mở đầu của một thuyết ngữ/vị ngữ” mà Helge J.Dyvik đã nêu ra. Trong cách dùng này, thì đánh dấu phần thuyết, vì về mặt cấu trúc ngữ pháp và ngữ âm, nó gắn với phần thuyết. Trong kiểu câu có đề khung nêu điều kiện, thuyết biểu đạt nội dung tình thái đi với thì đƣợc thành ngữ hóa, thì bắt buộc phải đƣợc dùng và gắn chat với từ ngữ biểu đạt tình thái: thì phải, thì chết, thì được, thì thôi…Điều này càng chứng minh rõ chức năng đánh dấu phần thuyết của thì. Trong tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo đã giải thích chức năng của thì: “Thì là một từ chuyên biệt chỉ dùng vào chức năng phân giới đề - thuyết.
Nó có thể được định nghĩa là tác tử đánh dấu đề (cả chủ đề lẫn khung đề), tuy xu hướng chung của tiếng Việt thường đặt các chuyển tố (“giới từ”,”liên từ phụ thuôc”) vào trước đối tượng tác động về phương diện cấu trúc và về ngữ âm, nó làm thành một yếu tố tiền đính (proclitique) của ngữ đoạn tiếp theo.” Nội dung luận giải chức năng của thì mà Cao Xuân Hạo đã nêu ra rõ ràng là mâu thuẫn. Bởi lẽ, một mặt ông khẳng định thì đánh dấu phần đề nhƣng mặt khác, ông lại cho rằng “nó làm thành một yếu tố tiền đính của ngữ đoạn tiếp theo”. Sở dĩ nhƣ vậy là vì Cao Xuân Hạo đã không phân biệt đƣợc hai chức năng khác nhau của thì nhƣ trên vừa trình bày. 18 z Những yếu tố đóng vai trò thuyết tình thái trong câu tiếng Việt Với hai chức năng vừa trình bày, khi thì xuất hiện trong câu, cú, ngữ đoạn trƣớc thì là đề, ngữ đoạn sau thì là thuyết.
Đối với “mà” Với tƣ cách là tác tử phân giới Đề - Thuyết, mà có thể đƣơc dùng để đánh dấu Đề hay Thuyết. *Mà đánh dấu phần Đề Khi đƣợc dùng để đánh dấu phần đề, mà có hai chức năng chính: Thứ nhất, mà đánh dấu phần đề và phân giới Đề - Thuyết, khi Đề - Thuyết có quan hệ bất thường về mặt logic theo nhìn nhận chủ quan của ngƣời nói, kèm theo thái độ mỉa mai, phê phán: Ví dụ: - Đũa mốc mà chòi mâm son! - Con trai gì mà viết thư như yếu đuối như con gái! Thứ hai, mà đƣợc dùng để đánh dấu đề tiểu cú và phân giới Đề - Thuyết tiểu cú làm thuyết của câu: - Chị nói thách cao quá thì ai mà dám trả giá! - Loại máy tính này cửa hàng nào mà chả bán. * Mà đánh dấu phần thuyết Khi đƣợc dùng để đánh dấu phần thuyết, mà có hai chức năng chính: Thứ nhất, mà đánh dấu phần thuyết và phân giới Đề - Thuyết khi đề là đề khung nêu lên điều kiện, còn thuyết nêu lên hệ quả nghịch thƣờng về mặt logic theo sự nhìn nhận chủ quan của ngƣời nói. Quan hệ điều kiện - hệ quả nghịch thƣờng này có thể đƣợc ngƣời nói khẳng định dứt khoát hay là điều ngƣời nói nghi ngờ, phóng đoán, tra vấn để làm sáng tỏ.
