Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI BUÔN LẬU 1. Những vấn đề lý luận về tội buôn lậu 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội buôn lậu 1. Khái niệm tội buôn lậu Tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng là một hiện tượng tiêu cực của xã hội mà nguồn gốc của nó là từ xã hội và sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của xã hội.
Mỗi một quốc gia, để bảo vệ lợi ích của đất nước mình, phù hợp với tập quán thương mại quốc tế đều đưa ra những chính sách ngăn chặn và làm giảm bớt tác hại của loại tội phạm này. Điều 8 BLHS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) quy định: “1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác” [11].
Theo pháp luật hình sự, các hành vi thỏa mãn các yếu tố được quy định trong Điều 8 BLHS nêu trên mới được coi là tội phạm. Chính vì lí do đó, hành vi buôn lậu để được coi là tội phạm cũng phải thỏa mãn các yếu tố được quy định trong Điều 8 BLHS năm 2015. Tội buôn lậu được quy định tại Điều 188 thuộc “Chương XVIII – Các tội xâm phạm trật tự quản kinh 6 tế” của BLHS năm 2015. Để hiểu được khái niệm của tội buôn lậu cũng như đặc điểm, ý nghĩa vị trí của tội buôn lậu trong BLHS, cần phải tìm hiểu, làm rõ khái niệm những cụm từ, thuật ngữ có liên quan của tội danh này.
Theo Từ điển tiếng Việt, “buôn” được hiểu là việc mua đi bán lại một loại hàng hóa nào đó nhằm kiếm lợi nhuận, “lậu” chỉ sự không chính đáng, lén lút, trái pháp luật, “buôn lậu là buôn bán hàng hóa trốn thuế hoặc hàng quốc cấm” [6]. Theo đó, nếu hiểu theo nghĩa thông thường, buôn lậu chỉ đơn giản là hành vi buôn bán những mặt hàng cấm hoặc những hàng hóa trốn đóng thuế theo quy định của pháp luật. Cụ thể hơn khái niệm tại Từ điển tiếng Việt, Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích như sau: “Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hóa hoặc ngoại tệ, kim khí và đá quý, những vật phẩm thuộc về di tích lịch sử, văn hóa, những hàng cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hóa nói chung mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của Hải quan” [7]. Tuy rõ ràng hơn nhưng khái niệm này vẫn chưa thật sự thuyết phục bởi chưa khái quát được đầy đủ bản chất của hành vi buôn lậu làm cơ sở phân biệt nó với các vi phạm hay hành vi phạm tội khác.
Chính vì vậy, để tìm ra khái niệm chính xác về hành vi buôn lậu và tội buôn lậu, bên cạnh việc tìm hiểu khái niệm các cụm từ, thuật ngữ tạo nên tên tội danh, người nghiên cứu cũng cần tìm hiểu nguồn gốc và bản chất của hành vi buôn lậu. Buôn lậu xuất hiện trước hết là do có sự chênh lệch, khác nhau của sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, dẫn đến sự không đồng nhất giữa các quốc gia có trình độ phát triển sản xuất khác nhau, đặc biệt là các nước trong cùng khu vực về sức sản xuất (nguồn cung), nhu cầu tiêu dùng (cầu). Trong điều kiện quốc tế hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, việc phân công sản xuất mang tính chuyên môn hóa cao đã giúp các nước có nền kinh tế phát triển ngày càng tiết kiệm triệt để chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm dẫn đến giá 7 thành hạ trong khi sản phẩm chất lượng vượt trội hơn hẳn các quốc gia đang phát triển hoặc chậm phát triển. Sự chênh lệch ngày càng lớn về giá thành, chất lượng sản phẩm giữa các nước trong cùng một khu vực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch cho người làm lưu thông hàng hóa.
Đây chính là điều kiện sâu xa khiến hành vi buôn lậu tồn tại và phát triển như một tất yếu khách quan. Với bản chất là một hoạt động kinh tế bất hợp pháp mang tính xã hội, buôn lậu luôn chịu sự tác động của các quy luật kinh tế và các quy luật xã hội. Việc quan niệm về buôn lậu của từng quốc gia trong từng giai đoạn và điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội cũng vì thế mà khác nhau. Những quốc gia có nền kinh tế phát triển thì khuyến khích xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường, nâng tầm thương hiệu quốc gia – vấn đề được các quốc gia phát triển đặc biệt quan tâm, do vậy, pháp luật các quốc gia này không tập trung vào các biện pháp hạn chế xuất khẩu hàng hóa mà chỉ thắt chặt các biện pháp hạn chế nhập khẩu.
Đối với các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn, sức sản xuất hạn chế, giá cả hàng hóa cao, nhu cầu tiêu dùng của xã hội lớn, hành vi buôn lậu trở nên phức tạp hơn rất nhiều, bao gồm các hành vi nhập khẩu (phổ biến là hàng hóa tiêu dùng, linh kiện, hàng cấm.) và xuất khẩu (phổ biến là tài nguyên thiên nhiên, động thực vật quý hiếm. Với những đặc điểm nói trên, BLHS năm 2015 quy định tội buôn lậu tại Điều 188: “1. Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000 đồng đến dưới 300.000 đồng hoặc dưới 100.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật……. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200.000 đồng đến dưới 300.000 đồng; hàng hóa trị giá dưới 200.000 đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000 đồng đến dưới 200.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng;…… d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 7.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm; đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”.
Căn cứ vào Điều 188 BLHS năm 2015 có thể đưa ra khái niệm về tội buôn lậu như sau: “Tội buôn lậu là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý , di vật, cổ vật; do người hoặc pháp nhân thương mại có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm mục đích kiếm lời”. Từ khái niệm trên có thể thấy rằng “buôn lậu” với vị trí là một tội phạm trong BLHS phải có yếu tố bắt buộc là “qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại”, nếu hành vi buôn bán các mặt hàng kể trên 9 mà không qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại thì đó không phải là hành vi buôn lậu. Đồng thời, đối tượng của hành vi buôn lậu theo Luật hình sự Việt Nam được cụ thể bao gồm: hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá ….; Vật phạm pháp là di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; đồng thời tội buôn lậu trong BLHS còn có thêm dấu hiệu mục đích của người phạm tội là mục đích kiếm lời, đây là một dấu hiệu quan trọng nhằm phân biệt giữa tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới. Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội buôn lậu a) Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý việc xuất, nhập khẩu hàng hoá, tiền tệ, kim khí đá quý, di vật, cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hóa, bảo vật quốc gia.
Đối tượng tác động của tội buôn lậu là hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, vật phạm pháp có giá trị từ 100.000 đồng đến dưới 300.000 triệu đồng và vật phạm pháp là di vật, cổ vật. Khi xác định đối tượng tác động, nếu cần phải trưng cầu giám định của cơ quan chuyên môn thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định.