Tổng quan luận án
Luận án Tiến sĩ Y học với đề tài "Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm và mô hình can thiệp ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế" do nghiên cứu sinh Trần Nguyễn Trà My thực hiện tại Trường Đại học Y – Dược, Đại học Huế, chuyên ngành Y tế công cộng (mã số: 9 72 07 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Minh Tâm và PGS. Phan Văn Năm, bảo vệ năm 2022.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Glôcôm là bệnh lý thần kinh thị giác tiến triển đặc trưng bởi tổn thương thị trường, teo lõm đĩa thị và thường liên quan đến tình trạng tăng nhãn áp. Bệnh là nguyên nhân gây mù lòa không hồi phục đứng thứ hai trên thế giới (sau đục thể thủy tinh ở các nước đang phát triển hoặc bệnh võng mạc đái tháo đường ở các nước phát triển) và đứng thứ ba tại Việt Nam (chiếm 6,4% nguyên nhân gây mù hai mắt, tương đương khoảng 329.300 người mù). Bệnh glôcôm diễn tiến âm thầm, không thể điều trị triệt để mà chỉ có thể kiểm soát để làm chậm tiến triển nhằm bảo tồn thị lực; do đó, sàng lọc phát hiện sớm và quản lý điều trị là giải pháp phòng tránh mù lòa.
Tuy nhiên, thực trạng hạn chế sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm diễn ra phổ biến. Tại các nước đang phát triển, trên 90% người mắc bệnh không biết mình bị bệnh; tại miền Trung Việt Nam, ghi nhận tại Đà Nẵng cho thấy 66,9% bệnh nhân glôcôm trong cộng đồng chưa từng được chẩn đoán và điều trị. Về phía người dân, kiến thức và thái độ về sự nguy hiểm của bệnh còn rất thấp. Về phía hệ thống y tế, dịch vụ chăm sóc mắt cho bệnh glôcôm chủ yếu tập trung từ tuyến huyện/tỉnh trở lên, trong khi mạng lưới y tế cơ sở (27 trạm y tế tại thành phố Huế) tuy có ưu thế gần dân nhưng chưa phát huy được vai trò truyền thông, phát hiện sớm, tư vấn chuyển tuyến và quản lý người bệnh do hạn chế về trang thiết bị và năng lực chuyên môn. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống trong việc xây dựng một mô hình can thiệp dựa vào trạm y tế cơ sở phù hợp với chức năng và nguồn lực sẵn có.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mô tả tỉ lệ hiện mắc glôcôm và tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế năm 2017.
- Xây dựng và đánh giá kết quả mô hình can thiệp tăng sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Người dân từ 40 tuổi trở lên đang sinh sống tại thành phố Huế; cán bộ y tế (bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng) đang công tác tại 27 trạm y tế xã/phường thuộc thành phố Huế; người bệnh glôcôm, người có yếu tố nguy cơ và nghi ngờ mắc glôcôm.
- Phạm vi không gian: 27 xã/phường thuộc địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; Trung tâm Y tế thành phố Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn điều tra cắt ngang thu thập số liệu dịch tễ học và thực trạng sử dụng dịch vụ thực hiện năm 2017; sau đó triển khai can thiệp, theo dõi và hoàn thành đánh giá nghiệm thu vào năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước trong và ngoài nước
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình dịch tễ học và mô hình can thiệp chăm sóc mắt:
- Quy mô toàn cầu và khu vực: Báo cáo của WHO (2010) ghi nhận 7,6 triệu người mù do glôcôm (4,3 triệu do góc mở, 3,3 triệu do góc đóng) và dự báo đạt 11,5 triệu người vào năm 2020. Nghiên cứu tổng hợp của Hội Nhãn khoa Hoa Kỳ (Allison K., 2020) và Yih-Chung Tham (2014) ước tính toàn cầu có 76 triệu người mắc glôcôm năm 2020 và tăng lên 111,8 triệu người vào năm 2040, tập trung nhiều nhất tại Châu Á (18,8 triệu ca góc mở và 9 triệu ca góc đóng).
