CHƯƠNG 1. Phản ứng nhiều thành phần 1. Tổng quan về phản ứng nhiều thành phần Phản ứng nhiều thành phần (multicomponent reaction – MRC) là các phản ứng hóa học trong đó ba hoặc nhiều chất ban đầu phản ứng với nhau để tạo thành sản phẩm, về cơ bản tất cả hoặc hầu hết các thành phần đều góp phần tạo nên sản phẩm. Trong phản ứng nhiều thành phần, sản phẩm được tạo thành từ một loạt các phản ứng hóa học cơ bản và qua nhiều giai đoạn để tạo thành sản phẩm chứa hầu hết các nguyên tử của các nguyên liệu ban đầu [4].
Hiệu suất của phản ứng nhiều thành phần phụ thuộc vào các điều kiện phản ứng như: dung môi, nhiệt độ, chất xúc tác, nồng độ các chất ban đầu và các nhóm chức [28]. + + 3-CR + + + 4-CR Hình 1. Sơ đồ minh họa phản ứng nhiều thành phần Dựa vào phản ứng nhiều thành phần đề tài đã tổng hợp được ba dẫn xuất 4- acetyl-2-pyrrolidinone từ benzaldehyde thơm, aniline thơm và ethyl 2,4-dioxovalerate với dung môi là acetic acid. Phản ứng nhiều thành phần được thực hiện thành công vào những năm giữa thế kỉ XIX.
Hợp chất α-amino acid được tổng hợp bằng phản ứng nhiều thành phần và được công bố bởi Adolph Strecker năm 1850. Trong giai đoạn này phản ứng nhiều thành phần ít thu hút sự chú ý của các nhà hóa học. Sự phổ biến của nó tăng lên nhanh chóng sau sự xuất hiện của phản ứng 4 thành phần được thực hiện bởi Ugi và đồng nghiệp vào năm 1959, đó là phản ứng của ketone hoặc aldehyde với amine, isocyanide, acid carboxylic để hình thành một bis-amide. Kể từ đây, MCR được áp dụng rộng rãi trong tổng hợp hữu cơ và tổng hợp phần lớn các chất có hoạt tính sinh 5 học và những phân tử có nhóm chức [28].
Phản ứng nhiều thành phần được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực hóa học vì nó rất phổ biến và tạo ra một lượng lớn sản phẩm. Trong quá trình này, những phân tử mục tiêu có độ chọn lọc cao sẽ được cô lập và tinh chế. Một thuận lợi khác của phản ứng này là sử dụng những nguyên liệu đơn giản và sẵn có, thí nghiệm đơn giản, nguyên liệu có giá thành thấp và thân thiện với môi trường cũng như dung môi ít độc hại. Ngoài ra, phản ứng nhiều thành phần cho phép sự thay đổi có hệ thống và có khả năng tự động hóa.
Vì vậy phản ứng nhiều thành phần nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp hóa dược và trở thành con đường tổng hợp thuốc lý tưởng [28]. Một số phản ứng nhiều thành phần 1. Phản ứng Ugi Phản ứng được đặt tên Ugi để vinh danh nhà hóa học Ivar Karl Ugi, phản ứng được công bố lần đầu tiên vào năm 1959. Phản ứng Ugi là phản ứng đa thành phần dùng để điều chế bis-amide từ một một acid carboxylic và hợp chất chứa nhóm carbonyl như aldehyde hoặc ketone, amine, isocyanide [10, 20, 31].
Phản ứng tổng quát Hình 1. Phản ứng Ugi tổng quát Cơ chế phản ứng Giai đoạn đầu tiên là sự hình thành imine từ phản ứng giữa amine với aldehyde, tiếp theo là phản ứng của acid carboxylic với imine để tạo thành ion iminium. Ion iminium này sẽ phản ứng với isocyanide và anion của acid carboxylic tạo sản phẩm trung gian. Cuối cùng, sản phẩm trung gian này sẽ tham gia phản ứng chuyển vị nội phân tử để tạo thành sản phẩm cuối cùng bis-amide.
Cơ chế phản ứng Ugi Ứng dụng của phản ứng Ugi. - Phản ứng Ugi đã được ứng dụng để tổng hợp dị vòng 7 cạnh hay 8 cạnh [19]. Phản ứng Ugi tổng hợp dị vòng 8 cạnh - Dựa trên phản ứng Ugi, nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Văn Hùng, Viện Hoá sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, và các cộng sự đã tiến hành tổng hợp và xác định cấu trúc hóa học các dẫn xuất của artemisinin và acid shikimic có các hoạt tính chống virus, chống sốt rét và chống khối u.
