ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành chăn nuôi gia cầm là một ngành nghề có truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng trong nền Nông nghiệp nước ta, trong đó phần lớn là chăn nuôi gà. Xu hướng phát triển hiện nay là chăn nuôi theo hướng công nghiệp quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường về thịt gia cầm. Song song với sự phát triển của chăn nuôi thì dịch bệnh trên đàn gia cầm đặc biệt là gà cũng ngày cành phức tạp. Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm phải kể đến bệnh ký sinh trùng.
Đặc biệt ký sinh trùng đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc, gia cầm, giảm khả năng tăng trọng. Các bệnh này trong điều kiện khí hậu nóng ẩm ở nước ta đã diễn ra khá phong phú và đa dạng. Tác hại của chúng là cướp chất dinh dưỡng của vật chủ, lấy thể dịch tổ chức của vật chủ làm thức ăn làm cho con vật còi cọc, chậm lớn, giảm sản lượng thịt, trứng, giảm phẩm chất thịt. Nặng hơn nữa, nếu vật nuôi nhiễm ký sinh trùng với số lượng nhiều có thể gây tắc ruột, thủng ruột và chết, không chỉ vậy, chúng còn tác động lên vật chủ bằng độc tố, đầu độc vật chủ, giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnh khác phát sinh.
Hàng năm, những thiệt hại do bệnh ký sinh trùng gây ra ở gia cầm thường chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng thu nhập của ngành. Đặc biệt một trong số các bệnh mới trên gà đang được quan tâm là bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis tại thời điểm tháng 3/2010, tác giả Lê Văn Năm và cs. (2010) đã quan sát thấy hàng loạt gà nuôi tập trung thả vườn tại một số tỉnh phía Bắc bệnh đã bùng phát dữ dội, gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi. Bệnh do Histomonas meleagridis ký sinh ở gan, manh tràng… ở gà có tính lây lan nhanh, tỷ lệ chết cao.
Tuy nhiên các thông tin, tài liệu về bệnh, các phương pháp phát hiện chẩn đoán, điều trị bệnh vẫn còn hạn chế dẫn đến công tác phòng, phát hiện và điều trị bệnh gặp nhiều khó khăn. Huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang là huyện có diện tích đất đồi lớn, chăn nuôi gà phát triển với 4,7 triệu con – là huyện đứng đầu cả nước về số lượng gia cầm. Do mức độ chăn nuôi ngày càng tăng, số lượng gia cầm nhiều, mật độ chăn nuôi lớn nên môi trường ô nhiễm, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển. 1 c Người làm công tác chăn nuôi và thú y tại địa phương lại chưa có điều kiện để tìm hiểu một cách đầy đủ về bản chất bệnh do Histomonas meleagridis gây ra.
Xuất phát từ những thực tế trên, được sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Thọ chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tình hình nhiễm giun sán và đặc điểm dịch tễ học bệnh do Histomonas meleagridis ở gà nuôi thả vườn tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang”. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Xác định được tỷ lệ nhiễm giun, sán đường tiêu hóa trên đàn gà thả vườn tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Xác định thành phần loài giun, sán trên trên đàn gà thả vườn tại địa bàn nghiên cứu.
Chỉ ra một số đặc điểm lâm sàng và bệnh lý của bệnh do Histomonas meleagridis gây ra trên gà. Đưa ra mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm Histomonas meleagridis và tỷ lệ nhiễm giun kim Heterakis gallinarum. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Cung cấp, hoàn thiện thêm các thông tin về bệnh do giun sán và do Histomonas meleagridis gây ra trên gà thả vườn tại Yên Thế - Bắc Giang nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung. Từ kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý và chăn nuôi đưa ra các biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả, góp phần khống chế bệnh do giun sán và do Histomonas meleagridis gây ra trên gà.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MỘT SỐ GIỐNG GÀ NUÔI TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2. Gà Ri Nguồn gốc gà Ri là giống gà đẻ trứng nhỏ được nuôi rộng rãi ở Việt Nam với đặc điểm con mái có màu lông không đồng nhất, vàng rơm, vàng đất, có đốm đen ở cổ, đuôi và đầu cánh. Một năm tuổi, gà mái nặng 1,2 - 1,4 kg.
