Nghiên Cứu Tổng Hợp Nanocomposite MoS2/Graphene Oxide Bằng Phương Pháp Thủy Nhiệt

Nghiên cứu tổng hợp nanocomposite MoS2 graphene oxide bằng phương pháp thủy nhiệt và khả năng kháng khuẩn, mở ra ứng dụng trong y tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2023

84
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về vật liệu Graphene

1.2. Phương pháp tổng hợp

1.3. Tổng quan về vật liệu MoS2

1.4. Các phương pháp tổng hợp

1.5. Tổng quan về vật liệu MoS2/Graphene

1.6. Phương pháp tổng hợp

1.7. Cơ chế kháng khuẩn

1.7.1. Cấu tạo vi khuẩn

1.7.2. Cơ chế kháng khuẩn

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Hóa chất, dụng cụ và thiết bị

2.2. Dụng cụ và thiết bị

2.3. Tổng hợp vật liệu

2.3.1. Tổng hợp Grapheneoxide theo thương pháp Hummer cải tiến

2.3.2. Tổng hợp vật liệu nanocomposite MoS2/GO

2.4. Các phương pháp nghiên cứu và đánh giá vật liệu

2.4.1. Đánh giá hình thái cấu trúc bề mặt bằng FE – SEM

2.4.2. Phương pháp phân tích phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX)

2.4.3. Phương pháp nhiễu xạ tia X

2.4.4. Phân tích quang phổ Raman

2.4.5. Phương pháp phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR)

2.5. Khảo sát khả năng kháng khuẩn của vật liệu MoS2/GO

2.5.1. Chuẩn bị dung dịch nuôi khuẩn

2.5.2. Khảo sát khả năng kháng khuẩn của vật liệu trên vi khuẩn E.

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Kết quả Grapheneoxide tổng hợp được

3.2. Kết quả tổng hợp nanocomposite MoS2/GO

3.3. Kết quả phân tích hình thái cấu trúc bề mặt

3.4. Kết quả phân tích thành phần hóa EDX

3.5. Kết quả phân tích nhiễu xạ tia X (XRD)

3.6. Kết quả phân tích phổ Raman

3.7. Phân tích kết quả đo FTIR

3.8. Khảo sát khả năng kháng khuẩn của vật liệu MoS2/GO

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên cứu Nanocomposite MoS2 Graphene Oxide

Nghiên cứu về nanocomposite MoS2/Graphene Oxide đang thu hút sự chú ý lớn trong lĩnh vực vật liệu nano. MoS2 và Graphene Oxide là hai loại vật liệu có tính chất độc đáo, hứa hẹn mang lại nhiều ứng dụng trong y sinh và công nghệ. Việc tổng hợp và nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của chúng có thể mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các vật liệu kháng khuẩn hiệu quả.

1.1. Đặc điểm của MoS2 và Graphene Oxide

MoS2 là một loại vật liệu hai chiều với cấu trúc độc đáo, trong khi Graphene Oxide là dạng oxy hóa của graphene. Cả hai đều có khả năng kháng khuẩn và được nghiên cứu rộng rãi trong các ứng dụng y sinh.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu nanocomposite

Nghiên cứu nanocomposite MoS2/Graphene Oxide không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tính chất của chúng mà còn mở ra cơ hội ứng dụng trong các lĩnh vực như y tế, điện tử và năng lượng.

II. Thách thức trong việc tổng hợp Nanocomposite MoS2 Graphene Oxide

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc tổng hợp nanocomposite MoS2/Graphene Oxide gặp phải một số thách thức. Các vấn đề như độ ổn định, khả năng phân tán và tương tác giữa các thành phần là những yếu tố cần được giải quyết để tối ưu hóa hiệu suất của vật liệu.

2.1. Vấn đề độ ổn định của vật liệu

Độ ổn định của nanocomposite MoS2/Graphene Oxide là một yếu tố quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc điều chỉnh tỉ lệ giữa MoS2 và Graphene Oxide có thể ảnh hưởng đến độ ổn định của vật liệu.

2.2. Khả năng phân tán trong dung môi

Khả năng phân tán của MoS2 và Graphene Oxide trong dung môi là một thách thức lớn. Việc tìm kiếm các phương pháp tối ưu để cải thiện khả năng phân tán sẽ giúp nâng cao hiệu suất của nanocomposite.

