Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƢỚP GIẬT TÀI SẢN 1. Giai đoạn từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 Cuộc Cách mạng Tháng tám 1945 đã giành lại chủ quyền cho đất nƣớc, tự do cho nhân dân và lập ra nền Dân chủ Cộng hòa. Sau thắng lợi đó, Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự (PLHS) để bảo vệ thành quả cách mạng.
Một trong những nội dung đƣợc đặc biệt coi trọng là chế độ sở hữu – nền tảng kinh tế xã hội của đất nƣớc. Các quy định của pháp luật đã phản ánh tƣơng đối rõ nét các đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng nhƣ kỹ thuật lập pháp của nƣớc ta trong một giai đoạn lịch sử, đặc biệt thể hiện rõ chính sách hình sự (CSHS) của Nhà nƣớc ta đối với các hành vi xâm phạm sở hữu. Tại Điều 12 – Hiến pháp 1946 đã ghi nhận: “Quyền tƣ hữu tài sản của công dân Việt Nam đƣợc bảo đảm”. Việc quy định nhƣ vậy, đã tạo nên cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, là điều kiện ổn định sinh hoạt vật chất của mỗi con ngƣời.
Bên cạnh đó, Nhà nƣớc còn ban hành hàng loạt các Sắc lệnh nhƣ: Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 [45] quy định các hành vi phá hoại công sản, Thông tƣ 442/TTg ngày 19/02/1955 hƣớng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội xâm phạm sở hữu nhƣ trộm cắp, cƣớp của, lừa đảo, bội tín… Tuy nhiên, ở đó, Tội cƣớp giật tài sản chƣa đƣợc quy định thành một điều luật cụ thể. Đến năm 1959, sau khi nƣớc ta cơ bản hoàn thành công cuộc cải tạo Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) thì việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho Chủ nghĩa Xã hội là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Bởi vậy, việc bảo vệ sở hữu nhà nƣớc, sở hữu tập thể là vấn đề cấp bách, đƣợc đặc biệt coi trọng. Điều 140 – Hiến pháp 1959 ghi nhận: “Tài sản công cộng 5 z của nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thiêng liêng không thể xâm phạm.
Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng”. Ngày 21/10/1970, Nhà nƣớc ta đã thông qua hai văn bản pháp luật mới là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân. Cụ thể tại Điều 5 của Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, Tội cƣớp giật tài sản XHCN đƣợc quy định: “Kẻ nào cƣớp giật tài sản XHCN thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm”. Tại Điều 4 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân có ghi: “Kẻ nào cƣớp giật tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm”.
Nội dung của hai Pháp lệnh đã thể hiện đầy đủ và toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với các Tội phạm về sở hữu nói chung và Tội cƣớp giật tài sản nói riêng. Điều đó còn thể hiện trình độ kỹ thuật lập pháp của Nhà nƣớc ta nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế đáp ứng việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm trong tình hình mới. Thời kỳ này, Tội cƣớp giật tài sản XHCN và Tội cƣớp giật tài sản riêng của công dân đã đƣợc cụ thể hóa thành hai điều luật riêng nằm trong hai pháp lệnh khác nhau. Ngoài hai Pháp lệnh trên, Ban bí thƣ Trung ƣơng Đảng đã ra Chỉ thị số 185 ngày 09/12/1970 về tăng cƣờng bảo vệ tài sản XHCN nhằm chỉ đạo thi hành nội dung hai Pháp lệnh trong thực tế.
Ngày 16/03/1973, Thông tƣ liên bộ của TANDTC – VKSNDTC – BCA hƣớng dẫn trong đó, Tội cƣớp giật tài sản đƣợc hiểu là: “Trƣờng hợp kẻ phạm tội lợi dụng sơ hở vƣớng mắc của ngƣời giữ tài sản, bất thần giằng lấy tài sản trên tay ngƣời giữ tài sản”. Với hƣớng dẫn lợi dụng sự “vƣớng mắc” còn có thể hiểu bao gồm cả hành vi mà sau này đƣợc coi là Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Hƣớng dẫn này đã khái quát Tội cƣớp giật tài sản với hành vi khách quan của tội phạm là hành vi chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng và công khai. Sau ngày 30/4/1975, Sắc Luật số 03/SL ngày 15/03/1976 quy định Tội phạm và Hình phạt.