- Dịch tễ học và nhận thức quốc tế: Priya Gupta (2005–2008 tại Mỹ) ghi nhận tỉ lệ glôcôm ở người trên 40 tuổi là 2,1%; Donald L. Budenz (2013 tại Châu Phi) ghi nhận tỉ lệ 6,8% nhưng chỉ 3,3% người mắc biết mình bị bệnh; Miriam Kolko (1996–2015 tại Đan Mạch) ghi nhận 3,76% người trên 50 tuổi mắc bệnh; Paul Chandrima (2016 tại miền đông Ấn Độ) ghi nhận tỉ lệ 3,23% ở thành thị và 2,7% ở nông thôn, trong đó trên 95% không biết mình mắc bệnh; Dandona (2001 tại Ấn Độ) ghi nhận chỉ 2,3% người dân biết về glôcôm; Zhi Lang Bai (2008 tại Quảng Tây, Trung Quốc) ghi nhận 77,78% người bệnh chưa từng được chẩn đoán; Maria Fernanda Delgado (2019) tổng hợp cho thấy tỉ lệ chẩn đoán glôcôm góc mở ở các nước đang phát triển chỉ đạt 8% so với 34% ở các nước phát triển.
- Nghiên cứu tại Việt Nam:
- Miền Bắc: Phạm Thị Thu Hà (2004–2008) tại Bệnh viện Mắt Trung ương ghi nhận tỉ lệ glôcôm góc mở tăng từ 5,4% lên 9,7%, 75,6% đến viện ở giai đoạn tiến triển; điều tra tại Thái Bình (2008) ghi nhận 2,3% mắc glôcôm, 4,3% nghi ngờ; Hà Trung Kiên (2011) ghi nhận 92% bệnh nhân mơ hồ về bệnh, 55,9% đến điều trị muộn; Đào Thị Lâm Hường (2014 tại Nam Định) ghi nhận 96,1% người dân kiến thức kém, 93,3% cán bộ y tế cơ sở đạt kiến thức kém.
- Miền Trung: Bùi Thị Như Quỳnh (2014 tại Huế) ghi nhận tỉ lệ glôcôm góc đóng 4,82%, góc mở 1,61%; Lưu Thị Thanh Tâm (2014 tại Đà Nẵng) khảo sát 2.818 người trên 40 tuổi ghi nhận tỉ lệ mắc 4,86%, 11,66% bị mù, 66,9% chưa từng được chẩn đoán; Lê Thị Nga (2017 tại Huế) ghi nhận 2,25% người có tăng nhãn áp $\ge 25\text{ mmHg}$; Nguyễn Văn Chính (2018 tại Huế) ghi nhận 69,23% góc đóng, 30,77% góc mở; Đinh Thị Thu Trang (2018 tại Huế) ghi nhận 5,4% mắc bệnh, 80,2% chưa từng nghe thông tin về glôcôm.
- Miền Nam: Trần Thị Nguyệt Thanh (2000), Phạm Minh Đức (2003), Nguyễn Thị Ngọc Liên (2011) ghi nhận 33% người trên 40 tuổi có góc tiền phòng hẹp độ 0–2.