Hợp chất artermisinin không chỉ được biết đến với hoạt tính chữa bệnh sốt rét mà còn được biết đến bởi hoạt tính chống virút viêm gan C khi kết hợp nó với hemin. Như vậy, đối với việc tổng hợp các dẫn xuất của artemisimin, nhóm nghiên cứu này đã tổng hợp được thành công 15 chất 11-aza- artemisimin. Công thức cấu tạo của artemisimin 7 - Petherr R. Andreana và cộng sự từ Đại học Wayne, Michigan, Hoa kỳ đã tiến hành tổng hợp thành công ngân hàng chất trên cơ sở phản ứng Ugi [33].
Tổng hợp các chất dựa trên phản ứng Ugi 1. Phản ứng Mannich [7] Phản ứng Mannich được đặt theo tên của nhà hóa học Carl Mannich. Đây là phản ứng đa thành phần tạo ra các hợp chất β-amino carbonyl còn được gọi là bazơ Mannich khi cho formaldehyde (HCHO) phản ứng với amine bậc một hoặc bậc hai hoặc amoniac. Sau đây là cơ chế của phản ứng Mannich trong môi trường acid [28].
Phản ứng tổng quát Hình 1. Phản ứng Mannich tổng quát Cơ chế phản ứng Trong giai đoạn đầu, amine và formaldehyde phản ứng với nhau để hình thành ion iminium. Hợp chất carbonyl sẽ được chuyển về dạng enol và sau đó phản ứng vào ion iminium để tạo thành sản phẩm cuối cùng. 8 Ion iminium Hình 1.
Cơ chế phản ứng Mannich Ứng dụng của phản ứng Mannich. Trong dược phẩm phản ứng Mannich được sử dụng để điều chế một số loại thuốc như thuốc kháng sinh Rolitetraxylin [34], Tolmetin dùng để điều trị triệu chứng viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp. Ngoài ra phản ứng này cũng được dùng để tổng hợp các nhóm chất có tác dụng kích thích và điều hòa sinh trưởng của thực vật [8]. Rolitetraxylin Tolmetin Hình 1.
Một số dược phẩm được điều chế dựa vào phản ứngMannich 9 1. Phản ứng Binigelli [32] Phản ứng Biginelli là phản ứng tổng hợp dihydropyrimidinone từ β-keto ester như ethyl acetoacetate, aldehyde thơm như benzaldehyde và urea (hoặc thiourea) khi có mặt của xúc tác acid (acid Lewis hoặc Brönsted). Đây là phản ứng do nhà hóa học người Italia là Pietro Biginelli công bố vào năm 1891. Phản ứng tổng quát Hình 1.
Phản ứng Benigelli tổng quát Cơ chế phản ứng Hình 1. Cơ chế phản ứng Benigelli Ứng dụng của phản ứng Biginelli Phản ứng Biginelli dùng để tổng hợp các dihydropyrimidinone (DHPM), dihydropyrimidinone có hoạt tính sinh học phong phú nên được quan tâm nhiều trong ngành hóa dược. Nhiều nghiên cứu trên hợp chất 3,4- dihydropyrimidin-2(1H)-one cho thấy hợp chất này có nhiều hoạt tính sinh học quan trọng như kháng khuẩn, hạ huyết áp, kháng virus, chống ung thư [6]. Một số alkaloid được phân lập cũng có khung chứa 3,4-dihydropyrimidin-2(1H)-one.
Chính vì vậy, các nhà khoa học luôn không ngừng 10 nghiên cứu nhằm tổng hợp thành công các hợp chất có khung 3,4-dihydropyrimidin- 2(1H)-one từ phản ứng đa thành phần giữa các aldehyde thơm, ethyl acetoacetate và urea thông qua phản ứng Biginelli [12, 22]. Công thức cấu tạo của 3,4- dihydropyrimidin-2(1H)-one Hình 1. CTCT của 5-acetyl-6-methyl-4phenyl-3,4- dihydropyrimidin-2(1H)-one 1. Phản ứng Bucherer-Bergs Đây là phản ứng nhiều thành phần của các hợp chất carbonyl với ammonium carbonate ((NH4)2CO3) và potassium cyanide (KCN) để tạo ra hydantoin [28] Phản ứng tổng quát Hình 1.
Phản ứng Benigelli tổng quát Cơ chế phản ứng Hình 1. Cơ chế phản ứng Bucherer-Bergs 11 Ứng dụng của phản ứng Bucherer-Bergs. Phản ứng Bucherer-Bergs để điều chế hydantoin. Nhóm hợp chất hydantoin được ứng dụng nhiều trong dược phẩm vì chúng có hoạt tính sinh học mạnh.
