Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ thanh long trên thế giới và tại Việt Nam Cây thanh long hiện được trồng khá phổ biến ở khoảng 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trên thị trường thế giới hiện nay có 4 loại thanh long chính là thanh long vỏ đỏ, ruột trắng chủ yếu đến từ Việt Nam và Thái Lan; thanh long vỏ đỏ, ruột đỏ đến chủ yếu từ Israel và Maylaysia; thanh long vỏ đó, ruột tím đến từ Guatemala, Nicaragua và Israel; thanh long vỏ vàng, ruột trắng đến từ Colombia và Ecuador. Các nước xuất khẩu thanh long lớn trên thế giới gồm: Việt Nam, Thái Lan, Đài Loan, Israrel.
Theo Thông tấn xã Việt Nam (2016) Việt Nam là nước xuất khẩu thanh long hang đầu thé giới.000 ha trồng thanh long với sản lượng đạt khoảng 1 triệu tấn trị giá 895,70 triệu USD. Châu A là thị trường thanh long lớn nhất và dé tiêu thụ nhất, đặc biệt là Trung Quốc - nước tiêu thụ thanh long lớn nhất châu Á và cũng là lớn nhất thế giới hiện nay. Một số quốc gia châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng ngày càng quan tâm đến quả thanh long do những lợi ích về sức khỏe mà thanh long mang lại. Châu Âu là thị trường nhập khẩu rau quả tươi hàng đầu thế giới và khá cởi mở với các sản phẩm mới.
Vì vậy, mặc dù thanh long là một loại trái cây khá mới và chưa được quảng cáo rộng rãi nhưng rất có triển vọng và ngày càng thu hút được nhiều người tiêu dùng. Thị trường Hoa Ky, thanh long là mặt hàng truyền thống đối với người tiêu dùng gốc Á nói chung và gốc Việt nói riêng ở Hoa Kỳ (Wakchaure và cộng sự, 2021). Theo Bộ NN&PTNN cho biết, năm 2019 có 60/63 tỉnh, thành trong cả nước trồng thanh long nhưng phát triển mạnh thành các vùng chuyên canh quy mô lớn tập trung ở các tỉnh Binh Thuận với 29.000 ha chiếm 65,1 % diện tích và 70 % san lượng, Long An 11.000 ha chiếm 16,6 % diện tích và 12,8 % sản lượng và Tiền Giang 8.000 ha chiếm 11,4 % diện tích và 12,2 % sản lượng, 3 tỉnh này chiếm 93,] % diện tích và 95 % sản lượng cả nước. Tỉnh Tiền Giang thanh long được trồng chuyên canh, diện tích cho trái 6.585 ha, sản lượng thu hoạch hàng năm đạt gần 199.
Toàn tỉnh có hơn 432 ha thanh long được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, thanh long Chợ Gạo là thương hiệu cây ăn trái nỗi tiếng có lợi thé cạnh tranh của tỉnh Tiền Giang. Toàn huyện Chợ Gạo có 15 xã trồng thanh long (xã Tân Bình Thạnh là xã có diện tích trồng thanh long nhiều nhất) với tổng diện tích 7.400 ha, so với năm 2015 tăng 2.958 ha, trong đó diện tích thanh long ruột đỏ có 4.149 ha, chiếm 56,07 % tổng diện tích thanh long toàn huyện (Cổng thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang, 2020). Bệnh gây hại trên thanh long Theo Balendres và Bengoa (2019) có 17 chi và 25 loài mầm bệnh thực vật hiện đang lây nhiễm trên thanh long (phụ lục 1). Phần lớn gây bệnh do nắm ở thân, quả và hoa.
Trong đó bệnh thán thư và đốm nâu là hai bệnh được ghi nhận xuất hiện nhiều nhất trên quả thanh long. Thời điểm gây hại chính của các bệnh đốm nâu, than thư, thối nhũn là từ tháng 8 đến tháng 10, bệnh hại chủ yếu xuất hiện vào những tháng mưa nhiều, độ ẩm cao, số cành và cành già nhiều đây là điều kiện rất thuận loi dé nắm bệnh tấn công và phát triển (Nguyễn Mạnh Cường, 2009). Thuốc bảo vệ thực vật Kỷ nguyên hiện đại của việc kiểm soát dịch hại bằng hóa chất bắt đầu vào khoảng thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, khi ngành công nghiệp hóa chất hữu cơ tổng hợp bắt đầu phát triển. Thuốc BVTV hữu cơ tổng hợp đầu tiên được phát triển là organochlorines, chang hạn như dichlorodiphenyltrichloroethane (DDT) ở Thụy Sĩ vào năm 1939.