| Vị trí nghiên cứu (Asia Pacific Glaucoma Guidelines, 2016) |
Năm |
Cỡ mẫu (N) |
Độ tuổi |
Tỉ lệ góc mở (%) |
Tỉ lệ góc đóng (%) |
Tỉ lệ góc mở mù (%) |
Tỉ lệ góc đóng mù (%) |
| Hovsgol, Mông Cổ |
1994 |
942 |
40–87 |
0,53 |
1,49 |
20,0 |
21,4 |
| Thành thị Melbourne, Úc |
2001 |
3.264 |
40–90+ |
1,72 |
0,06 |
0,0 |
0,0 |
| Rom Klao, Thái Lan |
2003 |
701 |
50–80+ |
2,28 |
0,86 |
25,0 |
33,3 |
| Tajimi, Nhật Bản |
2004 |
3.021 |
40–80+ |
3,94 |
0,63 |
1,7 |
5,3 |
| Nông thôn Chennai, Ấn Độ |
2006 |
3.924 |
40–89 |
1,63 |
0,87 |
3,1 |
2,9 |
| Liwan, Trung Quốc |
2006 |
1.372 |
50–93 |
2,11 |
1,53 |
17,2 |
42,9 |
| Meiktila, Myanmar |
2007 |
2.076 |
40–70+ |
1,88 |
2,50 |
7,7 |
61,5 |
| Singapore Malay |
2008 |
3.280 |
40–80+ |
3,17 |
0,24 |
9,6 |
12,5 |
| Kandy, Sri Lanka |
2010 |
1.244 |
40–70+ |
2,41 |
0,56 |
3,3 |
28,6 |
| Bắc Kinh, Trung Quốc |
2010 |
4.315 |
40–70+ |
2,57 |
1,02 |
0,0 |
6,8 |
| Namil, Hàn Quốc |
2011 |
1.532 |
40–80+ |
3,59 |
0,65 |
5,5 |
0,0 |
- Các mô hình can thiệp điển hình: Hệ thống Dixpanxe phân 3 tuyến (Philatov, 1932); Mô hình chăm sóc 3 cấp độ tại Ấn Độ (Rani Padmaja Kumari, 2018); Mô hình sàng lọc theo đối tượng nguy cơ tại Trung tâm Mắt Tilganga, Nepal (Thapa S., 2008) và mô hình Monte Carlo tại Mỹ (Joseph A. Ladapo, 2012); Mô hình mạng lưới "Bánh xe và nan hoa" tại Ý (Raffaele Nuzzi, 2020); Mô hình Kim tự tháp chăm sóc mắt của Bệnh viện Mắt LV Prasad, Ấn Độ (Delgado M., 2015); Mô hình quản lý glôcôm tuyến tỉnh tại Nam Định của Bệnh viện Mắt Trung ương (Đào Thị Lâm Hường, 2014); Mô hình bệnh án điện tử ngoại trú tại Bệnh viện Mắt Đà Nẵng (2014).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các mô hình quản lý glôcôm trước đây tại Việt Nam thường yêu cầu trang bị nhãn áp kế Maclakov hoặc phương tiện chuyên khoa tại trạm y tế, dẫn đến khó duy trì khi dự án kết thúc vì phụ thuộc vật tư tiêu hao và quy định bảo hiểm y tế chỉ chi trả thủ thuật này từ tuyến trên. Do đó, luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết kế mô hình can thiệp không biến trạm y tế thành nơi chẩn đoán chuyên sâu, mà định vị lại chức năng trạm y tế cơ sở tập trung vào truyền thông thay đổi hành vi, nhận diện yếu tố nguy cơ, tư vấn và chuyển tuyến kịp thời lên cơ sở chuyên khoa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khung lý thuyết sử dụng dịch vụ y tế của Ronald M. Andersen & Lu Ann Aday: Phân tích việc sử dụng dịch vụ dựa trên đặc điểm của hệ thống y tế (nguồn lực, tổ chức) và đặc điểm của quần thể bao gồm yếu tố tiền đề (tuổi, giới, niềm tin, kiến thức), yếu tố điều kiện (thu nhập, bảo hiểm, khoảng cách) và nhu cầu chăm sóc sức khỏe. Việc sử dụng dịch vụ được đánh giá theo loại hình, địa điểm, mục đích (dự phòng, điều trị) và tính liên tục.
- Mô hình PRECEDE – PROCEED (Green và cộng sự, 1980; Christine M. Porter, 2015): Áp dụng cấu trúc chẩn đoán nguyên nhân hành vi và lập kế hoạch can thiệp qua các nhóm yếu tố:
- Yếu tố tiền đề (Predisposing factors): Kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của người dân về bệnh glôcôm.
- Yếu tố làm dễ (Enabling factors): Tính sẵn có, khả năng tiếp cận và cơ sở vật chất của dịch vụ chăm sóc mắt tại trạm y tế.
- Yếu tố tăng cường (Reinforcing factors): Sự tham gia, tư vấn của cán bộ y tế cơ sở, nhân viên y tế thôn bản/tổ dân phố cùng sự phối hợp của Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi.
- Lý thuyết các cấp độ dự phòng trong bệnh glôcôm: Tập trung vào Dự phòng cấp II (sàng lọc phát hiện sớm trên nhóm nguy cơ cao $\ge 40$ tuổi, tăng huyết áp, đái tháo đường, tiền sử gia đình) và Dự phòng cấp III (tuân thủ điều trị, kiểm soát nhãn áp, phục hồi chức năng nhằm ngăn ngừa mù lòa).
