Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh giải quyết vấn đề phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong một thể loại diễn ngôn chuyên biệt là thư tín thương mại, dưới góc nhìn của ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Xuất phát từ sự phát triển của ngữ pháp chức năng, ngôn ngữ không chỉ được xem xét như một hệ thống cấu trúc tĩnh tại trừu tượng mà còn là công cụ tương tác xã hội trong hoạt động giao tiếp thực tế. Qua đó, ngôn ngữ phản ánh quan điểm, thái độ, ý chí và cảm xúc của người tạo lập đối với người tiếp nhận cũng như đối với sự tình được biểu đạt. Tình thái đạo nghĩa (deontic modality) là một nhánh cơ bản của phạm trù tình thái chủ quan, thể hiện sự can dự của nhân tố ý chí thông qua việc đánh giá tính hợp thức theo các chuẩn mực đạo đức hoặc quy ước xã hội đối với hành vi của các chủ thể tham gia giao tiếp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ rõ xuất phát từ hai thực tế. Thứ nhất, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thư tín thương mại là công cụ liên lạc hành chính – kinh tế chủ lực giữa các doanh nghiệp. Nội dung văn bản thường xuyên chuyển tải các hành động mang tính áp đặt, yêu cầu, đề nghị hoặc cấp phép, đòi hỏi người soạn thảo phải xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích mà không làm tổn hại đến quan hệ hợp tác kinh doanh. Thứ hai, tại Việt Nam, các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận thư tín thương mại ở góc độ đặc tính phong cách chung (như tính súc tích, rõ ràng, lịch sự) hoặc dừng lại ở việc mô hình hóa kỹ thuật dịch thuật cơ học. Tình thái đạo nghĩa trong tiếng Việt nói chung và việc nghiên cứu đối chiếu các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại Anh – Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học nói riêng vẫn là một địa hạt chưa có công trình chuyên sâu nào khảo sát toàn diện.

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai mục tiêu cụ thể:

  1. Làm rõ các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học.
  2. Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại tiếng Anh với tiếng Việt.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:

  1. Tình thái đạo nghĩa được biểu đạt bằng các phương tiện từ vựng, ngữ pháp nào trong các văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt?
  2. Xét trên ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học, chúng có những đặc điểm gì?
  3. Những phương tiện trên có điểm tương đồng và khác biệt nào về ngôn ngữ, văn hóa và thể thức văn bản?

Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng bao gồm: hệ thống hóa lý luận về tình thái và tình thái đạo nghĩa; khảo sát, thống kê các phương tiện từ vựng và ngữ pháp biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong ngữ liệu thư tín thương mại hai ngôn ngữ, phân loại theo hai nhóm ý nghĩa "bắt buộc" và "được phép"; miêu tả chi tiết các phương tiện theo ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học; đối chiếu một chiều từ tiếng Anh sang tiếng Việt để rút ra các quy luật tương đồng và dị biệt.

Đối tượng nghiên cứu là các phương tiện từ vựng và ngữ pháp được sử dụng để biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong 180 văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và 180 văn bản thư tín thương mại tiếng Việt.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn dựa trên lý thuyết phân loại bốn nhóm tình thái đạo nghĩa của Palmer (1986): "bắt buộc", "cấm đoán", "được phép", "được miễn trừ". Qua khảo sát sơ bộ ngữ liệu thực tế, tác giả nhận thấy:

  • Nhóm "bắt buộc" xuất hiện 688 lần trong ngữ liệu tiếng Anh và 645 lần trong ngữ liệu tiếng Việt.
  • Nhóm "được phép" xuất hiện 284 lần trong ngữ liệu tiếng Anh và 211 lần trong ngữ liệu tiếng Việt.
  • Nhóm "cấm đoán" xuất hiện với tần số rất thấp: 68 lần trong ngữ liệu tiếng Anh và 8 lần trong ngữ liệu tiếng Việt.
  • Nhóm "được miễn trừ" chỉ xuất hiện 24 lần trong ngữ liệu tiếng Anh và 24 lần trong ngữ liệu tiếng Việt.

Mặt khác, về mặt cấu trúc ngữ nghĩa, các phương tiện biểu đạt "cấm đoán" và "được miễn trừ" chủ yếu là biến thể phủ định trực tiếp của "bắt buộc" và "được phép" (ví dụ: cannot, could not, không được là phủ định của can, could, được; need not, không phải, không cần là phủ định của need, phải, cần). Vì vậy, luận án tập trung phạm vi phân tích chuyên sâu vào hai nhóm tình thái đạo nghĩa cơ bản là "bắt buộc" và "được phép".