DDT và các chất diệt côn trùng hữu cơ khác (cyclodiene organochlorines, aldrin va dieldrin, endrin, internalulfan và isobenzan) đã được sử dụng vì những chat diệt côn trùng này, có tac dụng chống côn trùng bằng cách tác động hệ thống thần kinh, làm rối loạn va dẫn đến tử vong (Walter và cộng su, 2002). Hầu hết sự phát triển thị trường thuốc trừ sâu trên thế giới là ở các nước dang phát triển. Trên toàn cầu, organophosphates chiếm gan 40 % tổng doanh số bán thuốc trừ sâu theo giá trị, tiếp theo là carbamate (20,4 %), pyrethroid (18,4 %) và organochlorines (6,1 %) (Robert và Sanjay, 1996). Tuy nhiên, việc sử dung thuốc trừ sâu gây ra những ảnh hưởng xấu về môi trường (Mahmood, 2015) và các bệnh về mắt, tai, mũi, họng, bệnh ngoài da, rối loạn tiêu hóa, ung thư đối với người nông dân (Vu Ngoc Huyen và cộng sự, 2020; Bassil và cộng sự, 2007; Alavanja, 2009).
Tử vong do tiếp xúc với thuốc trừ sâu không phải là hiếm. Mỗi năm, hàng ngàn nông dân, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, bị ảnh hưởng đo tiếp xúc với thuốc trừ sâu, đặc biệt là những người sống gần các cánh đồng (Damalas và Eleftherohorinos, 2011). Liên hợp quốc ước tính trung bình mỗi năm có khoảng 200.000 người chết do phơi nhiễm thuốc trừ sâu ngắn hạn và dai hạn (United Nations General Assembly, 2017). Tinh hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam hiện nay Việt Nam đang là một trong những quốc gia sử dụng hóa chất BVTV nhiều và khó kiểm soát, nhập khâu thuốc BVTV đã tăng theo cấp số nhân cả về số lượng và giá trị (Pham Van Hoi và cộng sy, 2013).
Theo số liệu thống kê nước ta nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu từ 15 quốc gia trong đó thị trường nhập khâu chính là Trung Quốc chiếm trên 40 % tông giá trị nhập khâu (Tổng cục Hải quan, 2021). Theo Bộ NN&PTNN 10 tháng đầu năm 2019 tổng giá trị thuốc trừ sâu và nguyên liệu nhập khẩu vào nước ta là 733 triệu USD tăng 160 triệu USD so với 10 tháng đầu năm 2016, tăng đến 261 triệu USD so với con số được ghi nhận vào năm 2008 (472 triệu USD). Theo số liệu báo cáo từ Cục Bảo vệ thực vật, trong năm 2020 cả nước nhập khâu 3.129 lô thuốc và nguyên liệu thuốc bảo vệ thực vật với tong khối lượng 49. Thuốc BVTV đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn, khống chế sự phát sinh, phát triển của sinh vật gây hại, góp phần tăng năng suất, chất lượng nông sản, điều chỉnh mùa vụ và thời gian thu hoạch (Aktar và cộng sự, 2009).
Vì vậy việc sử dụng thuốc BVTV là rất cần thiết để kiểm soát dich hại trên các loại cây trồng, cây ăn quả và rau quả khác nhau. Theo thông tư số 19/2021/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNN ngày 28 tháng 12 năm 2021 số lượng hoạt chất (đơn chất và hỗn hợp) đăng ký sử dụng trong nông nghiệp ở Việt Nam là 1.069 tên thương pham, trong đó có khoảng 37 hoạt chất với 41 tên thương phẩm (phụ lục 2) đã được đăng kí và lưu hành trên thị trường Việt Nam đề phòng trừ sâu bệnh hại trên thanh long. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (Pesticide Residue) là các chất tồn dư trong thực phẩm do sử dụng một loại thuốc bảo vệ thực vật (thông tư 50/2016/TT-BYT). Chúng được tìm thấy trong cả sản phẩm tươi sống và đã qua chế biến.
