Nghiên Cứu Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản Trong Luật Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2017

108
10
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY

1.3. QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

2. CHƯƠNG 2: TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

2.1. CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ HÌNH SỰ CỦA TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

2.2. HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

2.3. SO SÁNH TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI DANH KHÁC

2.4. THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

3. CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG

3.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC TIẾP TỤC HOÀN THIỆN BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

3.2. NỘI DUNG TIẾP TỤC HOÀN THIỆN BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

3.3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

3.4. CÁC GIẢI PHÁP KHÁC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản Khái Niệm Ý Nghĩa

Nghiên cứu về tội cưỡng đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam là vô cùng quan trọng. Bài viết này sẽ đi sâu vào khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội này trong hệ thống pháp luật. Cưỡng đoạt tài sản không chỉ xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của công dân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Việc hiểu rõ bản chất của tội phạm này là cơ sở để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm. Theo thống kê, tình hình tội phạm cưỡng đoạt tài sản diễn biến phức tạp, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt từ các cơ quan chức năng và toàn xã hội.

1.1. Tài Sản Đối Tượng Tác Động Của Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Theo Bộ luật Dân sự, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Tuy nhiên, trong Luật Hình sự, tài sản là đối tượng của tội cưỡng đoạt tài sản phải thỏa mãn các đặc trưng: có giá trị vật chất, có chủ sở hữu cụ thể và có khả năng chuyển giao. Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị và giá trị sử dụng. Theo đó, tài sản này là thước đo giá trị lao động của con người được kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người.

1.2. Khái Niệm Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản Theo Luật Hình Sự

Khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản được định nghĩa rõ ràng trong Điều 170 Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi này xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội. Việc xác định đúng các yếu tố cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản là vô cùng quan trọng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

1.3. Ý Nghĩa Của Việc Quy Định Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản

Việc quy định tội cưỡng đoạt tài sản trong Luật Hình sự có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, nó răn đe, phòng ngừa các hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác. Việc xét xử tội cưỡng đoạt tài sản nghiêm minh góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho người dân và củng cố niềm tin vào công lý.

II. Lịch Sử Hình Thành Phát Triển Quy Định Về Tội Cưỡng Đoạt

Quy định về tội cưỡng đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, gắn liền với sự phát triển của đất nước và hệ thống pháp luật. Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, các quy định về tội này đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của quy định này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất và ý nghĩa của nó.

2.1. Giai Đoạn Từ 1945 Đến Trước Bộ Luật Hình Sự 1985

Trong giai đoạn này, các quy định về tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng còn sơ khai. Pháp luật tập trung vào bảo vệ tài sản của Nhà nước và tập thể. Các hành vi xâm phạm tài sản cá nhân cũng được xử lý nhưng chưa được quy định cụ thể và chi tiết như sau này.

2.2. Giai Đoạn Từ Bộ Luật Hình Sự 1985 Đến 1999

Bộ luật Hình sự năm 1985 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc pháp điển hóa các quy định về tội phạm. Các tội xâm phạm sở hữu được quy định cụ thể hơn, trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

2.3. Giai Đoạn Từ Bộ Luật Hình Sự 1999 Đến Nay

Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã hoàn thiện hơn các quy định về tội cưỡng đoạt tài sản. Các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định rõ ràng, chi tiết hơn. Khung hình phạt tội cưỡng đoạt tài sản cũng được điều chỉnh để phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về tội này.

III. So Sánh Quy Định Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản Việt Nam Thế Giới

Để có cái nhìn khách quan và toàn diện về tội cưỡng đoạt tài sản, việc so sánh quy định của Luật Hình sự Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới là cần thiết. Bài viết này sẽ so sánh quy định về tội này với Bộ luật Hình sự của Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước ASEAN. Qua đó, rút ra những điểm tương đồng và khác biệt, đồng thời học hỏi kinh nghiệm của các nước trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm này.

3.1. So Sánh Với Bộ Luật Hình Sự Liên Bang Nga

Nga có những quy định riêng về tội cưỡng đoạt tài sản, tập trung vào các hành vi xâm phạm quyền sở hữu bằng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. So sánh với Việt Nam, có những điểm tương đồng về cấu thành tội phạm, nhưng cũng có những khác biệt về mức độ nghiêm trọng và hình phạt.

