Chương 1 trình bày sự phát triển của hệ thống thông tin di động từ 3G lên 4G- LTE, đặc điểm của hệ thống thông tin di động 4G-LTE và thực tiễn triển khai trên mang Mobifone Miền Bắc. Sự phát triển từ hệ thống thông tin di động 3G lên hệ thống 4G-LTE 1. Mô hình phát triển Hình 1.1 mô tả sự phát triển từ hệ thống 3G lên hệ thống LTE Hình 1. Sự phát triển cấu trúc hệ thống từ mạng GSM/UMTS lên LTE 4 Trong cấu trúc bên trên phần EPC (evolved packet core) sẽ thay thế trực tiếp cho miền PS trong mạng GSM/UMTS.
EPC sẽ truyền tải tất cả các loại thông tin thời người dùng: thoại cũng như data sử dụng công nghệ chuyển mạch gói mà trước đây vốn chỉ sử dụng cho data. Miền CS trong mạng 2G/3G không còn tồn tại mà toàn bộ thông tin thoại sẽ được truyền qua mạng gói IP sử dụng kỹ thuật Voice over IP. Phần E-UTRAN thay thế cho phần GERAN/UTRAN trong phần 2G/3G và là trung gian truyền thông tin giữa người dùng và mạng lõi. Cấu trúc mới được thiết kế bởi 2 nhóm trong tổ chức 3GPP, SAE (system architecture evolution) liên quan đến phát triển phần Core và LTE (Long Term Evolution) liên quan đến phát triển phần mạng truy nhập vô tuyến.
Xét trên tổng thể toàn hệ thống được gọi là EPS (evolved packet system). Điểm phát triển của hệ thống 4G-LTE Một số yêu cầu cơ bản của LTE cần đạt được đó là: tốc độ dữ liệu đỉnh đường xuống là 100 Mbps, đường lên là 50Mbps. Tuy nhiên thực tế có thể đạt được là 300Mbps đường xuống và 75Mbps đường lên. Nếu so sánh với UMTS (release 6) thì tốc độ chỉ đạt được: 14Mbps đường xuống và 5.7Mbps đường lên.
Yêu cầu về trễ (latency) trong LTE cũng khá ngặt nghèo, trong LTE độ trễ truyền tải dữ liệu giữa máy đầu cuối và các phần tử mạng cố định phải ít hơn 5 mili giây. Đồng thời thời gian chuyển từ trạng thái standby sang trạng thái active của thuê bao trong LTE phải nhỏ hơn 100 mili giây. Một số yêu cầu về vùng phủ: LTE được thiết kế tối ưu cho các cell lên tới 5km, suy giảm chất lượng ở 30km và hỗ trợ lên tới 100 km. Về sự di động của thuê bao, trong LTE thiết kế tối ưu cho thuê bao di động với tốc độ 15 km/h, hỗ trợ lên tới 300 km/h.
Cuối cùng LTE được thiết kế với khả năng sử dụng nhiều băng tần khác nhau tại dải từ 1.4 MHz tới 20 MHz. Một số so sánh giữa UMTS và LTE trên giao diện vô tuyến: 5 Bảng 1. Các điểm khác nhau giữa WCDMA và LTE trên giao diện vô tuyến Đặc điểm WCDMA LTE Phương pháp đa truy nhập WCDMA OFDMA and SC-FDMA Tái sử dụng tần số 100% Linh hoạt Sử dụng anten MIMO From Release 7 Có sử dụng Băng tần 5MHz 1.4, 3, 5, 10, 15 or 20MHz Độ rộng khung 10 ms 10 ms Khoảng thời gian truyền dẫn 2 or 10ms 1ms Kênh truyền tải Dành riêng và chia sẻ Chia sẻ 1. Cải tiến phần mạng lõi Mạng core sử dụng giao thức IP (Internet Protocol) có thể sử dụng IPv4 hoặc IPv6 hoặc song song cả IPv4 và IPv6.