III. Phương pháp tổng hợp Nanocomposite MoS2 Graphene Oxide hiệu quả

Phương pháp thủy nhiệt là một trong những cách hiệu quả để tổng hợp nanocomposite MoS2/Graphene Oxide. Phương pháp này không chỉ đơn giản mà còn giúp kiểm soát tốt các điều kiện tổng hợp, từ đó tạo ra vật liệu với tính chất mong muốn.

3.1. Quy trình tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt

Quy trình tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt bao gồm các bước như chuẩn bị dung dịch, điều chỉnh nhiệt độ và thời gian phản ứng. Điều này giúp tạo ra nanocomposite với cấu trúc đồng nhất.

3.2. Đánh giá tính chất của vật liệu tổng hợp

Sau khi tổng hợp, việc đánh giá tính chất của nanocomposite MoS2/Graphene Oxide là rất quan trọng. Các phương pháp như FE-SEM, XRD và FTIR được sử dụng để phân tích cấu trúc và tính chất của vật liệu.

IV. Khả năng kháng khuẩn của Nanocomposite MoS2 Graphene Oxide

Khả năng kháng khuẩn của nanocomposite MoS2/Graphene Oxide đã được nghiên cứu và chứng minh qua nhiều thử nghiệm. Vật liệu này cho thấy hiệu quả cao trong việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn, đặc biệt là E. coli.

4.1. Thử nghiệm khả năng kháng khuẩn

Các thử nghiệm cho thấy rằng nanocomposite MoS2/Graphene Oxide có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn E. coli. Kết quả này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển vật liệu kháng khuẩn.

4.2. Cơ chế kháng khuẩn của vật liệu

Cơ chế kháng khuẩn của nanocomposite MoS2/Graphene Oxide liên quan đến việc tạo ra các oxy hoạt động, gây tổn thương cho màng tế bào vi khuẩn. Điều này giúp nâng cao hiệu quả kháng khuẩn của vật liệu.

V. Ứng dụng thực tiễn của Nanocomposite MoS2 Graphene Oxide

Nanocomposite MoS2/Graphene Oxide có nhiều ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực như y sinh, điện tử và năng lượng. Việc phát triển và ứng dụng vật liệu này có thể mang lại nhiều lợi ích cho xã hội.

5.1. Ứng dụng trong y sinh

Vật liệu nanocomposite MoS2/Graphene Oxide có thể được sử dụng trong các ứng dụng y sinh như vật liệu kháng khuẩn, giúp bảo vệ sức khỏe con người.

5.2. Ứng dụng trong công nghệ điện tử

Trong lĩnh vực điện tử, nanocomposite MoS2/Graphene Oxide có thể được sử dụng để phát triển các thiết bị điện tử tiên tiến, nhờ vào tính dẫn điện và tính chất quang học của chúng.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của Nghiên cứu

Nghiên cứu về nanocomposite MoS2/Graphene Oxide đã mở ra nhiều hướng đi mới trong việc phát triển vật liệu kháng khuẩn và ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều đột phá trong công nghệ vật liệu.

6.1. Tương lai của nghiên cứu vật liệu nano

Tương lai của nghiên cứu vật liệu nano, đặc biệt là nanocomposite MoS2/Graphene Oxide, sẽ tiếp tục được mở rộng với nhiều ứng dụng mới trong y sinh và công nghệ.

6.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Định hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc cải thiện khả năng kháng khuẩn và tối ưu hóa quy trình tổng hợp để phát triển các vật liệu mới với tính năng vượt trội.

10/07/2025
Nghiên cứu tổng hợp nanocomposite mos2 graphene oxide bằng phương pháp thủy nhiệt và khả năng kháng khuẩn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về vật liệu Graphene. Graphene là một vật liệu nano hai chiều (2D) được tạo thành từ đơn lớp các nguyên tử carbon trong đó mỗi nguyên tử carbon được gắn với ba nguyên tử carbon khác với lai hóa sp2 và được sắp xếp chặt vào mạng tinh thể lục giác [1]. Do đó, nó có những đặc tính độc đáo và tinh tế dẫn đến ứng dụng của nó trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu bao gồm điện tử, cảm biến, các lĩnh vực liên quan đến năng lượng, xử lý nước và các ứng dụng y sinh [2].