3.2. So Sánh Với Bộ Luật Hình Sự Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa

Trung Quốc có hệ thống pháp luật hình sự nghiêm khắc, với các quy định chi tiết về tội cưỡng đoạt tài sản. So sánh với Việt Nam, có những điểm khác biệt về cách tiếp cận và xử lý tội phạm, đặc biệt là trong các trường hợp liên quan đến tham nhũng và lợi ích nhóm.

3.3. So Sánh Với Bộ Luật Hình Sự Nhật Bản

Nhật Bản có hệ thống pháp luật hình sự hiện đại, với các quy định rõ ràng và minh bạch về tội cưỡng đoạt tài sản. So sánh với Việt Nam, có những điểm khác biệt về cách tiếp cận và xử lý tội phạm, đặc biệt là trong các trường hợp liên quan đến tội phạm có tổ chức.

IV. Dấu Hiệu Pháp Lý Hình Phạt Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản Phân Tích

Để xác định một hành vi có phải là tội cưỡng đoạt tài sản hay không, cần phải xem xét các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội phạm này. Bài viết này sẽ phân tích các dấu hiệu pháp lý như khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội cưỡng đoạt tài sản. Đồng thời, sẽ trình bày về khung hình phạt tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.

4.1. Khách Thể Của Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản

Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Hành vi cưỡng đoạt xâm phạm trực tiếp đến quyền này, gây thiệt hại về tài sản cho người bị hại. Việc xác định đúng khách thể của tội phạm là cơ sở để định tội danh chính xác.

4.2. Mặt Khách Quan Của Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản

Mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản thể hiện ở hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi này phải có mối quan hệ nhân quả với hậu quả là người bị hại mất tài sản.

4.3. Hình Phạt Đối Với Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản

Điều 170 Bộ luật Hình sự quy định các khung hình phạt khác nhau đối với tội cưỡng đoạt tài sản, tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hình phạt có thể là phạt tù có thời hạn hoặc phạt tiền.

V. Phân Biệt Tội Cưỡng Đoạt Với Các Tội Chiếm Đoạt Tài Sản Khác

Trong thực tế, việc phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với các tội chiếm đoạt tài sản khác như tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là rất quan trọng. Bài viết này sẽ so sánh các yếu tố cấu thành tội phạm của các tội này để giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định đúng tội danh và xử lý vụ án một cách chính xác.

5.1. So Sánh Với Tội Cướp Tài Sản Điều 168 BLHS

Tội cướp tài sảntội cưỡng đoạt tài sản đều là các tội xâm phạm sở hữu, nhưng có sự khác biệt về hành vi. Tội cướp tài sản sử dụng vũ lực ngay lập tức để chiếm đoạt tài sản, trong khi tội cưỡng đoạt tài sản có thể sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để người bị hại phải giao tài sản.

5.2. So Sánh Với Tội Bắt Cóc Nhằm Chiếm Đoạt Tài Sản Điều 169 BLHS

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt giữ người trái pháp luật nhằm gây áp lực để người thân của người bị bắt cóc phải giao tài sản. Trong khi đó, tội cưỡng đoạt tài sản không nhất thiết phải có hành vi bắt giữ người.

VI. Thực Tiễn Xét Xử Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản Tại Đắk Lắk 2010 2015

Nghiên cứu thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2010-2015 giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể về tình hình tội phạm này tại địa phương. Bài viết này sẽ phân tích số liệu thống kê về số vụ án, số bị cáo, hình phạt áp dụng và các vấn đề còn tồn tại trong quá trình xét xử. Từ đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này.

6.1. Khái Quát Điều Kiện Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Đắk Lắk

Đắk Lắk là một tỉnh miền núi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm nói chung và tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng diễn biến phức tạp.

