MỞ ĐẦU Hiện nay thế giới đang đói đầu với hai thử thách: sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch và sự suy thoái về môi trường. Việc lạm dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch không suy nghĩ và mức tiêu thụ ngày càng tăng đã làm giảm đi nguồn tài nguyên carbon ở dưới lòng đất. Chính vì vậy, cần tìm nguồn nhiên liệu thay thé cho phép cân đối sự phát triển, bảo tồn, quản lý hiệu quả nguồn năng lượng và bảo vệ được môi trường. Nếu ở thế kỷ 20, nguồn năng lượng chủ yếu dựa trên than đá và dầu mỏ thì ở thế kỷ 21 nguồn năng lượng sẽ dựa vào những nguyên liệu nào? Có thể năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, sóng biến hay nguồn nhiệt trong lòng đất.
Tat cả nguồn năng lượng đó hiện đang được nghiên cứu ứng dụng nhưng giá thành của nó còn cao nên việc áp dụng đại trà còn nhiều trở ngại. Dầu mỡ động, thực vật đang là nguồn nhiên liệu được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nghiên cứu và ứng dụng thay cho nhiên liệu diesel (DO). Đây là nguồn năng lượng sạch, không gây ô nhiễm môi trường. Các nước Mỹ, Ao, Úc.từ lâu đã tận dụng nguồn nguyên liệu dầu mỡ động, thực vật để sản xuất nhiên liệu: mỡ cá basa, dầu đậu nành, dầu hạt cải, hạt lạc,.Nguồn nguyên liệu này không chỉ tạo ra hop chất hữu cơ cơ bản mà còn tạo ra nhiên liệu cho các động cơ đốt trong tương tự diesel của dầu mỏ.
Đó chính là biodiesel (BDF). Dự báo nguồn nguyên liệu này sẽ chiếm 15- 20% trong tổng nhu cầu nhiên liệu trên thế giới trong vòng 50 năm tới [1],[2]. Nhưng do nhu cau khan hiếm lương thực ngay càng tăng ở các nước châu Phi nên việc sử dụng các nguồn nguyên liệu từ mỡ cá, dầu đậu nành.để sản xuất biodiesel không phải là hướng khả thi. Nên việc tong hop BDF đi từ nguồn dầu không ăn được như dau hạt cao su đang khá được quan tâm.
Ở nước ta, cây cao su được trồng nhiều ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ và một sỐ huyện trong thành phố Hồ Chí Minh. Mỗi năm thu hoạch một lượng rất lớn hạt cao su nhưng đến nay chưa có một hướng tận dụng hiệu quả. Hàm lượng dầu trong hạt cao su có thể lên đến gần 40% [3]. Một số nơi đã ép thủ công để lấy dầu, chủ yếu dùng làm dau bôi trơn chứ không dùng làm dau thực phẩm do lẫn một số chất độc.
Do đó, dầu hạt cao su (DHCS) hầu như chưa có giá tri sử dụng đáng kế nhưng lại là 2 một nguôn nguyên liệu tốt cho quá trình sản xuất biodiesel. Vì thế gần đây có một số nghiên cứu trên thế giới đã dùng dau hạt cao su (DHCS) dé sản xuất biodiesel như An Độ, Nigeria. Chính vì điều đó, mục tiêu của luận văn này là tong hop biodiesel từ DHCS. Tuy nhiên khó khăn của DHCS là hàm lượng acid béo tự do (FFA) quá cao.
Mặc khác, để tăng khả năng phản ứng, từ trước đến nay xúc tác sử dụng chủ yếu trong sản xuất BDF là hydroxide kiềm như NaOH, KOH, KzCO¿. với ưu điểm cho hiệu suất phản ứng rất cao, dễ chế tạo, có bán sẵn trên thị trường. Tuy nhiên, nhược điểm của loại xúc tác này là dé tạo sản phẩm phụ xà phòng, khó tách, khó thu hồi sản phẩm chính, tốn nhiều nước để rửa sản phẩm, ô nhiễm môi trường. Đặc biệt các bazơ nay không thích hop cho phản ứng một giai đoạn khi dầu có hàm lượng FFA quá cao như DHCS.
