Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vị trí thiết yếu trong cơ cấu nông nghiệp, cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, phân bón cho trồng trọt và các phụ phẩm (da, lông, mỡ) cho công nghiệp chế biến. Theo số liệu Tổng cục Thống kê dẫn trong khóa luận, tại thời điểm ngày 01/04/2010, đàn lợn cả nước đạt 27,3 triệu con (tăng 3,06% so với cùng kỳ năm 2009), phân bố tập trung tại Đồng bằng sông Hồng (7,2 triệu con - 27,1%), Đông Bắc (4,6 triệu con - 13,7%), Đồng bằng sông Cửu Long (3,6 triệu con - 13,6%) và Bắc Trung Bộ (3,4 triệu con). Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là rào cản lớn đối với năng suất và chất lượng đàn vật nuôi. Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa — đặc biệt là bệnh giun đũa lợn (Ascaris suum) — tuy ít gây chết hàng loạt nhưng khiến lợn còi cọc, chậm lớn, suy giảm miễn dịch, tạo điều kiện cho các mầm bệnh khác xâm nhập và làm sụt giảm sản lượng thịt tới 30%.
Tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, dù có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi lợn, người dân địa phương phần lớn vẫn duy trì tập quán chăn nuôi truyền thống, chưa quan tâm đúng mức đến công tác vệ sinh thú y và phòng trị bệnh giun sán. Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả Đặng Thị Hà (ngành Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã thực hiện đề tài khóa luận: “Tình hình nhiễm giun đũa ở lợn tại một số xã của huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn và áp dụng biện pháp phòng chống” dưới sự hướng dẫn của ThS. Đỗ Thị Lan Phương.
Khóa luận xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định tình hình nhiễm giun đũa ở lợn tại một số xã của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Xác định các triệu chứng lâm sàng của lợn khi nhiễm giun đũa.
- Xác định hiệu lực tẩy trừ của hai loại thuốc Bio-Ivermectin và Bio-Levamisol 10%.
Đối tượng nghiên cứu là đàn lợn ở các lứa tuổi từ dưới 2 tháng tuổi đến trên 6 tháng tuổi. Phạm vi nghiên cứu thực địa được triển khai tại Trạm Thú y huyện Ba Bể và các nông hộ, trại chăn nuôi thuộc 3 xã: Bành Trạch, Khang Ninh và Thượng Giáo (huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), trong khoảng thời gian từ ngày 25/05/2015 đến ngày 25/11/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết của đề tài dựa trên phân loại học giun sán và đặc điểm sinh học của loài Ascaris suum Goeze, 1782 (thuộc Giống Ascaris, Họ Ascaridoidia, Bộ Ascaridida, Lớp Nematoda, Ngành Nemathelminthes). Giun đũa lợn có màu trắng sữa, thân hình ống; con đực dài 12–25 cm, đường kính 3 mm; con cái dài 30–35 cm, đường kính 5–6 mm. Trứng có kích thước 0,056–0,087 x 0,046–0,067 mm với vỏ dày 4 lớp. Chu kỳ phát triển của giun đũa không cần ký chủ trung gian, kéo dài 54–62 ngày; ấu trùng sau khi qua đường tiêu hóa sẽ di hành qua tĩnh mạch màng treo ruột vào gan, lên tim rồi tới phổi, lột xác thành ấu trùng kỳ III trước khi theo khí quản lên hầu và được nuốt trở lại ruột non để phát triển thành giun trưởng thành (tuổi thọ 7–10 tháng).
Khóa luận áp dụng các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra dịch tễ thú y chuyên ngành:
- Phương pháp thu thập mẫu: Lấy mẫu chùm nhiều bậc ngẫu nhiên tại các hộ gia đình và trại chăn nuôi. Thu thập 407 mẫu phân tươi (20–30 g/mẫu) lấy tại 3 điểm trên đống phân, ghi nhận đầy đủ thông tin về lứa tuổi, giống, tính biệt, phương thức chăn nuôi, tình trạng vệ sinh thú y và trạng thái phân.