6.2. Thống Kê Phân Tích Số Liệu Xét Xử Tội Cưỡng Đoạt

Trong giai đoạn 2010-2015, số vụ án cưỡng đoạt tài sản được đưa ra xét xử tại Đắk Lắk có xu hướng tăng giảm không đều qua các năm. Hình phạt chủ yếu là phạt tù có thời hạn. Tuy nhiên, vẫn còn một số trường hợp áp dụng pháp luật chưa chính xác, dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc kết án oan người vô tội.

6.3. Tồn Tại Hạn Chế Nguyên Nhân Trong Xét Xử

Một số tồn tại, hạn chế trong quá trình xét xử tội cưỡng đoạt tài sản tại Đắk Lắk bao gồm: việc thu thập chứng cứ còn gặp nhiều khó khăn, trình độ nghiệp vụ của một số cán bộ còn hạn chế, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa chặt chẽ. Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, trình độ dân trí còn thấp và công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa hiệu quả.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk luận văn ths luật hình sự và tố tụng hình sự 60 38 01 04

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Tội cưỡng đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 - 2015. Chương 3: Kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội cưỡng đoạt tài sản và các giải pháp bảo đảm áp dụng. 7 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƢỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.

KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Tài sản với tƣ cách là đối tƣợng tác động của các tội xâm phạm sở hữu trong luật hình sự Việt Nam Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì "tài sản" được hiểu bao gồm "vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [37, Điều 163], trong đó "quyền tài sản" là các "quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" [37, Điều 181]. Đến Bộ luật dân sự năm 2015 vừa được Quốc hội thông qua có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 thì cả hai khái niệm "tài sản" và "quyền tài sản" vẫn được định nghĩa như vậy [39, Điều 105, 115]. Trong khi đó, đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản thì không phải lúc nào tài sản theo quan niệm như trên của Bộ luật dân sự cũng được coi là đối tượng tác động của tội phạm này.

Lý do không phải tài sản nào người phạm tội cũng có thể chiếm đoạt được từ chủ tài sản. Tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói chung và của tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng, phải thỏa mãn ba đặc trưng cơ bản sau đây [13, tr. * Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị và giá trị sử dụng. Theo đó, tài sản này là thước đo giá trị lao động của con người được kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người.

* Tài sản phải có chủ sở hữu cụ thể với các quy định có tính chất pháp 8 z lý thể hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. Vì thế, nếu hành vi phạm tội khi xâm phạm sở hữu phải tác động tới các tài sản đã được xác lập quyền sở hữu bằng những quy định pháp lý đối với một chủ sở hữu nhất định (có thể là tổ chức, pháp nhân hoặc cá nhân) nên chỉ tài sản nào có chủ sở hữu cụ thể mới là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu, còn tài sản vô chủ không phải là đối tượng tác động của các tội phạm này. * Tài sản phải có khả năng chuyển hóa được giữa các chủ sở hữu với nhau. Tương tự, nếu không có khả năng này thì tài sản không thuộc đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng.

Lưu ý, nếu tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản có tính chất đặc biệt hoặc Nhà nước cấm tư nhân mua bán trao đổi sẽ là đối tượng tác động của các tội phạm khác quy định trong Bộ luật hình sự trên những cơ sở chung. Khái niệm tội cƣỡng đoạt tài sản Như vậy, trên cơ sở đặc điểm tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, để đưa ra khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản cần nghiên cứu, phân tích và làm rõ một số khái niệm và đặc điểm của hành vi chiếm đoạt. Thuật ngữ "chiếm đoạt", theo nghĩa Hán Việt, chiếm là "lấy làm của mình"; "chiếm đoạt" là "dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình" [14, tr.142]; chiếm là: "giữ lấy làm của mình", đoạt là cướp lấy, chiếm đoạt là "cướp lấy bằng võ lực hay quyền thế" [14, tr.142]; chiếm đoạt còn được hiểu là "chiếm của người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực" [69, tr. Dưới góc độ pháp lý hình sự, cụm từ "chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình [53, tr.366]; hoặc "hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người 9 z hoặc cho người khác mà mình quan tâm" [3, tr.