Thiết kế nghiên cứu và phương pháp thực tế
Luận án kết hợp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng:
- Giai đoạn 1 (Nghiên cứu cắt ngang mô tả): Điều tra năm 2017 trên người dân $\ge 40$ tuổi tại 27 phường/xã thành phố Huế và khảo sát toàn bộ cán bộ y tế tại 27 trạm y tế nhằm xác định tỉ lệ hiện mắc glôcôm, mức độ KAP của người dân, thực trạng cung cấp dịch vụ và các yếu tố liên quan.
- Giai đoạn 2 (Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng): Chia nhóm can thiệp và nhóm chứng (chọn các trạm y tế và cụm dân cư tương đồng). Đánh giá hiệu quả trước và sau can thiệp về KAP của cán bộ y tế, KAP của người dân, tỉ lệ khám sàng lọc và tuân thủ điều trị.
- Quy trình khám và chẩn đoán lâm sàng: Hỏi tiền sử bệnh và yếu tố nguy cơ $\rightarrow$ Khám sinh hiển vi bán phần trước $\rightarrow$ Đo thị lực $\rightarrow$ Đo nhãn áp $\rightarrow$ Soi góc tiền phòng $\rightarrow$ Soi đáy mắt $\rightarrow$ Đo thị trường.
Nguồn tư liệu và kỹ thuật phân tích dữ liệu
- Dữ liệu thu thập qua bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc (KAP của người dân và cán bộ y tế), bảng kiểm đánh giá trang thiết bị trạm y tế, phiếu khám mắt lâm sàng chuyên khoa.
- Kỹ thuật phân tích: Sử dụng phần mềm thống kê y học để phân tích mô tả (tỉ lệ %, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn); phân tích hồi quy logistic đa biến (Multivariable Logistic Regression) xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành và việc sử dụng dịch vụ khám sàng lọc (ước lượng Tỷ suất chênh OR và khoảng tin cậy 95% CI); đánh giá hiệu quả can thiệp thông qua Chỉ số hiệu quả (CSHQ) và Hiệu quả can thiệp (HQCT) giữa hai nhóm trước – sau can thiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này phân tích 5 nội dung chính:
- Đại cương về bệnh glôcôm: Định nghĩa bệnh lý tổn thương tế bào hạch võng mạc và đầu dây thần kinh thị giác; phân loại (nguyên phát, thứ phát, bẩm sinh); triệu chứng lâm sàng các thể bệnh; cơ chế bệnh sinh liên quan đến 8 nhóm yếu tố nguy cơ chính (giới tính, tuổi tác, tật khúc xạ, di truyền, sử dụng corticosteroid, đái tháo đường, tăng huyết áp, tiền sử chấn thương/phẫu thuật mắt).
- Sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm: Khái niệm dịch vụ y tế theo Aday & Andersen; quy trình 6 giai đoạn chăm sóc glôcôm theo Kyari F.; mô hình Dixpanxe quản lý người bệnh theo khuyến cáo của Hội Nhãn khoa Việt Nam.
- Hành vi sức khỏe và truyền thông thay đổi hành vi: Phân tích mối quan hệ giữa kiến thức, niềm tin, thái độ và hành vi sức khỏe; vị trí của trạm y tế cơ sở trong chăm sóc sức khỏe ban đầu; cấu trúc 8 giai đoạn của mô hình PRECEDE – PROCEED.
- Các mô hình can thiệp trên thế giới và tại Việt Nam: Phân tích ưu nhược điểm của các mô hình phân tuyến, mô hình sàng lọc đối tượng nguy cơ, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và thực trạng phân tuyến kỹ thuật tại Việt Nam theo Thông tư của Bộ Y tế.