- Phương pháp xét nghiệm định tính: Sử dụng phương pháp phù nổi Fülleborn với dung dịch nước muối bão hòa NaCl (pha 380 g muối/1 lít nước sôi) để làm nổi trứng giun lên phiến kính và quan sát dưới kính hiển vi.
- Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm: Đếm số lượng trứng giun trên một vi trường theo tiêu chuẩn của Nguyễn Thị Lê và cs (1996), phân cấp thành 4 mức: nhiễm nhẹ (+: 1–3 trứng/vi trường), nhiễm trung bình (++: 4–6 trứng/vi trường), nhiễm nặng (+++: 7–9 trứng/vi trường), và nhiễm rất nặng (++++: từ 9 trứng/vi trường trở lên).
- Phương pháp thử nghiệm hiệu lực và độ an toàn của thuốc: Thử nghiệm trên 60 lợn có kết quả xét nghiệm phân dương tính với giun đũa, chia thành 2 lô thí nghiệm (mỗi lô 30 con):
- Lô 1: Dùng thuốc Bio-Levamisol 10% tiêm bắp với liều 1 ml/kg thể trọng.
- Lô 2: Dùng thuốc Bio-Ivermectin dạng bột trộn thức ăn với liều 0,8 mg/kg thức ăn.
- Theo dõi phản ứng phụ sau 1 giờ và tiến hành xét nghiệm lại phân tìm trứng giun vào các mốc ngày thứ 3, thứ 5 và thứ 7 sau khi dùng thuốc.
- Phương pháp xử lý số liệu: Tổng hợp số liệu dịch tễ, tính tỷ lệ nhiễm (%), cường độ nhiễm (%) và hiệu lực tẩy trừ (%) bằng phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của ngành chăn nuôi lợn trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam và những tổn thất do bệnh ký sinh trùng gây ra đối với tăng trọng, phẩm chất thịt và sức đề kháng của đàn lợn. Phần này công bố rõ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu dịch tễ địa phương và phác đồ tẩy trừ giun đũa hiệu quả tại huyện Ba Bể.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về:
- Vị trí phân loại, đặc điểm hình thái, chu kỳ sinh học và cơ chế sinh bệnh học của Ascaris suum.
- Triệu chứng lâm sàng, bệnh tích mổ khám ở thể cấp tính (giai đoạn ấu trùng di hành gây viêm gan, xuất huyết phổi) và thể mạn tính (giun trưởng thành ký sinh gây loét niêm mạc ruột non, tắc ruột, còi cọc).
- Các phương pháp chẩn đoán lâm sàng, xét nghiệm phù nổi Fülleborn, phản ứng biến thái nội bì và phương pháp mổ khám toàn diện theo Skrjabin.
- Các nhóm thuốc hóa dược hiện đại (Levamisole, Ivermectin, Piperazine, Mebendazole) và các bài thuốc nam truyền thống (vỏ rễ xoan, hạt cau, lá đu đủ, sử quân tử) cùng các biện pháp ủ phân nhiệt sinh học (55–60°C) để tiêu diệt mầm bệnh.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại 3 xã thuộc huyện Ba Bể, mốc thời gian thực hiện (25/05/2015 – 25/11/2015), quy trình lấy 407 mẫu phân ngẫu nhiên, kỹ thuật xét nghiệm Fülleborn, thang phân loại cường độ nhiễm 4 mức, tiêu chí phân nhóm dịch tễ (tuổi, giống, tính biệt, quy trình vệ sinh, phương thức chăn nuôi) và thiết kế thí nghiệm so sánh hiệu lực tẩy trừ giữa Bio-Levamisol 10% và Bio-Ivermectin trên 60 cá thể lợn bệnh.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này được chia thành hai nội dung lớn: công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở và kết quả nghiên cứu chuyên đề.
