MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CHƢƠNG 2. THỰC NGHIỆM CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6 CHƢƠNG 1.
GIỚI THIỆU VỀ XÚC TÁC QUANG 1. Khái niệm xúc tác quang Xúc tác quang là lĩnh vực khoa học liên ngành có nguồn gốc từ sự giao thoa của lĩnh vực hóa học, vật lý và sinh học. Một phần xúc tác quang có nét tương đồng với quá trình quang hợp trong sinh học. Thuật ngữ xúc tác quang đã được Plotnikow lần đầu tiên đề cập trong cuốn sách “Allgemeine Photochemie” vào năm 1910.
Từ xúc tác quang sau đó được giới thiệu ở Pháp vào năm 1913 bởi Landau. Đến năm 1972, Fujishima và Honda đã tiến hành quá trình quang tách nước bằng cách sử dụng điện cực bán dẫn TiO2. Nghiên cứu này được xem là khơi mào cho một loạt các nghiên cứu sau này về lĩnh vực xúc tác quang [1]. Từ xúc tác quang là sự kết hợp của hai từ gồm từ “photo” trong từ “phos” của tiếng Hy Lạp, nghĩa là ánh sáng và “catalysis” trong từ “katalyo” của tiếng Hy Lạp, nghĩa là phân hủy.
Theo IUPAC, thuật ngữ xúc tác quang được dành cho các phản ứng được thực hiện với sự có mặt của chất bán dẫn và ánh sáng. Từ những lập luận trên, thuật ngữ xúc tác quang có thể được định nghĩa như sau: “Xúc tác quang là quá trình hóa học xảy ra khi chất bán dẫn sử dụng ánh sáng để kích hoạt quá trình quang hóa diễn ra nhằm tăng tốc độ phản ứng” Ngày nay, xúc tác quang được xem là một trong những kĩ thuật hóa học xanh và triển vọng để thay thế cho các phương pháp hóa học truyền thống trong xử lý ô nhiễm. Điều này bắt nguồn từ các ưu điểm nổi bật như (i) sử dụng trực tiếp nguồn năng lượng vô hạn là ánh sáng mặt trời để kích hoạt phản ứng xúc tác quang, (ii) phân hủy hoàn toàn hợp chất hữu cơ thành sản phẩm vô cơ đơn giản, (iii) khả năng tái sử dụng cao và (iv) chi phí thấp. Phân loại xúc tác quang Dựa vào thành phần pha của các chất trong hệ phản ứng, chúng ta có thể phân thành hai loại xúc tác quang: - Xúc tác quang đồng thể: Khi chất phản ứng và chất xúc tác quang tồn tại cùng pha với nhau trong hệ phản ứng.
- Xúc tác quang dị thể: Khi chất phản ứng và chất xúc tác quang tồn tại khác pha với nhau trong hệ phản ứng. Cơ chế phản ứng xúc tác quang 1. Cấu trúc vùng điện tử Theo lý thuyết vùng, cấu trúc điện tử của vật chất gồm ba vùng là vùng hóa trị (valence band – VB), vùng dẫn (conduction band – CB) và vùng cấm (band gap – BG). Trong đó, vùng hóa trị là vùng gồm những obital phân tử liên kết được điền đầy electron, vùng dẫn là vùng gồm những obital phân tử không liên kết còn trống electron.
Hai vùng này được cách nhau bởi một vùng năng lượng được gọi là vùng cấm, đặc trưng bởi năng lượng vùng cấm (band gap energy – Eg). Giá trị năng lượng vùng cấm là độ chênh lệch năng lượng tính từ cực đại vùng hóa trị (valence band maximum – VBM) đến cực tiểu vùng dẫn (conduction band minimum – CBM) và được mô tả ở hình 1. Cấu trúc vùng năng lƣợng 8 Vị trí vùng điện tử và năng lượng vùng cấm giữa các vật liệu thường khác nhau. Dựa vào tính chất dẫn điện của vật liệu, người ta phân chia vật liệu thành ba nhóm gồm chất dẫn điện, chất bán dẫn và chất cách điện.