| Tuyến y tế |
Thuốc, phương tiện trang bị |
Dịch vụ kỹ thuật được phép thực hiện |
| Tuyến Xã/Phường (Trạm y tế) |
- Thuốc tra mắt thông thường (kháng sinh, sát khuẩn). - Bảng đo thị lực, đèn pin. |
- Đo thị lực. - Khám lâm sàng mắt bằng đèn pin. - Xử trí ban đầu, rửa cùng đồ, chích chắp lẹo, nhổ lông xiêu. |
| Tuyến Huyện (TTYT/BVĐK huyện) |
- Thuốc điều trị glôcôm (hạ nhãn áp). - Bảng đo thị lực, nhãn áp kế, sinh hiển vi, đèn soi đáy mắt trực tiếp, máy đo thị trường. |
- Khám phát hiện glôcôm: sinh hiển vi, soi đáy mắt, đo nhãn áp, soi góc tiền phòng, đo thị trường. - Điều trị nội khoa bệnh glôcôm. |
| Tuyến Tỉnh (BV Mắt/BVĐK tỉnh) |
- Trang thiết bị đầy đủ như tuyến huyện. - Kính soi góc tiền phòng, kính Volk, máy thị trường kế, máy laser. |
- Khám nghiệm chuyên sâu. - Điều trị glôcôm bằng phương pháp nội khoa, laser (laser mống mắt chu biên), phẫu thuật cắt bè củng giác mạc. |
| Tuyến Trung ương |
- Thiết bị hiện đại kỹ thuật cao: đo bề dày giác mạc, chụp ảnh đĩa thị, OCT đĩa thị và góc tiền phòng. |
- Khám, chẩn đoán và điều trị chuyên sâu kỹ thuật cao tất cả các thể glôcôm phức tạp. |
- Địa bàn nghiên cứu: Giới thiệu đặc điểm địa lý, tổ chức hành chính và mạng lưới 27 trạm y tế tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình triển khai:
- Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu (người dân $\ge 40$ tuổi cư trú tại địa phương, đồng ý tham gia khám và phỏng vấn; toàn bộ cán bộ y tế đang làm việc tại trạm y tế).
- Phương pháp chọn mẫu, tính toán cỡ mẫu cho điều tra cắt ngang và can thiệp cộng đồng có đối chứng.
- Xây dựng mô hình can thiệp gồm 3 nhóm giải pháp phối hợp:
- Nhóm giải pháp 1 - Nâng cao năng lực cán bộ y tế cơ sở: Tổ chức tập huấn chuẩn hóa kiến thức về glôcôm, kỹ năng phát hiện dấu hiệu nghi ngờ, kỹ năng đo thị lực, kỹ năng tư vấn và quy trình chuyển tuyến.
- Nhóm giải pháp 2 - Truyền thông thay đổi hành vi (trực tiếp và gián tiếp): Phổ biến tài liệu truyền thông (tờ rơi, áp phích), phát thanh định kỳ trên hệ thống loa phường/xã, tư vấn sức khỏe trực tiếp tại trạm y tế và thông qua các buổi sinh hoạt của Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi.
- Nhóm giải pháp 3 - Hỗ trợ can thiệp y tế và quản lý: Lập danh sách người có yếu tố nguy cơ cao ($\ge 40$ tuổi kèm đái tháo đường, tăng huyết áp, tiền sử gia đình), thực hiện sàng lọc ban đầu tại trạm, tư vấn chuyển tuyến lên Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế hoặc Trung tâm Y tế thành phố để khám chuyên khoa, đồng thời thiết lập sổ theo dõi quản lý người bệnh tại trạm y tế.
- Bộ chỉ số đánh giá, phương pháp thu thập, quản lý và xử lý sai số dữ liệu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu được qua 3 hợp phần:
- Tỉ lệ hiện mắc và thực trạng sử dụng dịch vụ trước can thiệp:
- Phân bố tỉ lệ mắc glôcôm theo thời điểm phát hiện (phát hiện lần đầu qua điều tra so với đã được chẩn đoán từ trước), hình thái bệnh (tỉ lệ góc đóng chiếm ưu thế so với góc mở), phân bố giai đoạn bệnh và mức độ suy giảm thị lực/thị trường.
- Thực trạng KAP của người dân: Tỉ lệ người dân có kiến thức đúng về tính không hồi phục của bệnh rất thấp; phân tích hồi quy logistic đa biến chỉ ra các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh.
- Hành vi khám mắt: Tỉ lệ người dân từng khám mắt định kỳ trong vòng 1 năm, tỉ lệ khám sàng lọc glôcôm, lý do chính của việc không đi khám mắt thường xuyên (chủ quan cho rằng mắt bình thường, không có triệu chứng đau nhức).