1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tại Trạm Thú y huyện Ba Bể, tác giả đã tham gia trực tiếp các hoạt động chuyên môn chăn nuôi thú y tại địa bàn:
| Nhóm công việc |
Nội dung chi tiết |
Số lượng thực hiện (con) |
Kết quả đạt được |
Tỷ lệ (%) |
| Tiêm phòng vắc xin |
Lở mồm long móng (LMLM) lợn |
415 |
An toàn |
100,00 |
|
Tụ dấu lợn |
415 |
An toàn |
100,00 |
|
Dịch tả lợn |
415 |
An toàn |
100,00 |
|
Dại chó |
97 |
An toàn |
100,00 |
|
Cúm gia cầm |
300 |
An toàn |
100,00 |
| Điều trị bệnh |
Bệnh phân trắng lợn con (Doxy-Tialin) |
103 |
98 con khỏi |
95,15 |
|
Bệnh tụ huyết trùng lợn (Kanatianin) |
7 |
6 con khỏi |
85,71 |
|
Bệnh phó thương hàn lợn (Marfluquyl) |
6 |
5 con khỏi |
83,33 |
|
Bệnh ghẻ lợn (Ivermectin + Tactick) |
5 |
4 con khỏi |
80,00 |
| Công tác khác |
Tiêm Dextran-Fe bổ sung cho lợn con |
67 |
Đạt yêu cầu |
100,00 |
|
Thiến hoạn lợn đực thương phẩm |
20 |
Đạt yêu cầu |
100,00 |
|
Tẩy giun sán đàn lợn |
60 |
Đạt yêu cầu |
100,00 |
2. Kết quả nghiên cứu chuyên đề về bệnh giun đũa lợn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm chung theo địa bàn: Xét nghiệm 407 mẫu phân tại 3 xã, ghi nhận 154 mẫu dương tính, đạt tỷ lệ nhiễm chung là 37,83%. Trong số lợn nhiễm, cường độ nhiễm nhẹ (+) chiếm ưu thế với 69,48% (107 con), nhiễm trung bình (++) chiếm 24,02% (37 con), nhiễm nặng (+++) chiếm 5,19% (8 con) và rất nặng (++++) chiếm 1,29% (2 con). Xã Thượng Giáo có tỷ lệ nhiễm cao nhất (41,08%), tiếp đến là Khang Ninh (40,59%) và thấp nhất là Bành Trạch (33,89%).
| Địa phương (xã) |
Số mẫu kiểm tra |
Số mẫu nhiễm |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
Cường độ + (n / %) |
Cường độ ++ (n / %) |
Cường độ +++ (n / %) |
Cường độ ++++ (n / %) |
| Bành Trạch |
177 |
60 |
33,89 |
44 (73,33%) |
10 (16,67%) |
4 (6,67%) |
2 (3,33%) |
| Khang Ninh |
101 |
41 |
40,59 |
26 (63,41%) |
14 (34,14%) |
1 (2,43%) |
0 (0,00%) |
| Thượng Giáo |
129 |
53 |
41,08 |
37 (69,81%) |
13 (24,52%) |
3 (5,67%) |
0 (0,00%) |
| Tính chung |
407 |
154 |
37,83 |
107 (69,48%) |
37 (24,02%) |
8 (5,19%) |
2 (1,29%) |
- Nhiễm theo lứa tuổi: Lợn giai đoạn >2–4 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (67,74%; 105/155 mẫu) và xuất hiện cường độ rất nặng (++++; 1,90%). Nhóm lợn >4–6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm 23,14% (28/121 mẫu); nhóm <2 tháng tuổi nhiễm 17,64% (15/85 mẫu); nhóm >6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất với 13,04% (6/46 mẫu).
