nối; còn những loại hợp chất có vòng 7 cạnh trở lên thường hiếm khi xuất hiện hoặc với hàm lượng không đáng kể. Trong đó, các loại naphtenic chứa một vòng (5, 6 cạnh) có các nhánh phụ là loại chiếm phần chủ yếu, và cũng là loại được nghiên cứu đầy đủ nhất. Người ta đã tách ra được hàng loạt naphtenic một vòng có từ 1-3 nhánh phụ trong nhiều loại dầu mỏ khác nhau: trong phần nhẹ của dầu mỏ, chủ yếu chứa các naphtenic một vòng với các nhánh phụ rất ngắn, thường là các nhóm -CH3 và có thể có nhiều nhánh; trong những phần có nhiệt độ sôi cao hơn, các nhánh phụ này dài hơn nhiều; trong những trường hợp nhánh phụ quá dài, tính chất của hydrocacbon không còn mang nhiều đặc trưng của naphtenic nữa, mà chịu ảnh hưởng lớn bởi cấu trúc của mạch parafin - vì 6 thế, chúng thường được phân loại vào một nhóm riêng là hydrocacbon hỗn hợp (hoặc lai hợp) [1, 4-7]. Các hydrocacbon thơm là các hợp chất mà trong phân tử của chúng có chứa ít nhất một vòng thơm.

Trong dầu mỏ, hệ thống nhân thơm có thể là một vòng, hoặc là hệ nhiều vòng ngưng tụ, trong đó loại hydrocacbon thơm một vòng và các đồng đẳng của nó là phổ biến nhất. Benzen thường gặp với số lượng ít hơn tất cả. Những đồng đẳng của benzen (C7-C15) nói chung đều đã tách và xác định được trong nhiều loại dầu mỏ, những loại ankylbenzen với 1, 2, 3, 4 nhánh phụ như toluen, xylen, 1,2,4 trimetylbenzen đều là những loại chiếm đa số trong dạng hydrocacbon thơm. Tuy vậy, loại 4 nhánh phụ tetra-metylbenzen (1, 2, 3, 4 và 1, 2, 3, 5) thường thấy với tỷ lệ cao nhất.

Theo Lashkarbolooki và cộng sự [96] thì hàm lượng tối đa của toluen trong dầu vào khoảng 2-3%, xylen và benzen vào khoảng 1-6%. Loại hydrocacbon thơm hai vòng có cấu trúc ngưng tụ như naphtalen và đồng đẳng hoặc cấu trúc cầu nối như như diphenyl nói chung đều có trong dầu mỏ, trong đó cấu trúc kiểu diphenyl thường chiếm hàm lượng thấp hơn so với cấu trúc kiểu naphtalen. Trong những phân đoạn dầu mỏ có nhiệt độ sôi cao, những loại hydrocacbon đa vòng thơm ngưng tụ có từ ba vòng trở lên xuất hiện nhiều hơn; trong thực tế, ở những phân đoạn có nhiệt độ sôi cao, hydrocacbon trong dầu mỏ không thường thuộc một trong các nhóm đơn giản như parafinic, naphtenic hay aromatic, mà thường hiện diện dưới dạng các cấu trúc hydrocacbon lai hợp; cấu trúc hydrocacbon lai hợp cũng rất gần với cấu trúc các hợp chất trong các vật liệu hữu cơ ban đầu hình thành nên dầu mỏ, vì thế dầu càng có độ biến chất cao sẽ chứa càng nhiều các hydrocacbon loại lai hợp. Thành phần dẫn xuất hydrocacbon, phi hydrocacbon Bên cạnh hydrocacbon là thành phần chính, các hợp chất phi hydrocacbon, hay dẫn xuất của hydrocacbon, cũng xuất hiện trong dầu thô.

Nhìn chung, dầu thô càng non tuổi, tương ứng với độ biến chất thấp, hàm lượng các hợp chất chứa các dị nguyên tố càng cao. Ngoài ra, tùy thuộc thành phần nguyên tố của loại vật liệu hữu cơ ban đầu tạo ra dầu, hàm lượng và tỷ lệ của từng loại hợp chất chứa các nguyên tố O, N, S. trong từng loại dầu cũng sẽ khác nhau. 7 Lưu huỳnh tồn tại trong các hợp chất phi hydrocacbon phổ biến nhất và đáng chú ý nhất trong dầu thô.