- Năng lực hệ thống y tế cơ sở: 100% trạm y tế thiếu trang thiết bị chuyên khoa (chỉ có bảng đo thị lực, đèn pin); kiến thức và thực hành của cán bộ y tế về glôcôm còn hạn chế; số lượng chẩn đoán hoặc phát hiện ca nghi ngờ tại trạm y tế đạt mức rất thấp.
- Xây dựng mô hình can thiệp: Chi tiết hóa nội dung các khóa tập huấn cho cán bộ y tế 27 trạm, bộ công cụ truyền thông gián tiếp (tờ rơi, nội dung phát thanh) và quy trình hỗ trợ y tế sàng lọc đối tượng nguy cơ.
- Đánh giá kết quả can thiệp:
- So sánh sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành của cán bộ y tế ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng tại các thời điểm trước và sau can thiệp (ghi nhận sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về điểm kiến thức và kỹ năng sàng lọc/tư vấn).
- So sánh sự thay đổi KAP của người dân: Nhóm can thiệp có tỉ lệ hiểu biết đúng về glôcôm, nhận thức được hậu quả mù lòa và ý thức đi khám kiểm tra mắt định kỳ tăng rõ rệt so với nhóm chứng.
- Thay đổi hành vi sử dụng dịch vụ: Tỉ lệ người dân tham gia khám sàng lọc glôcôm, tỉ lệ người bệnh glôcôm tuân thủ sử dụng dịch vụ điều trị/tái khám, tỉ lệ khám mắt tại trạm y tế và khám định kỳ trong vòng 1 năm ở nhóm can thiệp đều tăng cao hơn so với nhóm chứng.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung biện luận chuyên sâu qua 4 phần:
- Bàn luận về tỉ lệ hiện mắc và sử dụng dịch vụ: Đối chiếu tỉ lệ glôcôm tại thành phố Huế với các nghiên cứu trong nước (Đà Nẵng 4,86%, Thái Bình 2,3%, Nam Định) và các nước trong khu vực Châu Á (Bảng 1). Phân tích nguyên nhân tỉ lệ bệnh nhân không biết mình mắc bệnh chiếm đa số do bệnh diễn tiến âm thầm và người dân thiếu kiến thức.
- Bàn luận về cơ sở xây dựng mô hình: Biện luận tính phù hợp của việc áp dụng mô hình PRECEDE – PROCEED và khung Aday & Andersen. Nhấn mạnh việc giải quyết "khoảng trống dịch vụ" bằng cách không đặt nặng việc trang bị máy móc chuyên khoa đắt tiền tại trạm y tế mà khai thác tối đa vai trò truyền thông, phát hiện nguy cơ và kết nối chuyển tuyến.
- Bàn luận về hiệu quả can thiệp: Phân tích sự chuyển biến tích cực trong chỉ số hiệu quả (CSHQ) và hiệu quả can thiệp (HQCT) đối với cán bộ y tế và người dân; thảo luận tính bền vững của các giải pháp khi lồng ghép vào hoạt động thường quy của trạm y tế.
- Những điểm mới của nghiên cứu: Tổng kết các đóng góp học thuật và ứng dụng thực tiễn của đề tài.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp số liệu dịch tễ học về tỉ lệ hiện mắc glôcôm, phân bố thể bệnh (góc đóng, góc mở) và thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt ở nhóm người trên 40 tuổi tại đô thị miền Trung (thành phố Huế).
- Chứng minh tính ứng dụng của mô hình PRECEDE – PROCEED và khung lý thuyết tiếp cận dịch vụ y tế của Andersen & Aday trong việc chẩn đoán nguyên nhân hành vi và can thiệp đối với các bệnh không lây nhiễm tại tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu.
- Xác định được các yếu tố nhân khẩu, xã hội và bệnh lý liên quan đến mức độ hiểu biết, thái độ, thực hành và hành vi sử dụng dịch vụ khám sàng lọc glôcôm của người dân thông qua mô hình hồi quy đa biến.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khảo sát và chỉ ra bức tranh thực trạng về năng lực cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt tại toàn bộ 27 trạm y tế xã/phường trên địa bàn thành phố Huế (thiếu trang thiết bị, khoảng trống kỹ thuật, kiến thức cán bộ y tế chưa đáp ứng).