Ở đây, khái niệm "quản lý" có thể hiểu là "trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì" [69, tr.1363], "chủ tài sản" được hiểu bao gồm chủ sở hữu tài sản hoặc người được giao quản lý tài sản đó (thông qua giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật được giao nhiệm vụ quản lý tài sản). Hành vi chiếm đoạt tài sản có những đặc điểm chính sau đây: * Về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản (người là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền quản lý tài sản) mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó. Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó, quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu. Bên cạnh đó, tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là vẫn còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản.

Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm đoạt. Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể có hành vi chiếm đoạt, cũng như mới có hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản. * Về mặt chủ quan, chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có mục đích nên ở đây, lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình.

Những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người quản lý đều không phải là trường hợp có hành vi chiếm đoạt. 10 z Trong khi đó, "cưỡng đoạt", theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa là "chiếm đoạt bằng lối cưỡng bức"; "cưỡng bức" là "dùng vũ lực hoặc thủ đoạn dồn người khác vào thế bắt buộc phải làm, dù không muốn cũng không được" [14, tr. Còn trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về xác định nội hàm của hành vi cưỡng đoạt tài sản. Phạm Văn Beo định nghĩa: "Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [3, tr.

Đinh Văn Quế tiếp cận dưới góc độ thực tiễn xét xử quan niệm: "Cưỡng đoạt tài sản là tìm mọi cách làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản sợ hãi phải giao tài sản cho người phạm tội”. Như vậy, hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác mà người phạm tội thực hiện là nhằm chiếm đoạt tài sản.Nếu hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là tội cưỡng đoạt tài sản, mà tùy từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi phạm các tội như: bức tử; cưỡng dâm hoặc cưỡng dâm trẻ em; cưỡng ép hôn nhân,. Còn Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì tội phạm này được định nghĩa như sau: "Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [53, tr. Đặc biệt, PGS.

Nguyễn Ngọc Chí viết: "Tội cưỡng đoạt tài sản là việc người phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan" [13, tr. 11 z Như vậy, có thể nhận thấy, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng hành vi cưỡng đoạt tài sản thường được hiểu là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Mặc dù vậy, vẫn còn có quan điểm mới chỉ đề cập đến dấu hiệu pháp lý hình sự và hành vi khách quan, chứ chưa đề cập đến dấu hiệu chủ thể của tội phạm (độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và năng lực trách nhiệm hình sự hoặc yếu tố khách thể của tội phạm). Như vậy, tội cưỡng đoạt tài sản thực chất là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác với mục đích bắt người có tài sản lo sợ và phải tự nguyện chuyển giao tài sản cho người cưỡng đoạt. Đặc trưng cơ bản của tội cưỡng đoạt tài sản là người phạm tội đã có hành vi uy hiếp tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản bằng những thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho người có trách nhiệm về tài sản lo sợ mà phải miễn cưỡng giao tài sản cho người phạm tội. Ngoài ra, thực tiễn cho thấy, sau khi người có tài sản bị đe dọa sẽ dùng vũ lực và các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần thì người có tài sản do lo sợ sẽ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm nên sẽ tự nguyện chuyển giao tài sản cho người cưỡng đoạt nên dễ chuyển sang thành giao dịch dân sự nếu người bị cưỡng đoạt tài sản không tố giác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tội Cưỡng Đoạt Tài Sản Trong Luật Hình Sự Việt Nam: Thực Tiễn Tại Đắk Lắk" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tội phạm cưỡng đoạt tài sản tại Đắk Lắk, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng. Tài liệu không chỉ nêu rõ các hình thức tội phạm mà còn đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giúp độc giả hiểu rõ hơn về vấn đề này trong bối cảnh pháp lý Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa tội sử dụng mạng máy tính mạng viễn thông phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố hà nội, nơi đề cập đến các tội phạm công nghệ cao có liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản. Bên cạnh đó, tài liệu Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm nhân phẩm danh dự của con người trên địa bàn thành phố hồ chí minh cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các tội phạm xâm phạm nhân phẩm, một khía cạnh quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Phòng ngừa các tội phạm về tham nhũng ở việt nam, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực tham nhũng, một vấn đề có liên quan mật thiết đến tội phạm cưỡng đoạt tài sản.

Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của luật hình sự Việt Nam.