Về phạm vi ngữ liệu và không gian khảo sát: Ngữ liệu tiếng Anh gồm 180 văn bản (tổng số 258 trang) của các công ty tư nhân của Anh như Oriental Star, CH & Lynch Ltd, Cosevec N.A, R Hughes and Son Ltd..., được viết bởi người bản ngữ Anh gửi cho đối tác người Anh. Ngữ liệu tiếng Việt gồm 180 văn bản (tổng số 261 trang) của các công ty tư nhân Việt Nam như Công ty du lịch và thể thao Việt Nam, Công ty sản xuất đồ tre chuyên dụng KPI, Công ty TNHH và phát triển EDH, Công ty Hoa Lan, Công ty xuất nhập khẩu rau quả Việt Nam, Công ty ESSO, Công ty Ngọc Tú, Công ty Ngọc Động Hà Nam..., được viết bởi người Việt Nam gửi cho đối tác người Việt Nam. Toàn bộ ngữ liệu phân bổ đều trong ba loại hình giao dịch cốt lõi: thư yêu cầu, thư chào hàng và thư khiếu nại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được phân chia thành ba mạch nghiên cứu chính trong và ngoài nước:

  1. Các nghiên cứu về phạm trù tình thái và tình thái đạo nghĩa:
  • Trong logic học và ngôn ngữ học quốc tế: Jespersen tiếp cận tình thái qua mối quan hệ với thức (mood), phân định tình thái theo sự hiện diện hay vắng mặt của thành tố ý chí. Von Wright thiết lập bốn thức logic gồm thức tất suy, thức nhận thức, thức đạo nghĩa và thức tồn thái. Rescher mở rộng hệ thống tình thái sang các bình diện nhận thức, đạo nghĩa, thời đoạn, mong ước, đánh giá và nhân quả. Searle tiếp cận tình thái thông qua lý thuyết hành động ngôn ngữ, phân xuất năm nhóm hành động (xác quyết, khuyến lệnh, kết ước, tuyên bố, biểu lộ) tương ứng với các trạng thái tình thái. Lyons định nghĩa tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề hoặc sự tình được miêu tả, chia thành tình thái tất yếu - khả năng, nhận thức và đạo nghĩa. Palmer phân định rõ tình thái nhận thức (chỉ vị thế hiểu biết, phán đoán của người nói) và tình thái đạo nghĩa (nhân tố ý chí gắn liền với chuẩn mực đạo đức và xã hội). Portner liên hệ tình thái đạo nghĩa với các hệ thống quy tắc, luật lệ, phân loại các phương tiện biểu đạt ở cấp độ trợ động từ, bán trợ động từ và các bộ phận câu. Charlow và Chrisman phân loại phương tiện biểu đạt cấp độ từ và câu. Schmied chứng minh sự phụ thuộc của tình thái đạo nghĩa vào ngữ cảnh giao tiếp. Von Fintel và Gillies xem xét tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên dưới tác động của ngữ nghĩa, ngữ dụng và giao thoa văn hóa.
  • Tại Việt Nam: Hoàng Trọng Phiến coi tình thái là phạm trù ngữ pháp tiềm ẩn có mặt trong mọi kiểu câu. Đỗ Hữu Châu định vị tình thái thuộc toàn bộ ý nghĩa ngữ dụng bộc lộ kèm theo lõi mệnh đề P. Hoàng Tuệ xác định tình thái thể hiện thái độ và tác động ngữ dụng của người nói hướng tới người nghe. Cao Xuân Hạo chia tách tình thái thành tình thái hành động phát ngôn và tình thái lời phát ngôn, đồng thời phân tích các phương tiện biểu đạt từ khởi ngữ, cấu trúc đề - thuyết đến vị từ tình thái. Đinh Văn Đức phân tích các tiểu từ chuyên dụng và định danh động từ tình thái là nhóm "động từ trống nghĩa". Phạm Hùng Việt khảo sát hệ thống trợ từ biểu đạt tình thái chủ quan và khách quan. Bùi Trọng Ngoãn miêu tả lớp động từ tình thái tiếng Việt trên hai bình diện nghĩa học và dụng học theo các hành vi tạo lời. Nguyễn Thị Thuận nghiên cứu chuyên sâu năm động từ tình thái (nên, cần, phải, bị, được). Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp tiếp tục khẳng định bản chất đạo nghĩa gắn với chuẩn mực xã hội, trong đó Nguyễn Văn Hiệp hệ thống hóa các cặp đối lập tình thái và 12 phương tiện biểu đạt tình thái trong cú pháp tiếng Việt.
  1. Các nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ thư tín thương mại:
  • Quốc tế: Ashley xác lập năm đặc tính chuẩn mực của ngôn ngữ thư tín thương mại gồm tính thống nhất, tính rõ ràng, tính hoàn chỉnh, tính súc tích và tính chính xác, phân loại văn bản theo phương thức chuyển giao (thư, fax, email). Dwyer phân tích ngôn ngữ thư tín theo các tình huống giao tiếp cụ thể (chấp nhận lời mời, thông báo thay đổi, phàn nàn, yêu cầu). Courtland và John trình bày quy trình giao tiếp và kỹ thuật lựa chọn cấu trúc trực diện hoặc gián tiếp theo mục đích văn bản.
  • Tại Việt Nam: Nguyễn Trọng Đàn phân tích diễn ngôn thư tín thương mại qua bốn loại thư (hỏi hàng, chào hàng, đặt hàng, khiếu nại), chỉ ra ba điều kiện giao tiếp là rõ ràng, súc tích và lịch sự. Hà Văn Riễn nghiên cứu dịch thuật thương mại Pháp – Việt, phân tích các lỗi chuyển dịch. Nguyễn Thành Lân nghiên cứu cấu trúc tu từ nhằm xây dựng mô hình đối dịch Anh – Việt, Việt – Anh trên cơ sở đối sánh tài liệu tiếng Anh viết cho người Nhật. Trần Bích Lan khảo sát dịch thuật thương mại Trung – Việt ở cấp độ từ ngữ và phát ngôn theo quan điểm dịch chức năng. Phan Thanh Lâm và Nguyễn Thị Hòa Bình nêu các yêu cầu về ngôn ngữ trong thư tín thương mại tiếng Việt gồm tính dễ hiểu, ngắn gọn, phù hợp luật thương mại và tạo dựng thiện chí.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình nghiên cứu về thư tín thương mại trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả cấu trúc văn bản tổng quát, đưa ra lời khuyên phong cách hoặc giải quyết bài toán dịch thuật câu chữ thuần túy. Chưa có công trình nào khảo sát thực nghiệm trên một khối lượng ngữ liệu đối xứng thuần bản ngữ Anh và bản ngữ Việt để làm rõ phương thức ngữ pháp hóa và từ vựng hóa của phạm trù tình thái đạo nghĩa. Luận án định vị khoảng trống nghiên cứu bằng việc tích hợp lý thuyết ba bình diện ngôn ngữ để giải mã toàn diện các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa "bắt buộc" và "được phép" trong các loại thư yêu cầu, chào hàng và khiếu nại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết đa ngành của ngôn ngữ học hiện đại:

  • Khung khái niệm tình thái đạo nghĩa: Tác giả tiếp thu định nghĩa của Palmer (1986), xem tình thái đạo nghĩa là loại tình thái liên quan đến nhân tố ý chí của người nói, theo đó người nói đánh giá tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội khác đối với hành động do chính mình hoặc người khác thực hiện. Hai đặc trưng ngữ nghĩa cơ bản của tình thái đạo nghĩa là tính chủ quan (ý chí, mong muốn của người phát ngôn) và tính không thực hữu (hướng tới một hành động trong tương lai chưa diễn ra tại thời điểm phát ngôn). Sự tình đạo nghĩa được cấu thành từ bốn tham số theo Coates: lực tác động (F - force), tác thể thực hiện (A - agent), tính chất động của sự tình (D - dynamic), và thời điểm diễn ra muộn hơn thời điểm quy chiếu (L - later).
  • Lý thuyết ba bình diện ngôn ngữ: Khởi xướng bởi Charles Sanders Peirce, Charles William Morris và được tiếp nối bởi George Yule, bao gồm:
    1. Bình diện kết học (cú pháp): Nghiên cứu mối quan hệ hình thức giữa các tín hiệu ngôn ngữ với nhau và trật tự phân bố của phương tiện trong cấu trúc câu.
    2. Bình diện nghĩa học: Nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với thực thể và sự tình được biểu thị. Luận án sử dụng thang đo ba cấp độ tình thái (cao, trung bình, thấp) của Halliday và Matthiessen (2004) để định vị mức độ áp đặt hay cấp phép.
    3. Bình diện dụng học: Nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu và người sử dụng trong ngữ cảnh giao tiếp.
  • Khung lý thuyết hành động ngôn ngữ: Xây dựng trên nền tảng của Austin (1962) và Searle (1969). Luận án xác định tình thái đạo nghĩa gắn chặt với hai nhóm hành động ngôn ngữ: nhóm khuyến lệnh (directives - đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện hành động, như yêu cầu, đề nghị, hỏi, cho phép) và nhóm kết ước (commissives - người nói tự đặt mình vào trách nhiệm thực hiện hành động, như cam kết, hứa). Tác giả phân tích cơ chế thực hiện hành động trực tiếp và gián tiếp dựa trên điểm nhìn của người tạo lập, đồng thời xử lý hiện tượng giao thoa giữa hành động thông báo (nhóm xác tín) và hành động cam kết (nhóm kết ước).
  • Khung lý thuyết lịch sự: Dựa trên mô hình quản lý thể diện của Brown và Levinson (1978) với hệ thống 15 chiến lược lịch sự dương tính (hướng tới duy trì tình cảm, sự đồng thuận, khẳng định lợi ích chung) và 10 chiến lược lịch sự âm tính (giảm thiểu áp đặt, bảo vệ không gian tự do của đối tác, sử dụng lối nói gián tiếp rào đón), kết hợp quan điểm duy trì cân bằng xã hội của Leech (1983) và Bentahila & Davies (1989).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm bốn phương pháp và thủ pháp:

  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt các phương tiện ngôn ngữ vào bối cảnh giao tiếp cụ thể của thư tín thương mại để xác định chức năng biểu đạt và ngữ nghĩa tương tác bậc trên câu.
  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả độc lập các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt ở từng bình diện kết học (vị trí cú pháp), nghĩa học (thang độ tình thái), và dụng học (mối liên hệ với hành động ngôn ngữ và biểu thức điều biến lịch sự).
  • Phương pháp đối chiếu: Thực hiện đối chiếu một chiều từ tiếng Anh (ngôn ngữ cơ sở/nguồn) sang tiếng Việt (ngôn ngữ phương tiện/đích) trên cả ba bình diện để tìm kiếm nét tương đồng và dị biệt về văn hóa, ngôn ngữ và thể loại văn bản.
  • Thủ pháp thống kê: Sử dụng phần mềm xử lý văn bản TextSTAT 2 để lọc dữ liệu, xác định tần suất xuất hiện và tính toán tỷ lệ phần trăm của từng phương tiện từ vựng, ngữ pháp trong khối ngữ liệu 360 thư tín thương mại.

Nguồn tư liệu nghiên cứu: Tổng cộng 360 văn bản thư tín thương mại thuộc các giao dịch thực tế của doanh nghiệp tư nhân Anh và Việt Nam, với tổng dung lượng 519 trang văn bản (tiếng Anh: 258 trang; tiếng Việt: 261 trang), phân bổ đồng đều trong ba loại hình: thư yêu cầu, thư chào hàng và thư khiếu nại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 thực hiện tổng quan có hệ thống các tài liệu nghiên cứu về tình thái, tình thái đạo nghĩa và đặc trưng ngôn ngữ thư tín thương mại trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các khuynh hướng tiếp cận tình thái từ góc độ logic học (Jespersen, von Wright, Rescher) sang góc độ ngôn ngữ học miêu tả và chức năng (Searle, Lyons, Palmer). Chương này làm rõ tính chủ quan và tính không thực hữu của tình thái đạo nghĩa, đặt trong tương quan phân loại bốn nhánh của Palmer: "bắt buộc", "cấm đoán", "được phép", "được miễn trừ".

Về cơ sở lý luận, chương 1 xây dựng khung phân tích đa diện tích hợp ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học:

  • Về kết học: Xác định mô hình phân bố cú pháp của phương tiện từ vựng trong cấu trúc vị ngữ và các mô hình câu ngữ pháp.
  • Về nghĩa học: Ứng dụng mô hình phân cấp ba mức độ (cao, trung bình, thấp) của Halliday và Matthiessen (2004), kết hợp định nghĩa từ điển học của Crystal và Hoàng Phê để xác định giá trị ngữ nghĩa của phương tiện.
  • Về dụng học: Tích hợp lý thuyết hành động ngôn ngữ khuyến lệnh và kết ước của Searle (1969) nhằm nhận diện các hành vi yêu cầu, đề nghị, cho phép, cam kết, hứa theo phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Đồng thời, chương 1 liên kết các phương tiện tình thái với 15 chiến lược lịch sự dương tính và 10 chiến lược lịch sự âm tính của Brown và Levinson (1978), làm rõ vai trò của các biểu thức điều biến trong việc giảm tải nguy cơ đe dọa thể diện đối tác thương mại. Tác giả cũng tổng kết các tiêu chuẩn ngôn ngữ thư tín thương mại theo Ashley, Comas & Satterwhite, Phan Thanh Lâm và Nguyễn Thị Hòa Bình, tạo tiền đề cho việc khảo sát thực nghiệm.

Chương 2: Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “bắt buộc” trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 2 khảo sát chi tiết 688 lượt xuất hiện của phương tiện biểu đạt tình thái "bắt buộc" trong tiếng Anh và 645 lượt trong tiếng Việt. Số liệu phân bố tổng thể được tổng hợp tại Bảng 2.1 của luận án:

Loại phương tiện Nhóm phương tiện Tiếng Anh (Phương tiện / Tần suất / Tỉ lệ) Tiếng Việt (Phương tiện / Tần suất / Tỉ lệ)
Từ vựng Động từ tình thái Must (15/688), Have to (8/688), Need (15/688), Should (52/688), Will (182/688), Would (128/688), Would like (50/688)
-> Tổng tỉ lệ nhóm: 65%
Phải (36/645), Cần (31/645), Nên (2/645), Mong (72/645), Muốn (16/645), Mong muốn (18/645)
-> Tổng tỉ lệ nhóm: 27%
Động từ ngôn hành Require (23/688), Request (6/688), Ask (56/688), Suggest (8/688)
-> Tổng tỉ lệ nhóm: 14%
Yêu cầu (11/645), Cam kết (14/645), Xin (168/645), Đề nghị (20/645)
-> Tổng tỉ lệ nhóm: 33%
Phó từ Không ghi nhận phó từ độc lập biểu đạt Sẽ (164/645)
-> Tổng tỉ lệ nhóm: 25%
Ngữ pháp Câu điều kiện If A..., Unless A... (24/688 - 3%)
-> Tổng tỉ lệ nhóm: 13%
Cấu trúc điều kiện (If A...) (50/645)
-> Tổng tỉ lệ nhóm: 8%
Câu mệnh lệnh Xuất hiện ở tỉ lệ thấp: 3% Xin A... (5/645), Mong A... (40/645)
-> Tổng tỉ lệ nhóm: 7%
Câu hỏi Can you...? (4/688), Could you...? (17/688), Would you...?
-> Tổng tỉ lệ nhóm: 5%
Không ghi nhận cấu trúc câu hỏi điển hình