- Xây dựng và chứng minh hiệu quả thực tế của mô hình can thiệp 3 nhóm giải pháp:
- Nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ y tế cơ sở về kỹ năng nhận diện nguy cơ và tư vấn.
- Đẩy mạnh truyền thông trực tiếp và gián tiếp tại cộng đồng để thay đổi nhận thức người dân.
- Thiết lập mạng lưới hỗ trợ y tế: lập danh sách đối tượng nguy cơ cao ($\ge 40$ tuổi, tăng huyết áp, đái tháo đường, tiền sử gia đình), khám sàng lọc ban đầu tại trạm, chuyển tuyến chuyên khoa kịp thời và theo dõi tuân thủ điều trị.
- Mô hình giúp nâng cao rõ rệt tỉ lệ người dân đi khám sàng lọc, tăng tỉ lệ người bệnh glôcôm tiếp cận điều trị và tạo lập thói quen kiểm tra mắt định kỳ mà không làm phát sinh chi phí đầu tư thiết bị chuyên sâu vượt tuyến.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Ngành Y tế địa phương cần xem xét duy trì và nhân rộng mô hình truyền thông – sàng lọc nguy cơ glôcôm dựa vào trạm y tế xã/phường.
- Bổ sung nội dung đào tạo liên tục về chăm sóc mắt ban đầu và nhận biết glôcôm cho đội ngũ cán bộ y tế cơ sở.
- Hoàn thiện quy trình phối hợp chuyển tuyến và lập sổ quản lý bệnh nhân glôcôm ngoại trú liên thông giữa trạm y tế cơ sở và các bệnh viện chuyên khoa mắt tuyến trên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ được thực hiện trên địa bàn 27 xã/phường thuộc khu vực đô thị của thành phố Huế, chưa mở rộng so sánh với khu vực nông thôn hoặc miền núi có điều kiện kinh tế – xã hội và tiếp cận dịch vụ y tế khác biệt.
- Do rào cản phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế, trạm y tế cơ sở không được trang bị máy đo nhãn áp chuyên dụng và đèn soi đáy mắt, nên việc chẩn đoán xác định bệnh vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào việc người dân tuân thủ chuyển tuyến lên bệnh viện chuyên khoa.
- Thời gian theo dõi sau can thiệp chủ yếu đánh giá sự thay đổi về kiến thức, thái độ, hành vi khám sàng lọc và bước đầu sử dụng dịch vụ điều trị; chưa theo dõi dài hạn tiến triển thị trường và thị lực của người bệnh qua nhiều năm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Triển khai thử nghiệm mô hình tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa để đánh giá khả năng thích ứng của mô hình ở các điều kiện kinh tế - y tế khác nhau.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin và hồ sơ sức khỏe điện tử cá nhân để liên thông dữ liệu theo dõi bệnh nhân glôcôm giữa trạm y tế xã/phường và bệnh viện mắt tuyến tỉnh.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Y tế công cộng và Nhãn khoa: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp kết hợp nghiên cứu dịch tễ học cộng đồng với can thiệp thay đổi hành vi sức khỏe; phương pháp ứng dụng mô hình lý thuyết PRECEDE – PROCEED và phân tích hồi quy logistic đa biến trong y tế công cộng.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo y khoa: Cung cấp tài liệu thực tiễn phục vụ giảng dạy môn học Chăm sóc sức khỏe ban đầu, Quản lý y tế và Y học gia đình về nội dung phòng chống các bệnh mắt không lây nhiễm tại cộng đồng.
- Đối với nhà quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng chính sách phân tuyến, hướng dẫn nhiệm vụ cho trạm y tế xã/phường trong Chương trình mục tiêu quốc gia về Phòng chống mù lòa, giúp tối ưu hóa nguồn lực sẵn có của y tế cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao bệnh glôcôm được xếp vào nhóm nguyên nhân gây mù lòa không chữa được?