Nhờ sự đa dạng trong ứng dụng cũng như các đặc tính nó nổi lên nhanh chóng trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, kể từ khi được phát hiện vào năm 2004 bởi Andre Geim và Konstantin Novoselov bằng phương pháp bóc tách các lớp ra khỏi than chì [3]. Ưu điểm quan trọng của việc sử dụng GO là được sử dụng như một chất phụ gia trong quá trình chế tạo vật liệu nanocomposite mà không thể sử dụng trực tiếp graphene[2].1: Mạng tinh thể lục giác của graphene [5]. Graphene là một dạng thù hình của carbon trong đó mỗi nguyên tử tạo thành mỗi đỉnh với lai hóa sp2. Độ dài liên kết carbon – carbon (C – C) khoảng 0.142 nm, có ba liên kết  trong mỗi mạng các liên kết tạo thành cấu trúc hình lục giác ổn định.

Tính ổn định của Graphene là do các nguyên tử carbon sắp xếp chặt chẽ và sự lai hóa sp2 là sự kết hợp của các quỹ đạo s, Px và Py tạo thanh liên kết . Điện tử Pz cuối cùng tạo thành liên kết π. Các liên kết π lai hóa với nhau để tạo thành π và π* [5]. Graphene có cấu trúc phân tử thể hiện nhiều hình thái khác nhau: khi được bọc trong cấu trúc 0D, nó tạo thành các phân tử hình cầu gọi là fullerene; khi cuộn lại thành cấu trúc 1D, nó tạo thạnh các ống nano carbon; khi được trải thành tấm 2D đơn lẻ thì nó là graphene; và khi các tấm 2D xếp chồng lên nhau tạo thành cấu trúc 3D thì nó là than chì [6].2: Graphene và các hình thái cấu trúc khác nhau: 0D fullerene, 1D nanotube và 3D graphite [6].

2 GO được biết tới là một tấm than chì bị oxy hóa mỏng vô hạn (độ dày cấp nguyên tử), hiện tại vẫn chưa có mô hình chính xác nào về cấu trúc của GO và vấn đề này đã gây ra nhiều cuộc thảo luận. GO là một vật liệu phức tạp (phát sinh từ các thành phần nguyên tử vô định hình và không cân bằng hóa học của nó), hiện tại không có kỹ thuật phân tính chính nào về cấu trúc của GO. Vấn đề về cấu trúc của GO vẫn luôn được nghiên cứu và một số mô hình cấu trúc đã được đề xuất như: mô hình cấu trúc của Hofmann, Rues, Scholz – Boehm, Nakajima Matsuo, Lerf – Klinowski và Dekany. Hiện tại mô hình cấu trúc GO của Lerf – Klinowski là mô hình được chấp nhận nhất [6].3: Mô hình Graphene oxide của Lerf – Klinowski [7].

Graphene là một loại vật liệu siêu mỏng và siêu nhẹ với độ dày chỉ 0.35 nm mật độ phẳng là 0. Như đã nói ở phần trên, một cấu trúc đơn vị của Graphene là một vòng carbon lục giác có diện tính là 0. Một vòng như vậy bao gồm 2 nguyên tử carbon do mỗi nguyên tử ở mỗi đỉnh được chia sẻ chung với ba vòng đơn vị. Ngoài ra, Graphene 3 chỉ bao gồm một lớp nguyên tử carbon điều này cũng góp phần tạo nên điêu điểm của nó là siêu mỏng và siêu nhẹ [5].

Một số báo cáo chỉ ra lợi ích từ độ dày của Graphene cho thấy độ truyền qua của ánh sáng khả kiến là 97.7% có nghĩa Graphene chỉ hấp thụ 2.3% lượng ánh sáng khả kiến. Và độ truyền qua của Graphenegiảm tuyến tính (2.3%) theo số lớp đối với Graphene n lớp [5], [8]. Graphene được biết tới là vật liệu có cấu trúc tinh thể bên và cứng nhất trong số tất cả các vật liệu đã được biết đến, độ bền kéo và modul đàn hồi của Graphene lần lượt là 125 Gpa và 1,1 TPa. Trong khi giới hạn độ bền của nó đạt 42 N/m, độ bền của Graphene gấp khoảng 100 lần so với độ bền của thép.