Gà mái 4 - 5 tháng tuổi bắt đầu đẻ. Sức đẻ năm đầu 100 - 110 trứng, trứng nặng 40 - 45 g, vỏ màu trắng. Gà đẻ theo từng đợt 15 - 20 trứng, nghỉ đẻ và đòi ấp, nuôi con khéo. Gà ri thích hợp với nuôi chăn thả, chịu đựng tốt điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng.
Thuộc loại gà lấy trứng, thịt, thịt thơm ngon. Con trống lông màu đỏ tía, đuôi đen có ánh xanh, mào sớm phát triển, ba tháng đã biết gáy. Gà lai Mía Giống gà gốc từ xã Đường Lâm (Hà Tây cũ nay là Hà Nội). Lông con trống màu đỏ tía và vàng đất, con mái màu vàng đất, có khi có đốm đen ở cổ, đầu cánh và đuôi.
Mào đơn, tích và dái tai màu đỏ. Thể chất khoẻ, xương to, chân to, dáng lùn vừa phải. Cơ ngực, cơ đùi phát triển. Con trống trưởng thành nặng 3,2 – 3,8 kg, con mái 2,6 – 3,0 kg.
Nuôi thâm canh cho 60 – 75 trứng/mái/năm. Trứng nặng 52 – 55g, màu vỏ không đồng nhất, thường là màu trắng phớt vàng. Gà con chậm lớn, chậm mọc lông. Thuộc loại gà lấy thịt.
Thịt thơm ngon được người Việt Nam ta ưa chuộng. Gà Lương Phượng Đây là giống gà kiêm dụng được Viện chăn nuôi nhập từ Trung Quốc về từ 1999 và đến nay loại gà này có mặt hầu hết trên khắp nước ta. Gà Lương Phượng có lông màu vàng, nhiều đốm màu, phần lớn có màu hoa mơ, da và chân màu vàng, ức sâu, mào đơn. Trọng lượng tăng khá nhanh, 10 tuần tuổi đạt 1,8 – 1,9 kg/con.
Gà mái bắt đầu đẻ trứng ở tuần tuổi thứ 21 với sản lượng 175 quả/mái/năm, tỷ lệ nở 80 – 85%, trọng lượng 45 - 50 g/quả, thời gian khai thác 52 tuần. Tiêu tốn 2,6 – 2,7 kg thức ăn/ kg tăng trọng. Nếu nuôi thả vườn, 3 tháng có thể đạt 1,9 – 2,4 kg/con, tỷ lệ sống 92 – 95%. Theo tác giả Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), bệnh do giun sán và do 3 c Histomonas meleagridis thường xảy ra ở gà Tây và gà nuôi thuần chủng.
Cũng do nguyên nhân của bệnh là do đơn bào Histomonas meleagridis gây nên xuất phát từ một họ trong bộ của gà tây là Meleagrididae nhưng Nguyễn Thị Kim Lan (2011) nghiên cứu về bệnh trên gà nhà thường thấy rằng bệnh xảy ra ở tất cả các giống gà, chủ yếu là gà thả đồi. Do điều kiện của Việt Nam tình hình chăn nuôi gà tây còn ít nên để hoàn thành khoá luận chúng tôi tìm hiểu về bệnh và nghiên cứu trên những gà nuôi thả vườn tại Yên Thế - Bắc Giang gồm có những giống gà như: Lương Phượng, Gà lai mía và gà ta và gà Ri Việt Nam, bà con chăn nuôi gọi là gà ta. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ GIUN, SÁN KÝ SINH CHỦ YẾU Ở GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM. Những nghiên cứu về giun, sán ký sinh chủ yếu ở gia cầm trên thế giới.