Tổn thương do glôcôm gây ra là sự thoái hóa tiến triển không hồi phục của các tế bào hạch võng mạc, lớp sợi thần kinh và đầu dây thần kinh thị giác. Khi các sợi thần kinh thị giác đã bị teo lõm và tổn hại, chức năng thị giác (thị trường và thị lực) không có khả năng phục hồi. Mọi biện pháp điều trị hiện nay (thuốc, laser, phẫu thuật) chỉ nhằm mục đích hạ nhãn áp về mức an toàn để ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình tổn thương tiếp diễn, chứ không thể khôi phục lại những tổn thương thị giác đã mất.
2. Những đối tượng nào được xác định có yếu tố nguy cơ cao cần sàng lọc glôcôm trong nghiên cứu?
Theo tổng quan của luận án, các yếu tố nguy cơ chính của glôcôm bao gồm: người từ 40 tuổi trở lên (nguy cơ tăng gấp 10 lần so với người dưới 40 tuổi); người có tiền sử gia đình (bố mẹ, anh chị em ruột) mắc bệnh glôcôm; người mắc các bệnh mạn tính toàn thân như đái tháo đường, tăng huyết áp; người có tật khúc xạ (cận thị nặng liên quan glôcôm góc mở, viễn thị liên quan glôcôm góc đóng); người có tiền sử sử dụng thuốc chứa corticosteroid kéo dài hoặc tiền sử chấn thương mắt.
3. Rào cản lớn nhất từ phía hệ thống y tế cơ sở tại Việt Nam trong chăm sóc bệnh glôcôm là gì?
Theo quy định phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế, trạm y tế xã/phường chỉ được phép đo thị lực và xử trí các bệnh mắt thông thường, không được trang bị máy đo nhãn áp, đèn soi đáy mắt, máy đo thị trường và không có danh mục thuốc hạ nhãn áp. Các dịch vụ khám phát hiện và điều trị glôcôm cơ bản chỉ được cung cấp từ tuyến huyện trở lên. Do đó, trạm y tế không có đủ thẩm quyền và phương tiện để chẩn đoán xác định hoặc điều trị glôcôm tại chỗ.
4. Mô hình can thiệp của luận án đã giải quyết bài toán chăm sóc glôcôm tại y tế cơ sở như thế nào?
Thay vì đầu tư trang thiết bị chuyên khoa đắt tiền tại trạm y tế (khó duy trì và vượt phân tuyến), mô hình của luận án tập trung vào 3 nhóm giải pháp: nâng cao năng lực cán bộ y tế cơ sở về kỹ năng phát hiện dấu hiệu nghi ngờ và tư vấn; đẩy mạnh truyền thông trực tiếp và gián tiếp tại cộng đồng để thay đổi nhận thức người dân; thiết lập quy trình lập danh sách đối tượng nguy cơ cao tại trạm y tế để sàng lọc bước đầu và tư vấn chuyển tuyến kịp thời lên cơ sở chuyên khoa, đồng thời lập sổ theo dõi tuân thủ điều trị.
5. Mô hình PRECEDE – PROCEED được vận dụng ra sao trong nghiên cứu này?
Mô hình được sử dụng để phân tích nguyên nhân hạn chế sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt qua 3 nhóm yếu tố: Yếu tố tiền đề (nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành phòng bệnh của người dân); Yếu tố làm dễ (tăng tính sẵn có của hoạt động tư vấn, sàng lọc nguy cơ tại trạm y tế và hỗ trợ kết nối chuyển tuyến); Yếu tố tăng cường (huy động vai trò tư vấn thường xuyên của cán bộ y tế cơ sở, nhân viên y tế thôn bản và sự phối hợp của Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi tại địa phương).
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Nguyễn Trà My đã giải quyết một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng về gánh nặng bệnh glôcôm và thực trạng hạn chế sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu dịch tễ học cắt ngang và can thiệp cộng đồng có đối chứng dựa trên khung lý thuyết PRECEDE – PROCEED, tác giả đã xây dựng và chứng minh tính hiệu quả của mô hình can thiệp 3 nhóm giải pháp lấy trạm y tế cơ sở làm trọng tâm truyền thông, nhận diện nguy cơ và kết nối chuyển tuyến. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học và thực tiễn có giá trị cao cho công tác phòng chống mù lòa và quản lý bệnh mắt không lây nhiễm trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt Nam.