Nhờ có độ bền cao Graphene có thể coi là một dạng tăng cường điển hình cho các ứng dụng tiềm năng của vật liệu nanocomposite [5], [8]. Độ dẫn nhiệt của Graphene đạt khoảng 5000 Wm-1 K-1 cao hơn 10 lần so với độ dẫn nhiệt của đồng (401 Wm-1 K-1) [5]. Nhờ đặc tính dẫn nhiệt vượt trội của Graphene là có lợi cho các ứng dụng điện tử nó đã được đề xuất như là một vật liệu để quản lý nhiệt [8]. Tính linh động của electron trong Graphene cực cao 2x105 cm2/V s.

gần gấp 140 lần tính linh động trong silicon. Nhờ đó mà Graphene có độ dẫn điện cao ở nhiệt độ phòng, với độ dẫn điện 106 S/m và điện trở tấm 31 Ω/sp. Độ dẫn điện của Graphene cũng có thể được điều khiền bằng cách thêm một nguyên tử hydro vào mỗi nguyên tử carbon mà không phá vỡ mạng lục giác, tạo vật liệu cách điện [5]. Phương pháp tổng hợp.

Lần đầu tiên Graphene được tổng hợp theo phương pháp bóc tách cơ học đơn giản nhưng hiệu quả để tách ra những lớp mỏng graphenetừ tinh thể graphite bằng loại băng dính Scot và sau đó đưa lớp nền này lên một chất nền silicon [3], [6]. Sau đó, với sự phát triển nhanh chóng hàng loạt các phương pháp tổng hợp Grapheneđược ra đời. Các phương pháp đó được chia làm hai nhóm phương pháp chính: tổng hợp tự trên xuống (top – down) và tổng hợp từ dưới lên (bottom – up) [9]. 4 Phương pháp tổng hợp Graphene từ trên xuống đơn giản là chuyển đổi than chì thành Graphenebằng phương pháp oxy hóa – khử, bóc tách pha lỏng (LPE), bóc tách điện hóa, bóc tách pha rắn và các phương pháp phóng điện hồ quang.

Bởi vì các phương pháp tổng hợp đơn giản có thể tổng hợp với quy mô lớn nên các phương pháp này dùng để sản xuất Graphene thương mại [9]. Ngược lại với phương pháp tổng hợp từ trên xuống thì phương pháp tổng hợp từ dưới lên đòi quá trình tổng hợp với các điều kiện hoạt động phức tạp thường được nghiên cứu tổng hợp ở các phòng thí nghiệm. Một số phương pháp tổng hợp Graphene từ dưới lên như lắng đọng hơi hóa học (CVD), nhiệt phân bằng laser và nhiệt, tăng trưởng epiticular và tổng hợp hữu cơ trực tiếp. Các phương pháp trên lấy các tiền chất carbon, chẳng hạn như khí chứa carbon, hydrocarbon thơm và polyme [9].

Dựa vào các tính chất độc đáo nổi bật của Graphene đã có nhiều nghiên cứu về tính ứng dụng của Graphenetrong các lĩnh vực điện tử (màn hình cảm ứng, giấy điện tử, transitor tần số cao…), quang học (bộ tách sóng quang, độ điều biến quang, bộ điều khiển phân cực,…), vật liệu tổng hợp, sơn và lớp phủ, sản xuất và lưu trữ năng lượng (pin, siêu tụ,…), cảm biến và đo lường và các ứng dụng sinh học [10]. Tổng quan về vật liệu MoS2. Dichalcogenide là hợp chất hóa học bao gồm một kim loại chuyển tiếp thuộc nhóm IVB, VB, VIB, VIIB và một nguyên tố chalcogen từ nhóm VIA [12].4: Cấu trúc của một phân tử molypden disulfide [13]. Trong đơn lớp Molybden disulfua, Mo có mang oxy hóa là Mo+4 và Lưu Huỳnh mang số oxy hóa là S-2 được sắp xếp theo cấu trúc bánh sandwich bằng các liên kết cộng hóa trị theo trình tự S – Mo – S.

Mặt khác, các lớp S – Mo – S liên kết với nhau bằng liên kết Van der Waals khá yếu, mỗi lớp có độ dày 0.5: Cấu trúc ba chiều về cấu trúc của MoS2 [13]. 6 MoS2 có thể tạo thành ba loại cấu trúc dựa trên sự xếp chồng nguyên tử là 1T, 2H và 3R trong đó chữ số viết tắt của số lớp trong ô đơn vị và các chữ cái là viết tắt biểu thị cấu trúc đối xứng [12], [16]. Cấu trúc biểu thị đối xứng tam giác (Triagonal) (được gọi là 1T), được phối trí Mo – S là bát diện, với thông số mạng a = 5.99 Å và có tính chất á kim hoặc kim loại. Cấu trúc biểu thị đối xứng lục giác (Hexagonal) (gọi là 2H), có các thông số mạng a = 3.