Trong mạng LTE các thuê bao luôn được duy trì các kết nối với các mạng dữ liệu ngoài khác với trong 2G/3G đó là kết nối chỉ được kích hoạt khi thuê bao có nhu cầu và được hủy bỏ khi hết phiên truyền dữ liệu. Các điểm khác nhau giữa UMTS và LTE trên phần mạng lõi Đặc điểm UMTS LTE Hỗ trợ các version IP IPv4 và IPv6 IPv4 và IPv6 Release 99 USIM trở Hỗ trợ các version USIM Release 99 USIM trở đi đi Chuyển mạch kênh Kỹ thuật truyền tải Chuyển mạch gói và chuyển mạch gói Các thành phần miền CS MSC server, MGW n/a Các thành phần miền PS SGSN, GGSN MME, S-GW, P-GW Kết nối IP Sau khi đăng ký Trong quá trình đăng ký Thoại và SMS Bao gồm Mở rộng 1. Hệ thống thông tin di động 4G 1. Giới thiệu Theo như mô tả ban đầu của ITU về mạng di động 4G phải được thiết kế để 6 đáp ứng được các yêu cầu của IMT-Advanced.
LTE-advanced và Wimax 2.16m) đáp ứng được các yêu cầu này trong đó hỗ trợ 1000 Mbps trên đường xuống, và 500 Mbps trên đường lên. Măc dù LTE và WiMAX 1.0 không đáp ứng được yêu cầu của ITU về mạng 4G tuy nhiên trên thế giới đã có sự phát triển của các nhà mạng từ mạng 3G lên LTE mà không trực tiếp phát triển lên LTE- advanced. Tháng 12 năm 2010 ITU thừa nhận rằng tất cả các hệ thống thông tin di động bao gồm LTE, WiMAX 1.0 mà cung cấp hiệu năng tốt hơn mạng thông tin di động 3G được gọi là mạng 4G. Các tiêu chuẩn 3GPP cho LTE Bảng 1.
Các tiêu chuẩn 3GPP từ UMTS lên LTE Releases Thời điểm ban hành Các đặc điểm mới R99 3/2000 WCDMA air interface R4 3/2001 TD-SCDMA air interface R5 6/2012 HSDPA, IP multimedia subsystem R6 3/2005 HSUPA R7 12/2007 Enhancements to HSPA R8 12/2008 LTE, SAE R9 12/2009 Enhancements to LTE and SAE R10 3/2011 LTE-Advanced R11 9/2012 Enhancements to LTE-Advanced 1. Sự khác biệt giữa mạng 4G và LTE Chuẩn kết nối 4G được Liên minh viễn thông quốc tế (ITU) chính thức thông qua vào 3-2008. Chữ “G” trong 4G tức “generation” (thế hệ), như vậy, đây là chuẩn kết nối thế hệ thứ 4 mới nhất, theo lý thuyết, có thể giúp các thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy tính bảng. đạt tốc độ kết nối 100 Mbps và lên tới 1 Gbps khi không di chuyển.
Hiện có hai hệ thống 4G đã triển khai là chuẩn Mobile WiMAX (lần đầu tiên ở Hàn Quốc năm 2007) và chuẩn LTE, triển khai ở Na Uy năm 2009. LTE viết tắt của Long Term Evolution (Tiến hóa dài hạn), chưa phải là một 7 công nghệ chuẩn 4G, thay vào đó chỉ là một chuẩn tiệm cận công nghệ mạng thứ tư. Trên thực thế, tuy điện thoại của bạn có thể hiển thị biểu tượng “4G” ở góc phải phía trên màn hình, nhưng thực chất lại không phải kết nối 4G theo chuẩn. LTE chỉ là một tiệm cận và là cách gọi tên chuẩn công nghệ 4G Khi Liên minh Viễn thông Quốc tế định chuẩn mức tốc độ 4G tối thiểu, các thử nghiệm thực tế vẫn chưa đạt được.
Kết quả là, các nhà làm luật đã quyết định dùng LTE để gọi tên chuẩn công nghệ 4G, miễn là tốc độ mạng LTE khi triển khai phải vượt trội đáng kể so với 3G. LTE-Advanced - Thế hệ mạng viễn thông thứ 4 Tháng 6 năm 2013, công ty viễn thông Hàn Quốc SK Telecom đã giới thiệu công nghệ mà họ mệnh danh “mạng LTE tiên tiến nhất trên thế giới” – LTE- Advanced. Theo những gì SK công bố, mạng này mang lại tốc độ truyền tải dữ liệu nhanh gấp đôi so với mạng LTE thông thường và điều này là một tin vui cho những người dùng thiết bị thông minh thế hệ mới. Chỉ tới tháng 10 năm 2013, đã có tới cả triệu người đăng ký sử dụng dịch vụ này ở Hàn Quốc.