Ví dụ: - Chúng tôi không làm gì nên tội mà phải đánh chửi như thế! (Vũ Trọng Phụng). - Chị bán nhà mà chị không nói qua với tôi một lời (Nguyễn Lân). - Nó không nói gì với mày mà mày lại khóc. 19 z Những yếu tố đóng vai trò thuyết tình thái trong câu tiếng Việt Trong những câu trên, thay vì thì, ngƣời ta dùng mà để đánh dấu phần thuyết.
Điều đó chứng minh rằng, trong cách dùng này, mà đánh dấu phần thuyết, và mà ở đây có chức năng tƣơng tự nhƣ chức năng thứ hai của thì, nhƣng đối lập với thì về quan hệ logic giữa đề và thuyết. Thứ hai, mà đánh dấu thuyết tiểu cú và phân giới Đề - Thuyết tiểu cú làm đề khung nêu điều kiện thuộc nhiều cấp độ: Ví dụ: - Ông mà dạy học thì ông chết mau lắm đấy. (Nam Cao) - Tao mà bắt được đứa nào thì tao đuổi. Trong cách dùng này, mà đánh dấu phần thuyết, vì về mặt ngữ âm và ngữ pháp, mà gắn với phần thuyết, là yếu tố đính vào trƣớc phần thuyết.
Với hai chức năng vừa nêu, khi mà đƣợc dùng trong câu, cú, tiểu cú, thì ngữ đoạn trƣớc mà là đề, ngữ đoạn sau mà là thuyết. Đối với “là” * Tác tử chuyên dùng là Là là tác tử chuyên dùng phân giới Đề - Thuyết, khi nó có tác dụng thuyết hóa những ngữ đoạn phi tuyến tính. Trong trƣờng hợp này, là đánh dấu phần thuyết và phân giới Đề - Thuyết: ngữ đoạn trƣớc là là đề, ngữ đoạn sau là là thuyết. Về phƣơng diện ngữ âm, tác tử là đƣợc phát âm có trọng âm.
Khi là là tác tử chuyên dùng, thì không thể tình thái hóa là bằng cách đặt trƣớc nó các phó từ chỉ thời gian hay chỉ sƣ tiếp diễn nhƣ: đã, đang, sẽ, mới, vừa, sắp, còn, vẫn… Ví dụ: - Con chó là của cháu nó mua đấy chứ. (Nam Cao) - Tôi đã nhẫn nhục như vậy là vì anh. (Chu Lai) * Vị từ quan hệ là Là là vị từ quan hệ khi trƣớc là có thẻ dùng tác tử thì, mà, hay có thể tình thái hóa là bằng cách đặt trƣớc nó tất cả các loại yếu tố tình thái. Về phƣơng diện ngữ âm, vị từ là không mang trong âm.
20 z Những yếu tố đóng vai trò thuyết tình thái trong câu tiếng Việt Ví dụ: … Thưa ông, lúc nãy ông bảo cái thẹo là chữ U. - Im đi, đồ ngu! Cái thẹo lộn xuôi mới là chữ U, còn cái thẹo chổng ngược thì chính là chữ A. (Vũ Trọng Phụng) Khi đƣợc dùng với tƣ cách là vị từ, là là chính tố của phần thuyết trong các kiểu câu định luận. Vì thế, vị từ quan hệ là không có tác dụng phân giới đề thuyết, mà nó thuộc về phần thuyết và có chức năng đánh dấu phần thuyết: ngữ đoạn trƣớc là hay trƣớc các yếu tố tình thái, các tác tử phủ định là đề, ngữ đoạn còn lại là thuyết.
Vị từ quan hệ là trong trƣờng hợp này tƣơng đƣơng với động từ “to be” trong tiếng Anh. Khi bàn về “Tác tử phân giới đề - thuyết”, theo Cao Xuân Hạo, Là là một từ có nhiều công dụng khác nhau nhƣng công dụng chủ yếu và thông thƣờng nhất chính là công dụng phân giới đề thuyết. Nhƣng nếu thì là một tác tử đánh dấu đề thì là lại là tác tử đánh dấu thuyết. Tác dụng quan trọng nhất của là là báo hiệu tƣ cách thuyết của những ngữ đoạn mà thành phần và tính chất vốn không tiêu biểu cho một phần thuyết: danh ngữ, giới ngữ, tên riêng, đại từ nhân xƣng, đại từ trực chỉ… có thể nói rằng là là một tác tử chuyên biệt thuyết hóa.
