Chương 1: Giới thiệu đề tài Trang 6 HVTH: Trần Nguyễn Phú Chuyên Tính toán mềm đám mây di động cho điện thoại thông minh GVHD: PGS-TS. Lê Tiến Thường Chương 2 ĐIỆN TOÁN DI ĐỘNG VÀ ĐIỆN TOÁN DAM MAY 2.1 Điện toán di động 2.2 Điện toán đám mây 2.1 Điện toán di động Di động đã trở nên phố biến nhanh chóng trong lĩnh vực điện toán ngày nay. Tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc xuất hiện trong các thiết bị di động như là: điện thoại thông minh, PDA, dẫn đường bằng GPS và máy tính xách tay với nhiều điện toán di động, mạng và an ninh công nghệ. Ngoài ra, với sự phát triển công nghệ vô tuyến như WiMax, Ad Hoc và WIFI, người dùng có thé là lướt internet dé dàng hon và không bị giới hạn bởi dây cáp như trước.
Do đó, những thiết bị di động ấy được chấp nhận hơn. Với nhiều đây là lựa chọn dau tiên của họ cho công việc và giải trí trong cuộc sông hăng ngày. Vi vậy, điện toán di động là những gì? Theo Wikipedia [14], nó được mô tả như một hình thức tương tác của con người-máy tính bang cách mà một máy tinh dự kiến sẽ được vận chuyền trong quá trình sử dụng bình thường. Điện toán di động dựa vào tập hop ba khái niệm chính: phan cứng, phần mềm và truyền thông.
Các khái niệm về phan cứng có thé được coi là thiết bị di động, chang han nhu dién thoại thông minh va máy tinh xách tay, linh kiện điện thoại di động. Phần mềm của điện toán di động là ứng dụng di động nhiều trong thiết bị, như là trình duyệt di động, phần mềm diệt virus và trò chơi. Các van dé thông tin liên lạc bao gồm các cơ sở hạ tầng của mạng di động, các giao thức và cung cấp dữ liệu trong việc sử dụng chúng. Chương 2: Điện toán di động và điện toán đám mây Trang 7 HVTH: Trần Nguyễn Phú Chuyên Tính toán mềm đám mây di động cho điện thoại thông minh GVHD: PGS-TS.
Lê Tiến Thường 2.1 Các tính năng của điện toán di động Tinh cơ động: nodes di động trong mạng điện toán di động có thé thiết lập kết nối với nodes khác. Tinh da dạng của điều kiện mạng : Các mạng sử dụng bang nodes di động không phải là duy nhất, mạng như vậy có thé là mạng có dây với băng thông cao, hoặc mạng diện rộng (WWAN) với băng thông thấp, hoặc thậm chí trong trạng thái ngắt kết nói. Neat kết noi thường xuyên và tính nhất quán: như những hạn chế của nguồn pin, các vẫn đề về mạng không dây, điều kiện mạng. Mang giao tiếp doi xứng: các máy chủ và các điểm truy cập cho khả năng gửi / nhận mạnh mẽ, trong khi kha năng như vậy trong các nút di động là khá yếu.
Do đó, băng thông truyền thông và tổng phí giữa đường xuống (downlink) và đường lên (uplink) có sự khác biệt. Độ tin cậy thấp: Do tín hiệu rất dễ bị liên lệch và rình mò, một hệ thống mạng lưới điện toán di động có được xem xét từ thiết bị đầu cuối, mạng lưới, các nên tảng cơ sở dữ liệu, cũng như các ứng dụng phát triển để giải quyết vân đề an ninh vân đề.2 Thách thức So với mạng truyền thông có dây, mạng điện toán di động có thể đối mặt nhiều vấn đề và thách thức trong các khía cạnh khác, như là rỗi loạn tín hiệu, an ninh, trễ hand-off, giới han thời lượng pin, kha năng tính toán thấp. trong môi trường vô tuyến và vô số các nút di động. Ngoài ra, chất lượng của Dịch vụ (QoS) trong mạng điện toán di động bi ảnh hưởng bởi địa hình, thời tiết và các tòa nhà.2 Điện toán đám mây Trong thời đại công nghệ thông tin, nhiều người dùng thấy rang các máy tính họ mua 2 năm trước đây không thé bắt kịp với sự phát triển của cong nghệ thông tin ngày nay, họ cần một CPU tốc độ cao hơn, công suất lớn hơn, đĩa cứng lớn hơn, và một hệ thống hoạt động hiệu suất cao hơn (OS).