| Tuổi lợn (tháng) |
Số mẫu kiểm tra |
Số mẫu nhiễm |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
Cường độ + (n / %) |
Cường độ ++ (n / %) |
Cường độ +++ (n / %) |
Cường độ ++++ (n / %) |
| < 2 |
85 |
15 |
17,64 |
9 (60,00%) |
4 (26,67%) |
2 (13,33%) |
0 (0,00%) |
| > 2 – 4 |
155 |
105 |
67,74 |
76 (72,38%) |
21 (20,00%) |
6 (5,71%) |
2 (1,90%) |
| > 4 – 6 |
121 |
28 |
23,14 |
18 (64,28%) |
9 (32,14%) |
1 (3,57%) |
0 (0,00%) |
| > 6 |
46 |
6 |
13,04 |
2 (33,33%) |
4 (66,67%) |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
| Tính chung |
407 |
154 |
37,83 |
105 (68,18%) |
39 (25,32%) |
8 (5,19%) |
2 (1,29%) |
- Nhiễm theo giống lợn: Lợn lai có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 46,26% (93/201 mẫu), tiếp đến là lợn ngoại 30,43% (28/92 mẫu) và lợn nội 28,94% (33/114 mẫu).
- Nhiễm theo tính biệt: Tỷ lệ nhiễm ở lợn cái là 46,00% (98/213 con) và lợn đực là 28,86% (56/194 con). Tác giả nhận định sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê lớn và tính biệt không phải yếu tố quyết định độ cảm nhiễm.
- Nhiễm theo phương thức chăn nuôi: Phương thức truyền thống (tận dụng) có tỷ lệ nhiễm cao nhất (51,47%; 35/68 con), bán công nghiệp đạt 48,79% (101/207 con), trong khi chăn nuôi công nghiệp kiểm soát dịch bệnh tốt nhất với tỷ lệ nhiễm chỉ 13,63% (18/132 con).
- Nhiễm theo tình trạng vệ sinh thú y: Cơ sở có điều kiện vệ sinh kém có tỷ lệ nhiễm lên tới 83,15% (79/95 con); mức độ vệ sinh trung bình có tỷ lệ nhiễm 57,69% (60/104 con); cơ sở vệ sinh tốt có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 7,21% (15/208 con).
- Nhiễm theo các tháng theo dõi (tháng 7 – 11/2015): Tỷ lệ nhiễm giảm dần theo thời gian khảo sát: tháng 7 đạt 55,76% (58/104 mẫu), tháng 8 đạt 45,54% (46/101 mẫu), tháng 9 đạt 34,14% (28/82 mẫu), tháng 10 đạt 17,33% (13/75 mẫu) và tháng 11 ghi nhận 9 mẫu nhiễm trên 45 mẫu kiểm tra (văn bản ghi tỷ lệ 2,00%).
- Nhiễm theo trạng thái phân: Lợn có triệu chứng tiêu chảy có tỷ lệ nhiễm giun đũa lên tới 88,57% (62/70 mẫu), cao hơn nhiều so với lợn có phân bình thường (27,29%; 92/337 mẫu).
- Biểu hiện lâm sàng: Ở mức độ nhiễm nhẹ và trung bình (+, ++), chỉ 23,61% lợn (34/144 con) biểu hiện triệu chứng (xù lông, gầy, chậm lớn). Ở mức độ nhiễm nặng và rất nặng (+++, ++++), 100% lợn (10/10 con) biểu hiện triệu chứng rõ rệt: tiêu chảy kéo dài, còi cọc, niêm mạc nhợt nhạt, thần kinh hưng phấn, kêu nhiều.
- Hiệu lực tẩy trừ của thuốc:
| Tên thuốc |
Liều lượng và đường cấp |
Số lợn thử nghiệm (con) |
Sạch trứng sau 3 ngày (n / %) |
Sạch trứng sau 5 ngày (n / %) |
Sạch trứng sau 7 ngày (n / %) |
Hiệu quả chung sau 7 ngày (n / %) |
Phản ứng phụ (n / %) |
Tỷ lệ chết (%) |
| Bio-Levamisol 10% |
1 ml/kg TT (tiêm bắp) |
30 |
22 (73,33%) |
2 (6,67%) |
4 (13,33%) |
29 (96,67%) |
2 (6,67%) |
0,00 |
| Bio-Ivermectin |
0,8 mg/kg TĂ (trộn thức ăn) |
30 |
19 (63,33%) |
6 (31,57%) |
2 (10,52%) |
25 (83,33%) |
3 (10,00%) |
0,00 |
Thuốc Bio-Levamisol 10% dạng tiêm cho hiệu lực tẩy sạch cao hơn (96,67%) nhờ liều lượng chuẩn xác và hấp thu nhanh qua đường tiêm bắp. Thuốc Bio-Ivermectin dạng trộn thức ăn đạt hiệu lực 83,33% do phụ thuộc vào lượng ăn vào của từng cá thể lợn.