Những ký sinh trùng đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia cầm. Như viện sỹ K.Skarjabin đã nói: “ Ký sinh trùng mở đường cho các bệnh truyền nhiễm”. Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Enigk and Dey-Hazra (1968); Goble and HL.Kutz (1945); Kates and Colglazier (1970); Cram (1933) đã phát hiện rất nhiều các loài giun tròn ký sinh ở gia cầm. Trong đó một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa gia cầm có tính phổ biến là Ascaris teres, Ascaridia galli.
Năm 1790, Gmelin đã phát hiện Ascaridia columbae ký sinh ở ruột non chim bồ câu. Ascaridia columbae có vòng đời tưng tự như Ascaridia galli nhưng nó gây tổn thương nặng hơn ở chim bồ câu với đặc điểm là ở giai đoạn ấu trùng Ascaridia columbae thường xuyên qua lớp chất nhầy của ruột vào gan và phổi (Wehr and J. Năm 1931, Perez Vigueras phát hiện ra giun đũa Ascaridia dissimilis ký sinh trong ruột non của gà tây. Mặc dù, đã có một số tài liệu thông báo có hai loại Ascaridia galli và Ascaridia dissimilis, nhưng chỉ tìm thấy Ascaridia dissimilis ký sinh trên gà tây (Kates and Colglazier, 1970).
Năm 1788, lần đầu tiên Schrank đã phát hiện ra loài giun kim ở gia cầm Heterakis gallinarum. Những nghiên cứu về giun, sán ký sinh chủ yếu ở gia cầm tại Việt Nam Nghiên cứu đầu tiên về giun sán ở gia cầm Việt Nam là Mathis C and Leger (1910, 1911). Hai tác giả trên đã mô tả một số loài mới đối với khoa học và công bố một số danh sách về các loài giun sán ký sinh ở người và một số động vật, trong đó có gia cầm ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Bệnh giun đũa gà là bệnh phổ biến nhất của gà do giun đũa Ascaridia gây ra ở hầu hết các nước trên thế giới.
Ở Việt Nam lần đầu tiên được Houdemer (1925) đề cập đến. nhiều tác giả trong và ngoài nước đã phát hiện được loài này nhiễm với tỷ lệ cao. Ngoài ra, còn gặp loài giun này ký sinh ở gà rừng tỉnh Quảng Ninh (1996), Vĩnh Phúc (1975) và Lai Châu (1963) (Skjabin- Pertrov, 1977). Hiện nay, giun đũa được xem như là loài giun trong phổ biến ký sinh gây nhiều thiệt hại kinh tế cho việc phát triển chăn nuôi gà (Phạm Sỹ Lăng và cs.
Nguyễn Thị Kim Lan (2011) sán dây rất phổ biến ở đàn gà nuôi ở từng hộ gia đình và nuôi theo kiểu tập trung. Ở các tỉnh miền Bắc nước ta, tỷ lệ nhiễm chung là 68,8%; cường độ nhiễm cũng cao, phân bố rất rộng ở miền núi (Nghĩa lộ nhiễm 80,7%; Quảng Ninh 85,1%), trung du (Hà Bắc (cũ) nhiễm 73,8%), đồng bằng (Hà Nam– 69,4%; Hà Tĩnh – 67,6%). Gà ở miền núi nhiễm cao hơn gà ở trung du và đồng bằng. Theo Đỗ Hồng Cường và Nguyễn Thị Kim Thành (1999) có ba loại sán dây gồm: Raillietina echinobothrida, Raillietina tetragona và Raillietina cesticillus ký sinh ở đàn gà nuôi tại nông hộ gia đình khu vực ngoại thành Hà Nội.
Phạm Khắc Hiếu và Lê Thị Ngọc Diệp (1997) cho rằng quá trình hút máu của giun làm rách niêm mạc dạ dày và ruột làm co thắt ruột do vậy con vật gầy yếu, ăn kém và có thể chết. Nguồn reo rắc căn bệnh chủ yếu là gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu nhiều nhất là gà. Gà nhà, gà tây là vật chủ chính của giun đũa Ascaridia galli.