Đó là sự kỳ diệu của 'Moores Chương 2: Điện toán di động và điện toán đám mây Trang 8 HVTH: Trần Nguyễn Phú Chuyên Tính toán mềm đám mây di động cho điện thoại thông minh GVHD: PGS-TS. Lê Tiến Thường Luật "trong đó chủ trương nâng cấp máy tính của liên tục, nhưng không bao giờ vượt qua sự phát triển kỹ thuật. Do đó, một thuật ngữ gọi là bùng nồ 'Điện toán đám mây' đên cuộc sông hàng ngày. Điện toán đám mây đã trở thành một cụm từ phố biến từ năm 2007.
Tuy nhiên, không có sự đồng thuận về định nghĩa điện toán đám mây hay hệ thống điện toán đám mây do hàng chục các nhà phát triển và các tổ chức mô tả nó theo những nhau quan điểm khác nhau. Hewitt [3] giới thiệu các chức năng chính của một hệ thong điện toán đám mây được lưu trữ dữ liệu trên đám mây các máy chủ, va sử dụng công nghệ bộ nhớ cache trong các client dé lay dữ liệu. Những client có thể là máy tính, máy tính xách tay, điện thoại thông minh. Buyya [4] đưa ra định nghĩa từ quan điểm đánh dấu răng điện toán đám mây là hệ thống máy tính song song và phân tán, chúng được kết hợp bởi một nhóm các ảo máy với các liên kết nội bộ.
Giữa nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng cần có những thỏa thuận cụ thé được nêu trong SLA (Service Level Agreement) trong đó xác định về yêu cầu chất lượng dịch vụ QoS (Quality of Service). Tuy nhiên, một s6 tác giả đã để cập răng điện toán đám mây không phải là một khái niệm hoàn toàn mới. Youseff từ UCSB cho rằng điện toán đám mây chỉ được kết hợp bởi nhiều ton tại và vài khái niệm mới trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu, như là phân phối và tính toán lưới, kiến trúc hướng dịch vụ ( SOA ) và ảo hóa. Hệ thống điện toán đám mây là sự phát triển xử lý song song, phân phối và tính toán lưới trên Internet, cung cấp QoS khác nhau bao đảm dịch vụ như: phân cứng.
cơ sở hạ tang, nên tang, lưu trữ các ứng dụng Internet khác nhau và người sử dụng.1 Định nghĩa điện toán đám mây “Điện toán đám mây là một khái niệm rộng, nhưng theo quan điểm của chúng tôi, nó tương quan với các phương thức để cung cấp cơ sở hạ tang, dịch vụ và phần mềm thông qua mạng theo nhu câu, phù hợp với quy mô. Điện toán đám mây dựa trên một nên tảng ảo hóa, trong đó các kho tài nguyên (ảo hóa) được tô chức một cách linh động vì lợi ích của các ứng Chương 2: Điện toán di động và điện toán đám mây Trang 9 HVTH: Trần Nguyễn Phú Chuyên Tính toán mềm đám mây di động cho điện thoại thông minh GVHD: PGS-TS. Lê Tiến Thường dụng và phần mềm. Điều này sẽ làm thay đổi cách thức các ứng dụng được viét ra và cung cap” — Cisco System Theo định nghĩa của Viện nghiên cứu tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Hoa Ky (NIST), “Điện toán dam mây là mô hình điện toán cho phép truy cập qua mạng dé lựa chọn va sử dụng tài nguyên tính toán (ví dụ: mạng, máy chủ, lưu trữ, ứng dụng và dịch vụ) theo nhu cầu một cách thuận tiện và nhanh chóng: đồng thời cho phép kết thúc sử dụng dịch vụ, giải phóng tài nguyên dê dàng, giảm thiêu các giao tiép với nhà cung cap”.