Phân tích số liệu cho thấy:

  • Ở tiếng Anh, phương tiện cấp độ từ vựng chiếm ưu thế vượt trội với 79%, cao gấp gần 4 lần cấp độ ngữ pháp (21%). Trong đó, động từ tình thái là phương tiện phổ biến nhất (65%), kế đến là động từ ngôn hành (14%) và câu điều kiện (13%). Các cấu trúc câu hỏi (5%) và câu mệnh lệnh (3%) chiếm tỉ lệ nhỏ.
  • Ở tiếng Việt, cấp độ từ vựng chiếm 85%, trong đó động từ ngôn hành chiếm tỉ lệ cao nhất (33%), phó từ sẽ chiếm 25%, và động từ tình thái chiếm 27%. Cấp độ ngữ pháp chiếm 15% (câu điều kiện 8%, câu mệnh lệnh 7%).

Về bình diện kết học: Cả hai ngôn ngữ đều sử dụng mô hình vị ngữ trung tâm: $$\text{Chủ ngữ} + \text{Động từ tình thái} + \text{Động từ} + \text{Bổ ngữ}$$ Động từ tình thái đóng vai trò là một thành tố của vị ngữ, đứng trước động từ chính để bổ sung ý nghĩa tình thái. Nếu lược bỏ động từ tình thái, câu mất đi giá trị tình thái đạo nghĩa. Đối với động từ ngôn hành, mô hình kết học thường kết hợp với mệnh đề bổ ngữ theo sau.

Về bình diện nghĩa học: Luận án phân tầng các phương tiện theo ba thang độ tình thái của Halliday và Matthiessen (2004). Tiếng Anh có xu hướng né tránh mức độ bắt buộc cao (must, have to chỉ chiếm số lượng nhỏ: 15 và 8 lượt), thay vào đó tập trung vào mức độ trung bình và thấp (will: 182 lượt, would: 128 lượt, should: 52 lượt, would like: 50 lượt) nhằm làm mềm hóa sự áp đặt. Tiếng Việt thể hiện sự phân hóa rõ rệt: mức độ bắt buộc trực tiếp như phải (36 lượt), cần (31 lượt) ít được sử dụng hơn các phương tiện biểu đạt nguyện vọng hoặc đề nghị gián tiếp như xin (168 lượt), mong (72 lượt), sẽ (164 lượt).

Về bình diện dụng học: Tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa phương tiện tình thái bắt buộc với hành động ngôn ngữ khuyến lệnh (yêu cầu, đề nghị) và kết ước (cam kết, hứa). Luận án phân tích sự giao thoa chức năng: câu chứa phó từ sẽ trong tiếng Việt ("Chúng tôi sẽ giao hàng đúng hạn") tuy mang hình thức của hành động thông báo (nhóm xác tín) nhưng đích ngôn trung thực tế là hành động cam kết (nhóm kết ước). Về chiến lược lịch sự, tiếng Anh triệt để khai thác các chiến lược lịch sự âm tính của Brown và Levinson (dùng trợ động từ quá khứ would, could, cấu trúc câu hỏi điều kiện nhằm phi cá nhân hóa và giảm thiểu áp đặt). Ngược lại, tiếng Việt ưu tiên kết hợp các động từ ngôn hành mang sắc thái khiêm nhường (xin, kính đề nghị) với các chiến lược lịch sự dương tính, nhấn mạnh sự tôn trọng tôn ti xã hội và duy trì thiện cảm.

Chương 3: Các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa “được phép” trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3 tiến hành khảo sát và đối chiếu nhóm phương tiện biểu đạt tình thái "được phép" (284 lượt trong tiếng Anh và 211 lượt trong tiếng Việt).

