Chương 1: Một số vấn đề chung về tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Tội cưỡng đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 - 2015. Chương 3: Kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội cưỡng đoạt tài sản và các giải pháp bảo đảm áp dụng. 7 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƢỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Tài sản với tƣ cách là đối tƣợng tác động của các tội xâm phạm sở hữu trong luật hình sự Việt Nam Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì "tài sản" được hiểu bao gồm "vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [37, Điều 163], trong đó "quyền tài sản" là các "quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" [37, Điều 181]. Đến Bộ luật dân sự năm 2015 vừa được Quốc hội thông qua có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 thì cả hai khái niệm "tài sản" và "quyền tài sản" vẫn được định nghĩa như vậy [39, Điều 105, 115]. Trong khi đó, đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản thì không phải lúc nào tài sản theo quan niệm như trên của Bộ luật dân sự cũng được coi là đối tượng tác động của tội phạm này.
Lý do không phải tài sản nào người phạm tội cũng có thể chiếm đoạt được từ chủ tài sản. Tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói chung và của tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng, phải thỏa mãn ba đặc trưng cơ bản sau đây [13, tr. * Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị và giá trị sử dụng. Theo đó, tài sản này là thước đo giá trị lao động của con người được kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người.
* Tài sản phải có chủ sở hữu cụ thể với các quy định có tính chất pháp 8 z lý thể hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. Vì thế, nếu hành vi phạm tội khi xâm phạm sở hữu phải tác động tới các tài sản đã được xác lập quyền sở hữu bằng những quy định pháp lý đối với một chủ sở hữu nhất định (có thể là tổ chức, pháp nhân hoặc cá nhân) nên chỉ tài sản nào có chủ sở hữu cụ thể mới là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu, còn tài sản vô chủ không phải là đối tượng tác động của các tội phạm này. * Tài sản phải có khả năng chuyển hóa được giữa các chủ sở hữu với nhau. Tương tự, nếu không có khả năng này thì tài sản không thuộc đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng.
Lưu ý, nếu tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản có tính chất đặc biệt hoặc Nhà nước cấm tư nhân mua bán trao đổi sẽ là đối tượng tác động của các tội phạm khác quy định trong Bộ luật hình sự trên những cơ sở chung. Khái niệm tội cƣỡng đoạt tài sản Như vậy, trên cơ sở đặc điểm tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, để đưa ra khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản cần nghiên cứu, phân tích và làm rõ một số khái niệm và đặc điểm của hành vi chiếm đoạt. Thuật ngữ "chiếm đoạt", theo nghĩa Hán Việt, chiếm là "lấy làm của mình"; "chiếm đoạt" là "dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình" [14, tr.142]; chiếm là: "giữ lấy làm của mình", đoạt là cướp lấy, chiếm đoạt là "cướp lấy bằng võ lực hay quyền thế" [14, tr.142]; chiếm đoạt còn được hiểu là "chiếm của người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực" [69, tr. Dưới góc độ pháp lý hình sự, cụm từ "chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình [53, tr.366]; hoặc "hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người 9 z hoặc cho người khác mà mình quan tâm" [3, tr.
Ở đây, khái niệm "quản lý" có thể hiểu là "trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì" [69, tr.1363], "chủ tài sản" được hiểu bao gồm chủ sở hữu tài sản hoặc người được giao quản lý tài sản đó (thông qua giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật được giao nhiệm vụ quản lý tài sản). Hành vi chiếm đoạt tài sản có những đặc điểm chính sau đây: * Về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản (người là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền quản lý tài sản) mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó. Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó, quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu. Bên cạnh đó, tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là vẫn còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản.
Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm đoạt. Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể có hành vi chiếm đoạt, cũng như mới có hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản. * Về mặt chủ quan, chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có mục đích nên ở đây, lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình.
Những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người quản lý đều không phải là trường hợp có hành vi chiếm đoạt. 10 z Trong khi đó, "cưỡng đoạt", theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa là "chiếm đoạt bằng lối cưỡng bức"; "cưỡng bức" là "dùng vũ lực hoặc thủ đoạn dồn người khác vào thế bắt buộc phải làm, dù không muốn cũng không được" [14, tr. Còn trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về xác định nội hàm của hành vi cưỡng đoạt tài sản. Phạm Văn Beo định nghĩa: "Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [3, tr.
Đinh Văn Quế tiếp cận dưới góc độ thực tiễn xét xử quan niệm: "Cưỡng đoạt tài sản là tìm mọi cách làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản sợ hãi phải giao tài sản cho người phạm tội”. Như vậy, hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác mà người phạm tội thực hiện là nhằm chiếm đoạt tài sản.Nếu hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là tội cưỡng đoạt tài sản, mà tùy từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi phạm các tội như: bức tử; cưỡng dâm hoặc cưỡng dâm trẻ em; cưỡng ép hôn nhân,. Còn Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì tội phạm này được định nghĩa như sau: "Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [53, tr. Đặc biệt, PGS.
Nguyễn Ngọc Chí viết: "Tội cưỡng đoạt tài sản là việc người phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan" [13, tr. 11 z Như vậy, có thể nhận thấy, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng hành vi cưỡng đoạt tài sản thường được hiểu là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Mặc dù vậy, vẫn còn có quan điểm mới chỉ đề cập đến dấu hiệu pháp lý hình sự và hành vi khách quan, chứ chưa đề cập đến dấu hiệu chủ thể của tội phạm (độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và năng lực trách nhiệm hình sự hoặc yếu tố khách thể của tội phạm). Như vậy, tội cưỡng đoạt tài sản thực chất là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác với mục đích bắt người có tài sản lo sợ và phải tự nguyện chuyển giao tài sản cho người cưỡng đoạt. Đặc trưng cơ bản của tội cưỡng đoạt tài sản là người phạm tội đã có hành vi uy hiếp tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản bằng những thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho người có trách nhiệm về tài sản lo sợ mà phải miễn cưỡng giao tài sản cho người phạm tội. Ngoài ra, thực tiễn cho thấy, sau khi người có tài sản bị đe dọa sẽ dùng vũ lực và các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần thì người có tài sản do lo sợ sẽ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm nên sẽ tự nguyện chuyển giao tài sản cho người cưỡng đoạt nên dễ chuyển sang thành giao dịch dân sự nếu người bị cưỡng đoạt tài sản không tố giác.