Các nghiên cứu gần đây cũng chứng tỏ được khả năng ứng dụng của chất xúc tác dị thể vào quá trình điều chế BDF. Từ tat cả nguyên nhân trên, chúng tôi dé xuất phản ứng điều chế BDF từ DHCS có thêm giai đoạn xử lý FFA và thay thé hệ xúc tác bazơ cổ điển băng hệ xúc tác ran MgO biến tính trong quá trình transester hóa dé tong hop biodiesel từ dau hat cao su. 3 CHUONG I: TONG QUAN 1.1 Nguyên liệu tổng hop biodiesel 1.1 Cay cao su Cao su (danh pháp hai phan: Hevea brasiliensis), là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Đại kích (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Loại cây này cung cấp 95-97% lượng cao su thiên nhiên trên thé gidi[4].
Thông thường cây cao su có chiều cao khoảng 20 mét, rễ ăn rất sâu dé giữ vững thân cây, hap thu chất b6 dưỡng và chồng lại sự khô hạn. Cây có vỏ nhăn màu nâu nhạt. Lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần. Cây cao su bắt đầu rụng lá vào đầu mùa khô (xét theo khí hậu của miễn Đông Nam Bộ, ước lượng thời gian trước Tết Nguyên Đán khoảng 1 tháng).
Sau đó trong khoảng 3 tháng khi có những cơn mưa đầu mùa thì cây cao su mọc lá mới và trd bông. Hoa thuộc loại hoa đơn, hoa đực bao quanh hoa cái nhưng thường thụ phan chéo, vì hoa đực chín sớm hon hoa cái. Cây cao su tro bông, kết trái và bat đầu rụng hạt từ tháng 6 hàng năm. Thời gian rụng hạt kéo dài cho đến hết mùa mưa.
Quả cao su là quả nang có 3 mảnh vỏ ghép thành 3 buồng, mỗi nang một hạt có hàm lượng dau đáng ké. Hạt cao su có 4 hình bau dục, vỏ bóng láng, có ván đốm nâu, dài 2,5 — 3 cm, nặng khoảng 2-4g mỗi hat [13]. Cây phát triển tốt ở vùng nhiệt đới âm, có nhiệt độ trung bình từ 22°C đến 30°C (tốt nhất ở 26°C đến 28°C), cần mưa nhiều (tốt nhất là 2.000 mm) nhưng không chịu được sự úng nước và gió. Cây cao su có thể chịu được năng hạn khoảng 4 đến 5 tháng .Cây chi sinh trưởng bằng hạt, hạt dem ươm được cây non.
Khi trồng cây được 5 tuôi có thé khai thác mủ, và sẽ kéo dài trong vai ba chục năm. Ở Việt Nam, cây cao su trồng nhiều ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Duong, Binh Phước.và các huyện trong thành phố Hồ Chí Minh. Từ lâu cây cao su được trồng nham mục đích chủ yếu là lay mủ dé sản xuất nhựa, con người không quan tâm nhiều đến việc sử dụng hạt cao su, có chăng là dùng hat dé ủ làm phân bón hoặc để làm giống. Sản lượng tính toán: Ở Việt Nam, sản lượng hạt cao su bình quân khoảng 200 kg/hecta.
Đến năm 2020, Việt Nam có khoảng | triệu hecta cây cao su, ước tinh tong sản lượng hạt thu gom có thé đạt tới 200 ngàn tan. Quy ra dâu có thé sản xuất ít nhất khoảng 20 ngàn tan dầu. Nếu thay đối, cải tiễn công nghệ thì hoàn toàn có thê sản xuât 30 — 40 ngàn tần dâu môi năm.2 Dầu hạt cao su Dau hạt cao su là chat lỏng có màu vàng nâu, có mùi hồi do lân tap chat, độ nhớt tương đôi cao, nhẹ và không tan trong nước. Dau hạt cao su chứa các acid béo no gôm acid palmitic và acid stearic.