  • Bình diện kết học: Phương tiện biểu đạt "được phép" trong tiếng Anh gồm các trợ động từ tình thái (can, could, may, might) và động từ ngôn hành (allow, enable, accept, agree, let). Trong tiếng Việt, các phương tiện từ vựng tương ứng gồm động từ tình thái (được, có thể) và động từ ngôn hành (cho phép, chấp nhận, cam kết, đảm bảo). Các phương tiện này phân bố trong cấu trúc câu khẳng định, câu bị động hoặc câu phức điều kiện.
  • Bình diện nghĩa học: Luận án phân loại các phương tiện theo ba thang độ cho phép: mức độ quyền hạn dứt khoát (may, cho phép), mức độ khả năng hóa điều kiện (can, could, có thể), và mức độ tiếp nhận quyền lợi (được). Tác giả nhận định ý nghĩa "được phép" trong ngữ cảnh thương mại không đơn thuần là sự ban ơn hành chính mà thường gắn liền với việc mở rộng quyền lợi giao dịch cho khách hàng (ví dụ: quyền được hưởng chiết khấu, quyền kiểm tra hàng trước khi nhận).
  • Bình diện dụng học: Các phương tiện biểu đạt "được phép" thực hiện các hành động ngôn ngữ chấp thuận đơn hàng, phản hồi khiếu nại hoặc trao quyền. Ở tiếng Anh, việc sử dụng may, can, could kết hợp chặt chẽ với các biểu thức điều biến điều kiện nhằm xác định ranh giới trách nhiệm pháp lý rõ ràng. Ở tiếng Việt, từ được xuất hiện với tần suất cao, mang giá trị ngữ nghĩa tích cực kép (vừa biểu thị tình thái tiếp nhận quyền lợi hợp pháp, vừa thể hiện sự thụ hưởng lợi ích), hỗ trợ đắc lực cho chiến lược lịch sự dương tính trong văn hóa kinh doanh phương Đông. Luận án đối chiếu chi tiết sự tương đồng và dị biệt về tần suất, cấu trúc kết học và đích dụng học giữa hai ngôn ngữ đối với nhóm tình thái này.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về tình thái, tình thái đạo nghĩa và các phương tiện biểu đạt trong thể loại văn bản thư tín thương mại.
  • Xây dựng thành công khung phân tích đối chiếu tích hợp ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. Khung lý thuyết này kết hợp hài hòa thang đo ba cấp độ tình thái của Halliday và Matthiessen (2004), lý thuyết hành động ngôn ngữ của Austin (1962) và Searle (1969), cùng mô hình chiến lược lịch sự của Brown và Levinson (1978).
  • Làm sáng tỏ hai đặc tính ngữ nghĩa cơ bản của tình thái đạo nghĩa trong giao tiếp kinh doanh là tính chủ quan và tính không thực hữu, được cụ thể hóa qua mô hình tương tác giữa bốn tham số (lực tác động F, tác thể A, tính động D, thời gian muộn hơn L).

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp dữ liệu định lượng chuẩn xác từ phần mềm TextSTAT 2 về tần suất xuất hiện và tỷ lệ phân bố của các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa "bắt buộc" và "được phép" trong 360 văn bản thư tín thương mại nguyên bản tiếng Anh và tiếng Việt.
  • Phát hiện các quy luật phân bố mang tính loại hình và văn hóa:
    • Trong tiếng Anh, người viết ưu tiên sử dụng phương tiện cấp độ từ vựng (79%), áp đảo bởi động từ tình thái (65%), đặc biệt là các hình thức giảm nhẹ áp đặt thuộc mức độ trung bình và thấp (will, would, should). Lối nói gián tiếp qua câu hỏi (Could you...?) và câu điều kiện (Unless...) được khai thác để hiện thực hóa chiến lược lịch sự âm tính.
    • Trong tiếng Việt, người viết sử dụng phương tiện cấp độ từ vựng chiếm 85%, nhưng trọng tâm chuyển dịch sang động từ ngôn hành (33% - dẫn đầu bởi từ xin với 168 lượt) và phó từ chỉ thời thể sẽ (25% - 164 lượt). Động từ tình thái chỉ chiếm 27%. Người Việt có xu hướng dùng động từ ngôn hành khiêm nhường kết hợp phó từ để cam kết hoặc đề nghị gián tiếp, phục vụ chiến lược lịch sự dương tính và tôn trọng thứ bậc giao tiếp.
  • Làm sáng tỏ cơ chế giao thoa ngữ dụng giữa hành động thông báo và hành động cam kết trong thư tín thương mại tiếng Việt, giải thích vì sao một phát ngôn không chứa động từ ngữ vi nhưng vẫn mang hiệu lực kết ước mạnh mẽ.
  • Đề xuất giải pháp và định hướng ứng dụng: Kết quả đối chiếu cung cấp căn cứ khoa học giúp người soạn thảo thư tín thương mại lựa chọn chính xác phương tiện biểu đạt theo từng loại thư (yêu cầu, chào hàng, khiếu nại); hỗ trợ người dịch tránh bẫy chuyển ngữ đối từ cơ học (word-for-word) gây vi phạm thể diện; đồng thời đóng góp tư liệu thực chứng cho việc biên soạn giáo trình và giảng dạy môn Thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt tại các trường đại học khối kinh tế và ngoại ngữ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Về phạm vi ngữ liệu: Luận án chỉ khảo sát 360 văn bản (258 trang tiếng Anh, 261 trang tiếng Việt) của các doanh nghiệp tư nhân, tập trung vào ba thể loại thư truyền thống là thư yêu cầu, thư chào hàng và thư khiếu nại. Khối ngữ liệu chưa bao quát toàn bộ các hình thức thư tín thương mại khác như thư thanh toán, thư vận chuyển, thư bảo hiểm.
  • Về phạm vi nội dung tình thái: Tác giả chủ động giới hạn nghiên cứu ở hai nhóm "bắt buộc" và "được phép". Hai nhóm tình thái đạo nghĩa còn lại trong mô hình của Palmer là "cấm đoán" (68 lượt tiếng Anh, 8 lượt tiếng Việt) và "được miễn trừ" (24 lượt tiếng Anh, 24 lượt tiếng Việt) chưa được phân tích chuyên sâu do tần suất xuất hiện quá thấp trong ngữ liệu khảo sát và bản chất ngữ pháp của chúng chủ yếu là dạng thức phủ định của hai nhóm chính.
  • Về chiều hướng đối chiếu: Nghiên cứu thực hiện phương pháp đối chiếu một chiều lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ nguồn và tiếng Việt làm ngôn ngữ đích, chưa tiến hành đối chiếu hai chiều độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo sát khối lượng ngữ liệu lớn hơn đối với các loại hình thư tín thương mại chuyên ngành hẹp (hàng hải, thanh toán quốc tế, tín dụng ngân hàng).
  • Đi sâu nghiên cứu hai tiểu loại tình thái đạo nghĩa "cấm đoán" và "được miễn trừ" trong các văn bản mang tính ràng buộc pháp lý thương mại chặt chẽ hơn như hợp đồng kinh tế hoặc điều khoản thương mại quốc tế.
  • Khảo sát sự biến chuyển của các phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong các phương thức giao tiếp số hóa hiện đại như thư điện tử thương mại trao đổi nhanh (business emails) hoặc tin nhắn giao dịch điện tử B2B.