Theo FDA (2015) dư lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm ở Mỹ đã tăng lên ké từ năm 2010 khoảng 82 % trái cây trồng trong nước và 62 % rau quả có tồn dư thuốc diệt cỏ dai, thuốc trừ sâu và các loại thuốc trừ sâu khác. Mức dư lượng tối đa cho phép (Maximum residue level - MRL) là giới hạn dư lượng của một loại thuốc, được tính bằng mg/kg, được phép tồn tại về mặt pháp lý, hoặc xem như có thé chấp nhận được ở trong hay trên nông san, thức ăn gia súc mà không gây hại cho người sử dụng và vật nuôi khi ăn các nông sản đó (thông tư 50/2016/TT-BYT). Thuốc càng độc càng có MRL càng thấp. Nếu dư lượng của một loại thuốc trên nông sản thấp hơn MRL thì cho phép nông sản đó được phép lưu hành trên thị trường (TCVN 12562:2018).
Ở nhiều quốc gia, nếu MRL chưa được thiết lập thì áp dụng mức giới hạn mặc định 0,01 mg/kg LOQ (LOQ - giới hạn định lượng). Nếu MRL trong thực phẩm vượt ngưỡng cho phép có thể gây nguy hiểm cho người tiêu dùng như gây ra các bệnh ung thư, chứng tự kỷ, ức chế hệ thống miễn dịch, trục trac thần kinh trung ương, tổn thương các cơ quan sinh sản và nhiều rối loạn khác (Schafer và Kegley, 2002). Thách thức trong xuất khẩu thanh long liên quan đến dư lượng thuốc BVTV Việc một số mặt hàng nông sản xuất khâu của Việt Nam bị trả về vi du lượng dư lượng thuốc BVTV vượt mức cho phép đã khiến cả một ngành hàng bị mang danh là sản xuất không sạch, ảnh hưởng tới việc xuất khâu (Nguyen Viet Khoi và Le Thi Thanh Thuy, 2014). Thanh long cũng là một trong những mặt hàng bị cảnh báo về mức dư lượng thuốc BVTV.
Theo Cục Bảo vệ thực vật (2014) có 5 lô hàng thanh long xuất khẩu bị các nước như Anh Quốc, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ cảnh báo dư lượng thuốc BVTV gồm 3 hoạt chất Dithiocarbamates, Carbendazim, Iprodione. Năm 2015 có 7 lô hàng bị Italia, Pháp, Bỉ, Anh Quốc cảnh báo dư lượng thuốc BVTV gồm các hoạt chất: Carbendazim, dithiocarbamates, carbofuran, permethrin, dimethroat, iprodione, azoxystrobin. Do đó, Liên minh châu Au (EU) đã ban hành quyết định tăng cường kiểm tra dư lượng thuốc BVTV đối với hàng thực phẩm nhập vào EU, trong đó EU yêu cầu Việt Nam kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đối với 100 % thanh long xuất khâu sang EU (thay vì chỉ 10 % như trước đây) và và quy định mỗi lô thanh long xuất khâu phải có giấy chứng nhận an toàn thực pham do cơ quan có thâm quyền của Việt Nam cấp (Official Journal of the European Union, 2018). Theo báo cáo của Bộ công thương (2018) tại thị trường Nhật có đến 48 vụ việc sản phâm nông sản của Việt Nam sau khi cơ quan chức năng Nhật kiểm tra đã bị trả về.
Lý do là tồn du hoạt chất bị cấm hoặc các thuốc BVTV có du lượng cao hơn mức cho phép. Ví dụ metalaxyl được phép sử dụng trên thanh long ở Việt Nam nhưng Nhật chưa quy định mức tối đa cho phép của chất này nên áp dụng ở mức rất thấp là 0,01 mg/kg. Hệ qua là thanh long của Việt Nam bị vi phạm quy định của Nhật.