Ở đất nước này, người dùng LTE-Advanced có thể tải một bộ phim 800MB chỉ trong 43 giây. Không sớm thì muộn, làn sóng sử dụng công nghệ này sẽ lan ra khắp thế giới do nhu cầu sử dụng băng thông di động ngày càng tăng cao. Các nhà mạng sẽ phải nâng cấp liên tục để đáp ứng yêu cầu về tốc độ và khối lượng dữ liệu ngày càng cao của người dùng không chỉ là đàm thoại video, xem thể thao trực tuyến nữa mà có thể là khám bệnh 8 trực tiếp từ xa hay mua sắm ảo… Theo dự báo của Cisco System, lưu lượng băng thông di động toàn cầu tăng gấp đôi theo từng năm và sự tăng trưởng theo cấp số nhân này vẫn chưa hề có dấu hiệu ngừng lại. Các doanh nghiệp viễn thông lớn toàn cầu như AT&T (Mỹ), Telstra (Úc), NTT Docomo (Nhật) và Telenor Sweden (Thuỵ Điển) đều đã đưa công nghệ LTE- Avanced ra sử dụng rộng rãi vào năm 2014.
Theo dự báo của ABI Research, số lượng người dùng sử dụng LTE-Advanced vào năm 2018 sẽ đạt tới 500 triệu, gấp 5 lần số người dùng LTE hiện nay. Các chuyên gia công nghệ cũng nhận định rằng LTE cần phải cải tiến và LTE-Advanced sẽ là chuẩn thống trị trong tương lai gần. Họ cũng coi công nghệ này mới thật sự là 4G do đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật mà Liên minh Viễn thông Quốc tế (International Telecommunication Union) đặt ra cho hệ thống mạng không dây thế hệ thứ 4 Các ưu điểm của LTE-Advanced thể hiện trên hình Hình 1. LTE-Advanced - Thế hệ mạng viễn thông thứ 4 + Tốc độ: Về mặt lý thuyết, LTE-Advanced có tốc độ tải xuống đạt tới 3Gbps, tốc độ tải lên 1,5Gbps.
Đây là một sự vượt trội tuyệt đối khi so sánh với thông số tải xuống/tải lên của LTE thường là 300Mb/s và 75Mb/s. Không chỉ có tốc độ nhanh hơn, LTE-Advanced cũng bao gồm những giao thức truyền tải mới, hỗ trợ đa an-ten 9 cho phép số lượng bit/s truyền tải qua tần phổ mượt mà hơn và kết quả là kết nối ổn định hơn và chi phí dữ liệu sẽ rẻ hơn. + LTE-Advanced là phiên bản nâng cấp của LTE : Hai chuẩn này hoàn toàn tương thích với nhau. Các điện thoại sử dụng LTE- Advanced mới vẫn hoạt động tốt với các mạng LTE thông thường và ngược lại.
+ Phương thức này tăng số lượng băng thông khả dụng dành cho thiết bị di động bằng cách ghép nối các kênh tần số, hoặc nhà mạng nằm rải rác trong phổ vô tuyến. LTE thông thường có thể cung cấp dữ liệu bằng cách sử dụng các block dữ liệu liền kề của tần số lên đến 20 MHz. Nhưng khi ngày càng nhiều các công ty cung cấp dịch vụ và cùng với nó là số lượng các thiết bị tranh giành tần số viễn thông ngày càng nhiều, những dải rộng lên tới 20Mhz như vậy đang ngày càng khan hiếm. Hầu hết các nhà khai thác đành phải mua các bit và mảnh tần phổ rời rạc, hình thành một sưu tập phân mảnh để phục vụ cho hoạt động của mình.
Phương thức cung cấp dịch vụ kết hợp đã giải quyết vấn đề này. Nó cho phép các nhà khai thác kết hợp các kênh rời rạc, nhỏ bé, phân tán thành "một đường ống rất lớn". Ví dụ, có thể kết hợp hai kênh có độ rộng 10 MHz ở các tần số 800 MHz và 1,8 GHz riêng biệt thành một kênh 20 MHz toàn duy nhất, cơ bản tăng gấp đôi tốc độ dữ liệu khả dụng cho mỗi người dùng. Đó chính là một trong các ưu điểm của công nghệ mới LTE-Advanced.