Giá trị tham khảo

Công trình của Nguyễn Thị Thanh cung cấp giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, Ngữ dụng học và Ngôn ngữ học chức năng: Luận án là tài liệu tham khảo tiêu biểu về quy trình tích hợp lý thuyết ba bình diện (kết học – nghĩa học – dụng học) với các lý thuyết chuyên biệt (thang độ tình thái của Halliday, hành động ngôn ngữ của Searle, chiến lược lịch sự của Brown & Levinson) trên một thể loại văn bản cụ thể.
  • Đối với giảng viên và sinh viên chuyên ngành Tiếng Anh thương mại, Tiếng Anh chuyên ngành, Kinh tế đối ngoại: Phần phân tích thực nghiệm tại Chương 2 và Chương 3 chỉ rõ cơ chế vận hành của các từ ngữ quen thuộc (must, should, will, would like, xin, đề nghị, sẽ), cung cấp kiến thức thực tế giúp nâng cao kỹ năng biên soạn thư tín chuẩn mực.
  • Đối với dịch thuật viên và chuyên viên quan hệ đối ngoại tại các doanh nghiệp: Luận án chỉ ra các dị biệt văn hóa - ngữ dụng sâu sắc giữa văn hóa kinh doanh Anh (chuộng lịch sự âm tính, giảm thiểu áp đặt bằng câu hỏi điều kiện) và văn hóa kinh doanh Việt Nam (chuộng lịch sự dương tính, xưng hô tôn ti, dùng từ khiêm nhường), giúp phòng tránh các xung đột thể diện trong giao dịch quốc tế.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Bảng 2.1 cùng các phân tích dụng học về sự chuyển hóa giữa hành động thông báo và cam kết trong Chương 2, cùng mô hình xử lý chiến lược lịch sự âm tính/dương tính liên ngôn ngữ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Ngữ liệu khảo sát thực tế của luận án bao gồm những văn bản nào và có quy mô ra sao? Ngữ liệu của luận án gồm 180 văn bản thư tín thương mại tiếng Anh (258 trang) thu thập từ các công ty tư nhân của Anh (Oriental Star, CH & Lynch Ltd, Cosevec N.A, R Hughes and Son Ltd...) do người Anh viết gửi người Anh; và 180 văn bản thư tín thương mại tiếng Việt (261 trang) thu thập từ các công ty tư nhân Việt Nam (Công ty du lịch và thể thao Việt Nam, Công ty sản xuất đồ tre chuyên dụng KPI, Công ty TNHH và phát triển EDH, Công ty Hoa Lan, Công ty xuất nhập khẩu rau quả Việt Nam, Công ty ESSO, Công ty Ngọc Tú, Công ty Ngọc Động Hà Nam...) do người Việt viết gửi người Việt. Tổng quy mô là 360 bức thư (519 trang), tập trung vào ba loại: thư yêu cầu, thư chào hàng và thư khiếu nại.