Thuyết tình thái trong cấu trúc Đề - Thuyết 1. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ Trong ngôn ngữ học, khái niệm tình thái thƣờng đƣợc các tác giả khác nhau dùng để chỉ cả một phạm trù những hiện tƣợng ngữ nghĩa - chức năng rộng lớn, đa dạng và phức tạp mà đặc trƣng của chúng là phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế, cũng nhƣ quan điểm, thái độ đánh giá và định tính khác nhau của ngƣời nói đối với nội dung miêu tả trong câu, xét trong mối quan hệ với ngƣời nghe, với hoàn cảnh giao tiếp. Nói tóm lại, các đặc trƣng của tình thái xoay quanh mối quan hệ giữa ngƣời nói, nội dung miêu tả trong phát ngôn và thực tế. 21 z Những yếu tố đóng vai trò thuyết tình thái trong câu tiếng Việt Những đặc trƣng cơ bản của tình thái đƣợc thể hiện qua nhiều cách định nghĩa của các tác giả khác nhau, tuy rằng cách thức diễn đạt cụ thể hay mức độ chi tiết tƣờng minh hay hàm ẩn có thể ít nhiều khác nhau: 1.
Bally, là ngƣời đầu tiên đề cập vấn đề tình thái một cách hệ thống. Ông phân biệt cấu trúc nghĩa của phát ngôn thành hai phần là modus và dictum. Trong đó, dictum là bộ phận biểu hiện nội dung sự tình ở dạng tiềm năng nào đó, nên, dictum gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ. Modus (tức bộ phận tình thái) gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của ngƣời nói đối với điều đƣợc nói ra, xét trong quan hệ với thực tế, với ngƣời đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp.
Modus chỉ ra sự tình nêu trong phát ngôn là khả năng hiện thực, khẳng định hay phủ định, mức độ cam kết của ngƣời nói đối với độ tin cậy của thông tin đến đâu, đánh giá, tình cảm, ý chí, mong muốn, ý đồ của ngƣời nói khi phát ngôn là thế nào…. Sự đối lập hai thành phần trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn của Ch. Bally là một trong những đối lập cơ bản làm cơ sở cho thuyết tình thái và đƣợc thừa nhận rộng rãi trong ngôn ngữ học. Trong cách quan niệm của Vingradov, tình thái là “những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế” trong đó cái được thông báo có thể đƣợc hiểu là hiện thực (là cái có trong quá khứ hay hiện tại, là điều đƣợc thực hiện trong tƣơng lai, là điều mong muốn hay đòi hỏi một ai đó….
Theo Gak, phạm trù tình thái phản ánh mối quan hệ của ngƣời nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế. trong tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của phân đoạn thực tế qua nhận thức của ngƣời nói. 22 z Những yếu tố đóng vai trò thuyết tình thái trong câu tiếng Việt Ông đƣa ra sơ đồ: Tình thái Chân thực logic Nhận thức Đạo nghĩa Tất yếu Bảo đảm tin cậy (xác tín) bắt buộc phải, có thể có tính xác xuất, cho phép không thể bị gạt bỏ cấm đoán 4. Benveniste nhận xét: tình thái là một phạm trù rộng lớn, khó có thể có phạm trù hóa đƣợc…nó gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá, thái độ của ngƣời nói đối với nội dung phát ngôn, với ngƣời đối thoại, với những kiểu mục đích phát ngôn: hỏi, cầu khiến, trần thuật, vv và có thể đƣợc thể hiện bằng những phƣơng tiện đủ loại: thức của động từ, quán ngữ,.