Ví dụ phenytoin là dẫn xuất của hydantoin được sử dụng như một loại thuốc chống co giật, Imiprothrin là thành phần trong thuốc diệt côn trùng, Iprodione được sử dụng để diệt nấm trên cây ăn quả, rau, cây cảnh. Nó là một loại thuốc diệt nấm tiếp xúc có tác dụng ức chế sự nảy mầm của bào tử nấm và ngăn chặn sự phát triển của sợi nấm… Phenytoin Imiprothrin Iprodione Hình 1. Một số dược phẩm được tổng hợp dựa vào phản ứng Bucherer-Bergs 1. Phản ứng Hantzsch Phản ứng Hantzsch là phản ứng đa thành phần giữa aldehyde, β-ketone ester và amonium acetate (ammonia).
Phản ứng xảy ra trong môi trường nước hoặc dung môi với sự có mặt của xúc tác. Khi sử dụng triphenylphosphine làm xúc tác [9] sản phẩm dihydropyridine đạt hiệu suất lên tới 94% khi hàm lượng xúc tác là 20%. Phản ứng Hanztsch- xúc tác triphnylphosphine Kể từ công bố đầu tiên về tổng hợp các hợp chất dihydropyridine (DHP) của Hantzsch, một số công trình nghiên cứu đã được phát triển để điều chế hợp chất thuộc khung này do hoạt tính thú vị của chúng như chẹn kênh canxi, chống ung thư, chống viêm và giảm đau. Cụ thể, các hợp chất 1,4-DHP đóng vai trò quan trọng trong hóa dược, ví dụ như nifedipine, oxodipine, felodipine là những thuốc được dùng nhiều trong điều trị bệnh tim mạch.
12 Nifedipine Oxodipine Pelodipine Hình 1. Một số dược phẩm được tổng hợp dựa vào phản ứng Hantzsch Thông thường, 1,4-DHP được tổng hợp bằng phương pháp Hantzsch, là quá trình ngưng tụ đóng vòng giữa aryl hoặc alkyl aldehyde, hợp chất β-dicarbonyl và ammonia với xúc tác axit ở nhiệt độ phòng hoặc đun hồi lưu, thời gian phản ứng dài. Để khắc phục những nhược điểm của phản ứng Hantzsch cổ điển, đã có nhiều nghiên cứu phát triển các phương pháp hiệu quả hơn để tổng hợp 1,4-DHP, như sử dụng vi sóng [7], sử dụng nhiệt lượng mặt trời [11], siêu âm… Tuy nhiên, tất cả các phương pháp này đều gặp vấn đề là phản ứng ở điều kiện nhiệt độ cao, dung môi và xúc tác không thân thiện môi trường, độc hại, không phù hợp cho quá trình hóa dược. Sơ lược về 2-pyrrolidinone và dẫn xuất của chúng 1.
Sơ lược về 2-pyrrolidinone 1. Cấu tạo phân tử 2-pyrrolidinone là một loại hợp chất hữu cơ vòng lactam 5 cạnh với bốn nguyên tử carbon và một dị tố nitrogen trong cấu trúc phân tử. - Công thức phân tử: C4H7NO - Công thức cấu tạo: Hình 1. Công thức cấu tạo của 2-pyrrolidinone - Khối lượng phân tử: 85,11 g/mol - Tên hệ thống: pyrrolidin-2-one - Tên gọi khác: 2-pyrrolidone hoặc 2-pyrrolidinone - Tỷ trọng: 1.116 g/cm3 - Nhiệt độ sôi: 245°C 13 - Nhiệt độ nóng chảy: 25°C 1.
Tính chất - 2-pyrrolidinone là chất lỏng không màu, có mùi nhẹ, tan tốt trong nước và hầu hết các dung môi hữu cơ - Là một dung môi phân cực được sử dụng khá rộng rãi, là một chất trung gian để sản xuất polymer. - Là hợp chất quan trọng được tìm thấy trong nhiều dược phẩm và trong các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên. Những sản phẩm tự nhiên có chứa 2-pyrrolidione đều có hoạt tính sinh học mạnh. Điều chế Trong công nghiệp 2-pyrrolidinone được điều chế bằng phản ứng của - butyrolactone và ammonia ở nhiệt độ 250–290 oC và áp suất dao động từ 0,4–1,4 MPa trên chất xúc tác magnesium sillicate rắn.