Cấu trúc biểu thị đối xứng hình thoi (Rhombohedral) (gọi là 3R), có thông số mạng a = 3.38 Å, cả hai cấu trúc 2H và 3R đều có phối trí Mo – S là lăng trụ tam giác và mang tính chất bán dẫn [11], [12].6: Các trình tự phối hợp và sắp xếp khác nhau của ba cấu trúc MoS2 1T, 2H và 3R [11]. MoS2 thường được tìm thấy chủ yếu ở dạng 2H do nó là pha ổn định về mặt nhiệt động, thường xuất hiện trong các tinh thể MoS2 tồn tại tự nhiên như Molybdenite [12], [15], 7 [17]. Trong cấu trúc này mỗi nguyên tử Molybden nằm ở giữa một hình cầu kết hợp với một hình lăng trụ đáy tam giác có liên kết cộng hóa trị với sau ion sulfide. Mỗi nguyên tử Lưu Huỳnh có liên kết với ba nguyên tử Molybden theo dạng chóp [16].

Cả hai pha 1T và 3R đều có cấu trúc siêu bền, thường được tìm thấy trong MoS2 tổng hợp [12]. Pha 2H – MoS2 có thể chuyển đổi thành pha 1T bằng cách sử dụng sự xen kẽ của các sự trôi dạt nguyên tử trong lớp. Và dạng 2H là dạng được quan tâm nhất vì nó tồn tại bền vừng và mang tính chất đặc trưng của kim loại chuyển tiếp và đặc tính bán dẫn [16]. MoS2 đơn lớp có độ bền cao và độ đàn hồi tốt, với modul young là 0.

Trong một số nghiên cứu khác, người ta cho thấy rằng modul Young của MoS2 đơn lớp là 0.27 Tpa lớn hơn khi so với modul Young của MoS2 dạng khối là 0. Không giống các chất bán dẫn khác, tính mềm dẻo của MoS2 ngăn cản sự biến dạng và dịch chuyển vùng cấm có thể xảy ra với cấu trúc tinh thể của nó khi chịu lực căng [11]. MoS2 đa lớp được biết đến là có năng lượng vùng cấm gián tiếp là 1.2 eV, năng lượng vùng cấm của MoS2 tăng lên cùng với sự giảm số lớp cho đến khi đạt được năng lượng vùng cấm trực tiếp là 1.8 eV đối với MoS2 đơn lớp. Lực căng cơ học được sử dụng để thay đổi các đặc tính điện tử của MoS2 và biến đổi từ chất bán dẫn thành kim loại [11].

MoS2 đơn lớp có thể tạo ra 10% ánh sáng có năng lượng lớn hơn năng lượng dải.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tổng Hợp Nanocomposite MoS2/Graphene Oxide và Khả Năng Kháng Khuẩn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình tổng hợp và đặc tính kháng khuẩn của vật liệu nanocomposite MoS2 và graphene oxide. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các phương pháp tổng hợp mà còn chỉ ra tiềm năng ứng dụng của chúng trong lĩnh vực y tế và bảo vệ môi trường. Đặc biệt, khả năng kháng khuẩn của vật liệu này mở ra nhiều cơ hội mới cho việc phát triển các sản phẩm kháng khuẩn hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vật liệu nanocomposite, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu tổng hợp và khả năng kháng khuẩn của vật liệu nanocomposite tio2 graphene oxide bằng phương pháp thủy nhiệt, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về một loại nanocomposite khác với tính năng kháng khuẩn tương tự. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật vật liệu tổng hợp nanocomposite mos2graphene bằng phương pháp thủy nhiệt và nghiên cứu tính chất quang và điện của chúng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp tổng hợp và tính chất của nanocomposite MoS2/Graphene. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật vật liệu nghiên cứu tổng hợp và đặc trưng tính chất quang vật liệu nanocomposite tio2go tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt cũng là một nguồn tài liệu quý giá để bạn khám phá thêm về tính chất quang của các vật liệu nanocomposite.

Mỗi liên kết trên đều là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào lĩnh vực này và mở rộng kiến thức của mình.