Những loại dầu ít lưu huỳnh thường có hàm lượng lưu huỳnh không quá 0,3- 0,5%, và những loại dầu nhiều lưu huỳnh thường có 1-2% trở lên. Hiện nay, trong dầu mỏ đã xác định được trên 250 loại hợp chất của lưu huỳnh; những hợp chất này thuộc vào những họ sau: mecaptan, sunfua, disunfua, thiophen, và lưu huỳnh tự do (S, H2S). Lưu huỳnh dạng H2S nằm dưới dạng hòa tan trong dầu mỏ, dễ dàng thoát ra khỏi dầu khi đun nóng nhẹ, lại có tính axit, nên gây ăn mòn rất mạnh các hệ thống đường ống, các thiết bị trao đổi nhiệt, chưng cất. Người ta cũng thường căn cứ vào hàm lượng lưu huỳnh H2S có trong dầu thô mà phân biệt dầu “chua” hay dầu “ngọt”: khi hàm lượng H2S trong dầu dưới 3,7 ml/l, dầu được gọi là dầu “ngọt”; ngược lại, quá giới hạn đó, dầu được gọi là dầu “chua”.

Cần chú ý, khi đun nóng, ngay cả lưu huỳnh dạng mecaptan cũng dễ dàng bị phân huỷ tạo ra H2S và làm tổng hàm lượng H2S thực tế trong các thiết bị đun nóng tăng cao hơn nữa, gây ra nhiều tác động tiêu cực đến các hoạt động khai thác, vận chuyển, vận hành chế biến [9-15]. Hiện nay, người ta cũng thường phân loại dầu theo hàm lượng lưu huỳnh tổng: Nếu có ≥0,5% là dầu chua, nhỏ hơn là dầu ngọt. Với nitơ (N), đại bộ phận các hợp chất chứa nó nằm trong phân đoạn có nhiệt độ sôi cao của dầu mỏ. Ở các phân đoạn nhẹ, các hợp chất chứa N chỉ được tìm thấy dưới dạng vết.

Hàm lượng nguyên tố N trong dầu mỏ dao động từ 0,01% đến 1%. Những hợp chất chứa N trong dầu có thể chứa từ 1 đến 4 nguyên tử nitơ, trong đó những hợp chất chứa một nguyên tử N được nghiên cứu nhiều và chúng thường mang tính bazơ như pyridin, quinolin, iso-quinolin, acrylin., hoặc có tính chất trung tính như các vòng pyrol, indol, cacbazol, benzocacbazol.; những hợp chất chứa 2 nguyên tử nitơ trở lên thường có hàm lượng rất thấp so với loại chứa 1 nguyên tử N, ví dụ như các dẫn xuất của indolquinolin, indolcacbazol và porfirin. Đặc biệt, đối với các porfirin là những chất chứa 4 nguyên tử N, thường có xu hướng tạo nên những phức chất với kim loại, như V, Ni và Fe [1, 9, 16-22]. Các chất chứa oxy trong dầu mỏ thường tồn tại dưới dạng axit, xeton, phenol, ete, este., trong đó axit và phenol là các hợp chất quan trọng hơn cả.

Các hợp chất chứa oxy trong dầu mỏ thường nằm trong phân đoạn có nhiệt độ sôi trung bình và cao. Các 8 axit thường có một nhóm chức cacboxylic và tồn tại nhiều nhất ở phân đoạn có nhiệt độ sôi trung bình, và giảm dần ở các phân đoạn có nhiệt độ sôi cao hơn. Kim loại có trong dầu mỏ không nhiều, thường từ vài phần triệu đến vài phần vạn. Chúng thường tồn tại trong các phân đoạn dầu thô có nhiệt độ sôi cao và ở dạng phức với các hợp chất hữu cơ (gọi là các hợp chất cơ-kim).

Ví dụ thông dụng là dạng phức của các kim loại với porphirin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu tổng hợp phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc cho khai thác và vận chuyển dầu thô là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phát triển các phụ gia hóa học giúp hạ thấp nhiệt độ đông đặc của dầu thô, từ đó tối ưu hóa quá trình khai thác và vận chuyển trong điều kiện khí hậu lạnh. Nghiên cứu này không chỉ mang lại giải pháp kỹ thuật hiệu quả mà còn góp phần giảm chi phí và tăng hiệu suất trong ngành công nghiệp dầu khí. Để hiểu rõ hơn về các ứng dụng của vật liệu nano trong lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học polymer coated on magnetic nanoparticles orienting in enhanced oil recovery application. Ngoài ra, nghiên cứu về Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học nghiên cứu tổng hợp silica aerogel từ methyl trimethoxy silane mtms cũng cung cấp thêm góc nhìn về vật liệu tiên tiến có thể ứng dụng trong các quy trình công nghiệp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ công nghệ vật liệu nghiên cứu cấu trúc và tính hấp phụ của giả vật liệu al2o3 anot hóa aao template sợi nano ag sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về cấu trúc và tính chất của vật liệu nano trong các ứng dụng thực tiễn.