- Đề xuất giải pháp phòng chống: Khóa luận đề xuất quy trình tẩy giun định kỳ (tẩy lợn nái trước khi đẻ 1 tháng; tẩy lợn thịt sau cai sữa và lúc 2–4 tháng tuổi), kết hợp vệ sinh chuồng trại khô ráo, xử lý phân bằng phương pháp ủ nhiệt sinh học (trộn phân với vôi bột 5–8%, tro bếp, lá xanh, trát bùn ủ 15 ngày đạt 45–60°C để diệt trứng giun).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Tác giả tóm tắt toàn bộ các chỉ số dịch tễ học chính, khẳng định hiệu lực của hai phác đồ điều trị và kiến nghị chính quyền địa phương, cán bộ thú y cơ sở đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật phòng chống giun sán định kỳ cho người chăn nuôi tại huyện Ba Bể.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp các kết quả thực nghiệm với các dữ liệu cụ thể:
- Tỷ lệ nhiễm giun đũa trung bình ở đàn lợn tại 3 xã thuộc huyện Ba Bể là 37,83% (154/407 con), chủ yếu ở cường độ nhiễm nhẹ (+) chiếm 69,48% và trung bình (++) chiếm 24,02%.
- Nhóm lợn từ >2–4 tháng tuổi chịu mức độ cảm nhiễm cao nhất (67,74%), trong khi phương thức chăn nuôi truyền thống (51,47%) và điều kiện vệ sinh kém (83,15%) là những yếu tố dịch tễ làm gia tăng rõ rệt tỷ lệ mắc bệnh.
- Lợn bị tiêu chảy có tỷ lệ nhiễm giun đũa đạt 88,57%, và 100% lợn nhiễm ở cường độ nặng/rất nặng biểu hiện triệu chứng lâm sàng điển hình.
- Thử nghiệm lâm sàng xác định Bio-Levamisol 10% tiêm bắp đạt hiệu lực tẩy trừ 96,67% (an toàn, chỉ 6,67% mẫn cảm nhẹ), vượt trội hơn Bio-Ivermectin trộn thức ăn (hiệu lực 83,33%, phản ứng phụ 10,00%).
- Đóng góp khoa học và thực tiễn: Khóa luận xây dựng được bản đồ dịch tễ học chi tiết về bệnh giun đũa lợn tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; so sánh đối chứng với các nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu của Trịnh Văn Thịnh ghi nhận tỷ lệ 56% trên diện rộng); đồng thời đưa ra phác đồ điều trị bằng Bio-Levamisol 10% và quy trình ủ phân nhiệt sinh học diệt trứng giun phù hợp với điều kiện chăn nuôi miền núi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ thực tập tốt nghiệp đại học nên tồn tại một số hạn chế theo phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian mới giới hạn ở 3 xã (Bành Trạch, Khang Ninh, Thượng Giáo) trong một huyện miền núi; thời gian theo dõi liên tục trong 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2015), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ 12 tháng của năm để đánh giá đầy đủ biến động theo mùa khô lạnh.
- Số lượng cá thể thử nghiệm thuốc còn ở quy mô vừa phải (30 con/lô thí nghiệm); phương pháp đánh giá cường độ nhiễm dựa trên đếm trứng/vi trường định tính chứ chưa sử dụng phương pháp định lượng tuyệt đối (McMaster).
- Hướng mở rộng: Mở rộng điều tra dịch tễ học trên toàn bộ các xã thuộc tỉnh Bắc Kạn, kết hợp đánh giá tương tác giữa giun đũa lợn với các bệnh truyền nhiễm đường hô hấp/tiêu hóa khác và thử nghiệm thêm các dạng bào chế thuốc thú y mới.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi Thú y thực hiện khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu về ký sinh trùng học thú y và dịch tễ học đường tiêu hóa trên gia súc.