Cac acid béo không no, gdm chủ yêu là acid oleic, acid linoleic, va acid linolenic. Thanh phần % các acid chủ yếu có trong DHCS so với các dau khác. Dâu hướng Dâu hạt Dâu đậu Acid béo Ký hiệu | Dâu cao su Dau bông đương cải nành Palmitic C16:0 10,2 6,8 3,49 11,67 11,75 Stearic C18:0 8,7 3,26 0,85 0,89 3,15 Oleic C18:1 24.6 16,93 64,4 13,27 23,26 Linoleic C18:2 39,6 73,73 223 57,51 55,53 Linolenic C18:3 16,3 0 8,23 0 631 [13],[6] Hàm lượng FFA trong DHCS ban đầu mới ép thấp, nhưng do có enzym thuỷ phân lipit nên hàm lượng FFA tăng lên rất nhanh, dẫn tới DHCS có chỉ số FFA cao hơn rất nhiều so với dầu của các cây khác. Do đó, DHCS sau khi ép cần được xử lý băng nhiệt để diệt những enzym này.
DHCS được ép từ hạt cao su, hiện nay quá trình ép này chủ yếu là thủ công nên năng suất và hiệu suất ép hạt còn thấp. Trong tương lai, các cơ sở sản xuất sẽ áp dụng máy ép vào, có thể đưa hiệu suất ép lấy dầu lên 30% và giá thành của DHCS sẽ giảm đáng kể, đáp ứng được yêu cau kinh tế cho quá trình sản xuất BDF [7]. Tuy diện tích trồng cây cao su trên thế giới là rất lớn, nhưng hạt cao su không ăn được nên thường dư thừa và bỏ đi. Ở Malaysia có tới 1,2 triệu hecta đồn điền cao su.
Cứ 1 hecta cây cao su có tới 800 kg đến 1200 kg hạt cao su. Ở An Độ thu khoảng 150 kg/hecta hạt cao su và một năm Ấn Độ cho khoảng 30.000 triệu tan hat cao su. Lugng hat cao su la rất lớn, nhưng do DHCS có lẫn các chất độc như xianua nên không được dùng trong thực phẩm. 6 Mặc dù ở các nước khác nhau, có sự thay đôi lượng dầu trong hạt nhưng trung bình lượng dau trong hạt cao su chiếm tới 40-50%.
DHCS gồm 17 — 20% acid béo no và khoảng 77 — 82% acid béo không no. Tuy nhiên, hiện nay người ta chỉ lây phân nhân phía trong hạt cao su làm thức ăn gia súc, còn phan dau lớp ngoài thì chỉ có một số nơi ép lay dầu băng phương pháp thủ công dé dùng làm dau bôi trơn. Do đó, DHCS chưa được sử dụng đúng mức của nó. Với hàm lượng dau cao như thé, DHCS dang là nguồn nguyên liệu được quan tâm dé sản xuất nhiên liệu BDF thay thế DO.
Bởi lẽ việc sản xuất BDF từ những nguồn dầu mỡ giàu dinh dưỡng như dầu dừa, dầu đậu nành, dầu mè, dầu co, mỡ cá,.vừa có giá thành cao vừa cạnh tranh với nguồn thực phẩm. Việc thử nghiệm điều chế thành công BDF từ DHCS sẽ là một lợi thé vi đây là nguồn nguyên liệu có sẵn và déi dào ở nước ta, góp phan làm phong phú thêm danh sách các nguồn nguyên liệu khả thi ở Việt Nam. Và mục đích của nghiên cứu nay, cũng là sản xuất BDF từ DHCS. Biodiesel Biodiesel (viết tắt B100) là nhiên liệu có nguồn gốc sinh học thay thế cho nhiên liệu chạy trong động cơ diesel.
Theo tiêu chuẩn ASTM, biodiesel “là các mono alkyl ester của các acid mach dài có nguồn gốc từ các lipit có thé tái tạo lại như: dầu thực vật, mỡ động vật [8]. Biodiesel có thể coi là ester của các acid béo trong dầu mỡ với methanol hay ethanol. Do vậy chúng ta có thé điều chế biodiesel bang phan ứng ester hoá acid béo hay phản ứng transester triglyceride với rượu. Lịch sử hình thành và phát trién nhiên liệu biodiesel Biodiesel được con người biết đến từ những năm cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20.
Theo đó, Rudolph Diesel là người đầu tiên đã sử dụng dầu lạc làm nhiên liệu cho động cơ diesel vào năm 1893.