Theo đó, mô hình DTDM có các đặc trưng chính là cho phép sử dung dịch vụ theo yêu cầu (on-demand service), cung cấp khả năng truy cập dịch vụ qua mạng rộng rãi từ máy tính để bàn, máy tính xách tay tới thiết bị di động (broad network access); với tài nguyên tính toán động, phục vu nhiều người (resource pooling for multi-tenancy), năng lực tính toán mềm dẻo, đáp ứng nhanh với mọi nhu cau từ thấp tới cao (rapid elasticity). Mô hình DTDM cũng đảm bảo việc sử dụng các tài nguyên luôn được “cân đo” để nhà cung cấp dịch vụ quản trị và tối ưu hóa được tài nguyên, đồng thời người dùng chỉ phải trả chi phí cho phan tài nguyên thực sự sử dụng (pay-by-use). S206 AUD ich vu Phan mem Dịch vụ nên tang § Dich vụ ha tầng 4 MÔ HÌNH ae _ I (Cong cong, CẾ Laia _ a Aare ‘Cong cay TRIEN KHAI a Riêng > Hình 2.1: Mô hình điện toán đám mây của NIST Chương 2: Điện toán di động và điện toán đám mây Trang 10 HVTH: Trần Nguyễn Phú Chuyên Tính toán mềm đám mây di động cho điện thoại thông minh GVHD: PGS-TS. Lê Tiến Thường 2.2 Mô hình tổng quan của điện toán đám mây Các nguôn điện toán không 16 như phân mém, dịch vụ.
sẽ năm tại các may chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng = ik Hình 2.2: Mô hình tong quan của điện toán đám mây Hiện nay, các nhà cung cấp đưa ra nhiều dịch vụ của điện toán đám mây theo nhiễu hướng khác nhau, đưa ra các chuẩn riêng cũng như cách thức hoạt động khác nhau. Do đó, việc tích hợp các cloud dé giải quyết một bài toán lớn của khách hàng vẫn còn là một vấn đề khó khăn. Chính vì vậy, các nhà cung cấp dịch vụ đang có xu hướng tích hợp các đám mây lại với nhau thành “sky computing”, đưa ra các chuẩn chung để giải quyết các bài toán lớn của khách hàng.3 Các tính năng của điện toán đám mây 2.1 Áo hóa Chương 2: Điện toán di động và điện toán đám mây Trang 11 HVTH: Trần Nguyễn Phú Chuyên Tính toán mềm đám mây di động cho điện thoại thông minh GVHD: PGS-TS. Lê Tiến Thường Đám mây có thể được coi là nơi chứa tài nguyên ảo, thiết bị phần cứng tất cả được ảo hoá.
Thiết bị đầu cuối thông qua trình duyệt và lay dữ liệu từ nhà cung cấp điện toán đám mây từ các trung tâm dữ liệu riêng của họ. Hơn nữa, máy ảo thường được cài đặt trên máy chủ để nâng cao hiệu quả sử dụng và máy ảo như vậy hỗ trợ chuyển tải khi có một máy chủ quá tải.2 Độ tin cay, kha nang sử dụng va mo rộng Điện toán đám mây cung cấp chế độ an toàn để lưu trữ dữ liệu của người sử dụng người sử dụng không phải lo lắng về các van dé chăng hạn như cập nhật phần mềm, vá 16 hong, virus tan công và mat dữ liệu. Nếu thất bại xảy ra trên một máy chủ hoặc máy ảo, điện toán đám mây chuyền sang hệ thống và sao lưu các dữ liệu cho các máy khác. Sau đó xóa các nút thất bai ấy ra khỏi hệ thống dé chắc chăn rằng toàn bộ hệ thống hoạt động bình thường.