  2. Vì sao luận án chỉ tập trung vào tình thái "bắt buộc" và "được phép" mà không phân tích sâu "cấm đoán" và "được miễn trừ"? Tác giả căn cứ vào kết quả khảo sát thực tế trên ngữ liệu: nhóm "bắt buộc" xuất hiện 688 lần (tiếng Anh) và 645 lần (tiếng Việt); nhóm "được phép" xuất hiện 284 lần (tiếng Anh) và 211 lần (tiếng Việt). Ngược lại, nhóm "cấm đoán" chỉ xuất hiện 68 lần (tiếng Anh) và 8 lần (tiếng Việt); nhóm "được miễn trừ" chỉ xuất hiện 24 lần (tiếng Anh) và 24 lần (tiếng Việt). Mặt khác, bản chất của "cấm đoán" và "được miễn trừ" chủ yếu là dạng phủ định của "bắt buộc" và "được phép" (cannot, could not, không được phủ định cho can, could, được; need not, không phải, không cần phủ định cho need, phải, cần). Vì giới hạn dung lượng luận án, tác giả chọn phân tích hai nhóm mang tính điển hình và có tần suất vượt trội.

  3. Trong thư tín thương mại tiếng Anh, phương tiện biểu đạt tình thái "bắt buộc" nào chiếm tỉ lệ cao nhất? Phương tiện cấp độ từ vựng chiếm 79% tổng số phương tiện biểu đạt tình thái "bắt buộc" trong tiếng Anh, trong đó nhóm động từ tình thái chiếm tỉ lệ cao nhất là 65% (450/688 lượt). Nổi bật nhất là động từ will với 182 lượt xuất hiện, tiếp theo là would (128 lượt), should (52 lượt) và would like (50 lượt). Các động từ chỉ sự bắt buộc tuyệt đối như must (15 lượt) và have to (8 lượt) chiếm tỉ lệ rất thấp. Động từ ngôn hành chiếm 14% (chủ yếu là ask với 56 lượt, require với 23 lượt). Cấp độ ngữ pháp chiếm 21% (câu điều kiện 13%, câu hỏi 5%, câu mệnh lệnh 3%).

  4. Tiếng Việt có đặc điểm gì khác biệt so với tiếng Anh trong việc sử dụng phương tiện từ vựng biểu đạt tình thái "bắt buộc"? Khác với tiếng Anh (nơi động từ tình thái chiếm ưu thế tuyệt đối 65%), trong tiếng Việt:

  • Động từ ngôn hành chiếm tỉ lệ cao nhất với 33% (213/645 lượt), trong đó từ xin xuất hiện nhiều nhất với 168 lượt, tiếp đến là đề nghị (20 lượt), cam kết (14 lượt), yêu cầu (11 lượt).
  • Động từ tình thái chỉ chiếm 27% (175/645 lượt), bao gồm mong (72 lượt), phải (36 lượt), cần (31 lượt), mong muốn (18 lượt), muốn (16 lượt), nên (2 lượt).
  • Phó từ sẽ chiếm tới 25% (164/645 lượt), đóng vai trò như một phương tiện từ vựng quan trọng biểu đạt cam kết và ràng buộc hành động tương lai.
  1. Luận án giải thích hiện tượng giao thoa giữa hành động thông báo và hành động cam kết như thế nào? Theo lý thuyết của Searle, hành động thông báo thuộc nhóm xác tín (không chứa động từ ngữ vi, nhằm làm cho người nghe tin sự tình là đúng), còn hành động cam kết thuộc nhóm kết ước (người nói tự ràng buộc trách nhiệm thực hiện hành vi trong tương lai). Sự giao thoa xảy ra khi hình thức biểu hiện của hành động này mang đích ngôn trung của hành động kia. Cụ thể, câu "Chúng tôi sẽ giao hàng đúng hạn" không sử dụng động từ ngữ vi cam kết (hình thức giống câu thông báo), nhưng khi xét về đích phát ngôn, người viết đã tự ràng buộc mình vào trách nhiệm giao hàng trong tương lai, nên phát ngôn này thực hiện hành động cam kết. Ngược lại, câu "Tôi cam đoan ngày mai trời sẽ mưa" có chứa động từ ngữ vi cam đoan (hình thức kết ước), nhưng mục đích thực tế không phải là tự ràng buộc hành vi mà chỉ nhằm gia tăng độ tin cậy cho thông tin thời tiết, do đó vẫn là hành động thông báo.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, khảo sát toàn diện hệ thống phương tiện biểu đạt tình thái đạo nghĩa trong thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt. Dựa trên khung phân tích tích hợp ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học cùng khối ngữ liệu thực nghiệm gồm 360 văn bản thư tín bản ngữ, nghiên cứu đã làm rõ cấu trúc phân bố tần suất và sự điều biến ngữ nghĩa của hai phân nhóm tình thái "bắt buộc" và "được phép". Kết quả đối chiếu một chiều từ tiếng Anh sang tiếng Việt chỉ ra các nét tương đồng về chức năng thể loại văn bản kinh doanh, đồng thời làm nổi bật những dị biệt sâu sắc về loại hình ngôn ngữ và chiến lược quản lý thể diện lịch sự mang tính văn hóa. Công trình đóng góp hệ thống cứ liệu ngữ liệu thực chứng có độ tin cậy cao, phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu ngữ dụng học, giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành và hoạt động biên dịch thương mại.