- Cán bộ thú y cơ sở, kỹ thuật viên trang trại tại khu vực trung du, miền núi phía Bắc tham khảo quy trình chẩn đoán xét nghiệm phù nổi Fülleborn, phác đồ sử dụng Bio-Levamisol 10% và phương pháp ủ phân nhiệt sinh học (vôi bột 5–8%, trát bùn 10 cm) để xử lý mầm bệnh trong chăn nuôi nông hộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở đàn lợn tại 3 xã thuộc huyện Ba Bể là bao nhiêu và phân bố theo cường độ thế nào?
Qua xét nghiệm 407 mẫu phân, có 154 mẫu dương tính, đạt tỷ lệ nhiễm chung là 37,83%. Trong đó, cường độ nhiễm nhẹ (+) chiếm 69,48% (107 con), trung bình (++) chiếm 24,02% (37 con), nặng (+++) chiếm 5,19% (8 con) và rất nặng (++++) chiếm 1,29% (2 con).
2. Lứa tuổi và giống lợn nào có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất trong nghiên cứu?
Lợn ở giai đoạn >2–4 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 67,74% (105/155 con). Về giống lợn, lợn lai có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 46,26% (93/201 con), so với lợn ngoại (30,43%) và lợn nội (28,94%).
3. Tình trạng vệ sinh thú y ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ nhiễm giun đũa ở lợn?
Tỷ lệ nhiễm có sự chênh lệch rất lớn theo điều kiện vệ sinh: cơ sở vệ sinh tốt chỉ nhiễm 7,21% (15/208 con); cơ sở vệ sinh trung bình nhiễm 57,69% (60/104 con); cơ sở vệ sinh kém có tỷ lệ nhiễm lên tới 83,15% (79/95 con).
4. Hiệu lực tẩy trừ giun đũa của Bio-Levamisol 10% và Bio-Ivermectin khác nhau như thế nào?
Sau 7 ngày theo dõi trên 60 lợn thí nghiệm (30 con/lô), thuốc Bio-Levamisol 10% dạng tiêm bắp đạt hiệu lực tẩy sạch 96,67% (29/30 con sạch trứng), phản ứng phụ 6,67%. Thuốc Bio-Ivermectin dạng bột trộn thức ăn đạt hiệu lực 83,33% (25/30 con sạch trứng), phản ứng phụ 10,00%. Cả hai thuốc đều an toàn, không làm chết lợn.
5. Khóa luận đề xuất quy trình ủ phân nhiệt sinh học như thế nào để diệt trứng giun đũa?
Tác giả đề xuất thu gom phân hàng ngày, phối trộn phân chuồng cùng lá xanh, tro bếp và vôi bột từ 5–8%, đánh đống ủ nổi hoặc ủ chìm rồi trát lớp bùn dày 10 cm bên ngoài; quá trình lên men yếm khí và hiếu khí trong 15 ngày tạo nhiệt độ từ 45–60°C giúp tiêu diệt hoàn toàn trứng và ấu trùng giun đũa.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đặng Thị Hà đã phản ánh toàn diện bức tranh dịch tễ học bệnh giun đũa (Ascaris suum) trên đàn lợn tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với tỷ lệ nhiễm chung là 37,83%, tập trung cao nhất ở nhóm lợn 2–4 tháng tuổi và các hộ chăn nuôi có điều kiện vệ sinh kém. Nghiên cứu chứng minh tính ưu việt của thuốc Bio-Levamisol 10% tiêm bắp với hiệu lực tẩy trừ đạt 96,67%, vượt trội so với Bio-Ivermectin dạng trộn thức ăn. Hệ thống giải pháp kết hợp tẩy giun định kỳ, cải thiện vệ sinh chuồng trại và ủ phân nhiệt sinh học do tác giả đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác thú y và phát triển chăn nuôi lợn tại địa phương.