Kim loại dẫn điện được do vùng hóa trị và vùng dẫn xếp chồng lên nhau. Trong khi đó, chất bán dẫn và chất cách điện có VB và CB cách nhau bởi vùng cấm. Những chất có Eg nằm trong vùng từ 1 eV đến 6 eV là chất bán dẫn, ngược lại những chất có Eg lớn hơn 6 eV là chất cách điện. Chất bán dẫn có giá trị Eg trung gian giữa chất dẫn điện và chất cách điện [35].
Khi chất bán dẫn nhận được kích thích quang đủ lớn (lớn hơn hoặc bằng năng lượng vùng cấm Eg), các electron trong VB có thể vượt qua vùng cấm để nhảy lên CB, trở thành chất dẫn điện có điều kiện. Phân loại cấu trúc vùng cấm Vùng cấm của vật liệu bán dẫn thường được chia thành hai loại là vùng cấm trực tiếp và vùng cấm gián tiếp. Trạng thái năng lượng cực tiểu ở vùng dẫn và trạng thái năng lượng cực đại ở vùng hóa trị được đặc trưng bởi một động lượng tinh thể p trong vùng Brillorin. Ở trạng thái rắn, vectơ động lượng tinh thể p như một vectơ đi kèm với các electron trong mạng tinh thể.
Chúng được xác định bởi các vectơ sóng k trong mạng theo biểu thức p k. Đối với vật liệu bán dẫn có vùng cấm trực tiếp, các vectơ k này là như nhau. Điều đó có nghĩa là cực tiểu vùng dẫn và cực đại vùng hóa trị có cùng giá trị động lượng, tương ứng với động lượng tinh thể của electron và lỗ trống ở cả hai vùng như nhau. Khi đó, một elctron có thể trực tiếp phát ra một photon.
Ngược lại, nếu giá trị k là khác nhau thì vật liệu bán dẫn này sở hữu vùng cấm gián tiếp. Trong bán dẫn gián tiếp, một photon không thể được phát ra trực tiếp do electron phải đi qua trạng thái trung gian và truyền động lượng tới mạng tinh thể, như được biểu diễn ở hình 1. Các dạng vùng cấm: (a) Vùng cấm trực tiếp (b) Vùng cấm gián tiếp [83] g-C3N4 đơn lớp phẳng có cấu trúc vùng cấm gián tiếp. Tuy nhiên, sự có mặt của các phân tử nước được hấp phụ trên bề mặt đơn lớp g-C3N4 làm ảnh hưởng đến cấu trúc vùng cấm.
Vùng cấm của g-C3N4 có thể thay đổi sang vùng cấm trực tiếp nếu các phân tử nước chỉ được hấp phụ trên một mặt g- C3N4 tạo thành cấu trúc g-C3N4 đơn lớp dạng cong. Trái lại, khi các phân tử nước được hấp phụ trên cả hai mặt của tấm g-C3N4 thì tấm đơn lớp g-C3N4 vẫn giữ nguyên cấu trúc phẳng với cấu trúc vùng cấm gián tiếp [93]. Cơ chế phản ứng xúc tác quang Quá trình xúc tác quang dị thể có thể được tiến hành ở pha khí hoặc pha lỏng. Cơ chế của quá trình này được chia thành 7 giai đoạn như sau [36]: - Giai đoạn 1: Chất bán dẫn hấp thụ năng lượng photon ánh sáng.
Hình thái bề mặt và cấu trúc tinh thể của chất xúc tác quang ở giai đoạn này sẽ tác động mạnh đến khả năng hấp thụ quang. Để cải thiện khả năng hấp thụ quang nhờ hiệu ứng phản xạ và tán xạ, các kỹ thuật khác nhau như xây dựng kiến trúc mao quản trung bình hoặc cấu trúc nano có thể được sử dụng. - Giai đoạn 2: Electron hóa trị bị kích thích được tách ra khỏi vùng hóa trị dưới bức xạ có năng lượng photon cao hơn hoặc bằng năng lượng vùng cấm của chất bán dẫn, đồng thời để lại lỗ trống tích điện dương trong vùng hóa trị. 10 - Giai đoạn 3: Cặp electron – lỗ trống quang sinh di chuyển đến bề mặt chất bán dẫn.