Trong văn bản này, Tội cƣớp giật tài sản mặc dù không đƣợc quy định cụ thể, chi tiết trong một điều luật riêng nhƣng cũng đã đƣợc quy định 6 z chung trong Điều 4 cùng với các tội xâm phạm sở hữu khác nhau nhƣ: trộm cắp, tham ô, lừa đảo… Nhƣ vậy, cùng với hai pháp lệnh trên, Sắc Luật số 03 đƣợc áp dụng chung trong cả nƣớc sau khi nƣớc ta thống nhất, để đấu tranh chống các tội phạm sở hữu. Các quy định bƣớc đầu về Tội cƣớp giật tài sản trong các văn bản đó là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm này. Giai đoạn từ sau khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999 Trong giai đoạn này, Tội cƣớp giật tài sản đƣợc quy định thành hai tội riêng biệt căn cứ vào đối tƣợng bị xâm hại là tài sản thuộc sở hữu XHCN hay tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân. Cụ thể, Tội cƣớp giật tài sản đã đƣợc quy định trong hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội.
Đến lần pháp điển hóa BLHS lần thứ nhất, BLHS của nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1985 đã đƣợc Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 trên toàn quốc cũng quy định về Tội cƣớp giật tài sản nhƣ sau: Điều 131 quy định: 1. Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản Xã hội Chủ nghĩa, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 129, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a. Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp.
Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát. Chiếm đoạt tài sản có giá trị hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác. Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.
Điều 154 quy định: 1. Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của người 7 z khác, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 151, thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm: a. Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp.
Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát. Chiếm đoạt tài sản có giá trị hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác. Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi lăm năm.
- Về hình phạt: Tƣ tƣởng chỉ đạo giai đoạn này là chú trọng bảo vệ tài sản chung (tài sản XHCN) hơn tài sản riêng (tài sản tƣ nhân). Trƣớc khi có BLHS năm 1985, các hình phạt không đƣợc quy định tập trung, sắp xếp theo một trật tự nhất định và cũng không có tiêu chí để đánh giá, áp dụng thống nhất. Đến khi BLHS năm 1985 ra đời, một hệ thống hình phạt và tiêu chí áp dụng nó tƣơng đối đầy đủ mới đƣợc quy định tập trung, thống nhất. Điều này đã thể hiện đƣợc mục đích của Nhà nƣớc ta không chỉ dùng hình phạt về hình sự để trừng trị, mà còn nhằm giáo dục, cải tạo và răn đe ngƣời khác.
So với hai Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân thì BLHS năm 1985 có mức phạt tối đa cao hơn. Ở BLHS năm 1985, mức phạt tối đa là 15 năm với Tội cƣớp giật tài sản riêng công dân và 20 năm với Tội cƣớp giật tài sản XHCN. Mức hình phạt tối thiểu là một năm với Tội cƣớp giật tài sản XHCN và 3 tháng với Tội cƣớp giật tài sản riêng của công dân là tƣơng đƣơng với hai Pháp lệnh năm 1970. Điều này thể hiện đƣờng lối xử lý nghiêm khắc hơn của Nhà nƣớc ta với Tội cƣớp giật tài sản so với giai đoạn trƣớc đây.
Thay vì có 2 khung hình phạt ở hai Pháp lệnh năm 1970, BLHS năm 1985 quy định 3 khung hình phạt và đối với các tình tiết khung tăng nặng, thì tại hai điều 131 và 154 còn quy định thêm hai tình tiết mới là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác”. Khung 3 quy định chung các trƣờng hợp phạm tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. 8 z Đối với Tội cƣớp giật tài sản ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 2 và 3 Điều 142; Khoản 2,3 Điều 163 BLHS năm 1985 bao gồm hình phạt quản chế hoặc cấm cƣ trú từ một năm đến năm năm hay bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Cùng với sự ra đời của BLHS năm 1985, các quy định về tình tiết tăng nặng (Điều 39), tình tiết giảm nhẹ (Điều 38) cũng lần đầu tiên đƣợc quy định tập trung và tƣơng đối đầy đủ làm tiêu chí khi quyết định hình phạt.
Đây là một cố gắng lớn của nhà làm luật nƣớc ta để tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật hình sự, tránh sự tùy tiện hoặc áp đặt ý chí chủ quan của ngƣời Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân khi xét xử. Hầu hết các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong hai Pháp lệnh năm 1970 đã đƣợc giữ lại và bổ sung thêm rất nhiều tình tiết mới. Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao còn có các hƣớng dẫn nghiệp vụ về một số tình tiết khác cũng đƣợc coi là tình tiết giảm nhẹ nhƣ: ngƣời phạm tội đầu thú, gia đình bị cáo đã bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả thay cho bị cáo… Ngày 28/12/1989, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, trong đó bổ sung thêm một số tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với ngƣời “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” vào Điểm a Khoản 2 của các Điều luật quy định về Tội cƣớp giật hoặc Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.