- Giai đoạn 4,5: Sự tái tổ hợp electron – lỗ trống quang sinh bên trong ở giai đoạn 4 và trên bề mặt ở giai đoạn 5 của chất bán dẫn. Lỗ trống mang điện tích dương khuếch tán tự do trong vùng hóa trị, do đó các electron khác có thể nhảy vào lỗ trống để bão hòa điện tích, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi ra. Các electron quang sinh trên vùng dẫn cũng có xu hướng tái kết hợp với các lỗ trống quang sinh trong vùng hóa trị, kèm theo việc giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt hoặc ánh sáng. Quá trình này không thuận lợi cho việc tách và chuyển điện tích đến tâm hoạt động trên bề mặt.
Thông thường, giảm chiều dài khuếch tán của chất mang điện quang sinh hoặc xây dựng các điện trường giao thoa có thể làm giảm sự tái tổ hợp một cách hiệu quả. - Giai đoạn 6,7: Các phản ứng trên bề mặt chất bán dẫn gồm quá trình khử đối với electron ở giai đoạn 6 và quá trình oxy hóa đối với lỗ trống ở giai đoạn 7. Như vậy, chỉ có các electron và lỗ trống đủ năng lượng di chuyển đến bề mặt chất bán dẫn mà không tái tổ hợp mới bị giữ lại ở các tâm hoạt động trên bề mặt và tiếp tục tham gia các phản ứng oxy hóa – khử với chất hấp phụ như nước và oxy tạo ra các gốc tự do trên bề mặt chất bán dẫn. Các gốc tự do và sản phẩm trung gian như •OH, •O2-, H2O2, O2, v.v đóng vai trò quan trọng trong cơ chế phân hủy các hợp chất hữu cơ để tạo thành sản phẩm vô cơ đơn giản như CO2, H2O và các ion khoáng.
Tại giai đoạn 2, phản ứng xúc tác quang khác phản ứng xúc tác truyền thống ở cách kích hoạt xúc tác. Trong phản ứng xúc tác truyền thống, quá trình xúc tác quang thường được kích hoạt bởi năng lượng nhiệt. Ngược lại, quá trình xúc tác quang được kích hoạt bởi sự hấp thụ ánh sáng thích hợp. Mô hình cơ chế của quá trình xúc tác quang được trình mô tả ở hình 1.
11 Qúa trình quang hợp Qúa trình xúc tác quang Hình 1. Mô hình quang hợp và cơ chế xúc tác quang [36] Hiệu suất lượng tử là tổng hợp hiệu quả của tất cả các giai đoạn chính trong phản ứng, xác định theo công thức: yc = yabs × ycs × ycmt × ycu Trong đó, yabs là hiệu suất hấp thụ ánh sáng, ycs là hiệu suất tách điện tích, ycmt là hiệu suất chuyển điện tích và ycu hiệu quả sử dụng điện tích [38] 1. Nhiệt động học và sự hình thành nhóm hoạt tính chứa oxy trong quá trình xúc tác quang 1. Nhiệt động học của quá trình xúc tác quang Các nửa phản ứng oxy hóa – khử xảy ra trên bề mặt chất bán dẫn bị giới hạn bởi vị trí VBM và CBM.
Chất bán dẫn khác nhau có biên vùng dẫn và biên vùng hóa trị thường khác nhau (ở hình 1. Cấu trúc vùng của các chất bán dẫn khác nhau 12 Thế của các biên này sẽ xác định tính khả thi nhiệt động học của các nửa phản ứng có thể xảy ra. Vì vậy, thế khử của chất xúc tác quang và các chất trung gian được hình thành trong phản ứng xúc tác quang cần phải được khảo sát. Tuy nhiên, thế khử của các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ thường phụ thuộc vào điều kiện phản ứng như pH hoặc chất điện giải được sử dụng.