CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Khái niệm về bệnh trường học Bệnh trường học là những bệnh có liên quan đến quá trình học tập ở tuổi học sinh như bệnh biến dạng cột sống (cong vẹo cột sống), cận thị trường học [5]. Bệnh trường học từ lâu đã được biết đêh vì nó gắn liền với trường, lớp. Ở trong những môi trường học đường không đảm bảo yêu cầu v ệ sinh, học sinh sẽ có nguy cơ mắc các bệnh trường học.
Người ta tính r ằng trong quá trình h ọc t ập t ừ lớp 1 đêh lớp 12, các em học sinh phải học trung bình trên một vạn giờ ỏ trong lóp học, tiếp xúc với các loại phương tiện học tập, trong đó có nhiều yếu tố bất lợi cho sức khoẻ và tình trạng bệnh tật của các em [4], Vì thế môi trường học tập chính là yếu tố quan tr ọng ảnh h ưởng đêh s ức kho ẻ h ọc sinh nói chung và bệnh trường học nói riêng. Ngày nay các nhà vệ sinh học đường cho rằng môi trường học tập bao gổm các điều kiện học tập trong, ngoài nhà trường và những yếu tố trong nhà tr ường v ẫn mang tính ch ất quy ết đ ịnh [4], Ngoài các bệnh phổ biến ở lứa tuổi thanh thiếu niên, trong học sinh còn thường mắc phải hai bệnh có mối liên quan mật thiết đến quá trình học tập đó là bệnh bi ến d ạng c ột s ống và b ệnh cân th ị tr ường học [5]. Khái niệm về bệnh cong vẹo cột sông Cột sống là cột trụ của bộ xương người, nằm chính giữa thành sau của thân người, chạy suốt từ mặt xương chẩm đến xương cụt. Cột sống có từ 33-34 đốt sống chổng lên nhau, bao gồm: 7 đốt s ống c ổ, 12 đ ốt s ống l ưng, 5 đ ốt s ống thắt lưng, 5 đốt sống cùng và 3-4 đốt sống cụt, giữa các đốt sống có đĩa hên đốt bằng sụn.
Nhìn thẳng từ phía sau lưng thì cột sống là một đường thẳng, các gai đốt s ống nhô ra sau. Nhìn nghiêng t ừ phía bên, cột sống có 4 đoạn cong sinh lý : Đoạn cổ cong ra sau, đo ạn l ưng cong ra tr ước, đo ạn th ắt l ưng cong ra sau, đoạn cùng cụt cong ra trước [16]. BDCS là hiện tượng cột sống có hình dạng khác với bình thường. Nhìn thẳng từ phía sau lưng nếu cột sống lệch sang trái hoặc sang phải ta gọi đó là v ẹo c ột s ống.
Nhìn nghiêng t ừ phía bên hông nếu cột sống cong quá mức bình thường ta gọi đó là cong cột sống [22], BDCS bao gồm vẹo cột sống và cong cột sống. 4 Tư thế thẳng Tư thế nghiêng Hình 1: Hình thể cột sống 2. Nguyên nhân của bệnh BDCS [4], [9], [15] Bất cứ một nguyên nhân nào ỉàm cho các cơ và dẫy chẳng cột sống bị kéo giãn hoặc yếu đi do phải chịu sức căng kéo về một phía trong một thời gian dài, sẽ làm cho phần cột sống tương ứng bị biến dạng, gây nên BDCS [22]. - ĩ* Nguyên nhân bẩm sinh: Một số đứa trẻ ngay từ khi mới sinh ra đã bị BDCS, 90% các trường hợp này không rõ nguyên nhân.
5 - Nguyên nhân mắc phải: - Bệnh tật: Do một số bệnh để lại những di chứng BDCS như là bại liệt, lao cột sống, còi xương suy dinh dưỡng, chấn thương cột sống, co rút khớp háng, thoái hoá cột sống. - Điều kiện vệ sinh môi trường học tập : Đây là nguyên nhân chủ yếu gây biến dạng cột sống ở lứa tuổi học sinh. + Bàn ghế không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, không phù hợp với lứa tuổi. + Do chiếu sáng trong lớp học không đầy đủ, thiếu ánh sáng khi ngồi học.
+ Tư thế xấu khi ngồi học : Học sinh ngồi học không đúng tư thế như vẹo đầu, vặn người, ngồi xổm. - Tư thế xấu trong sinh hoạt, lao động: Lao động chân tay quá sớm, tư thế lao động không đúng khi tuổi đang còn nhỏ, thói quen mang xách vật nặng một Hình 2: Tư thê ngồi vẹo cột sông do bàn ghế không đạt tiêu chuẩn 6 2. Phân loại biên dạng cột sông Biến dạng cột sống bao gồm hai loại [5], [15] (Chi tiết phụ lục số 4). Có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng phổ biến là dựa vào hình dáng cong vẹo.
Vẹo cột sống Có 4 loại vẹo cột sống - Vẹo hình c thuận - Vẹo hình c ngược - Vẹo hình s thuận - Vẹo hình s ngược 2. Cong cột sống Có hai loại - Gù - Ưỡn 3. Khái niệm về bệnh cận thị 3. Định nghĩa Cận thị là một tật của mắt khiến mắt chỉ nhìn thấy rõ VỘI ở gần, không thấy rõ vật ở xa do độ hội tụ của mắt tãng quá mức bình thường [9].Bẩm sinh - Nguyên nhân của cận thị thường là do sự sai lệch về phát triển xảy ra trong thời kỳ phôi thai và thời kỳ phát triển tích cực [29].
Di truyền đóng một vai trò cao và khá rõ nét trong cận thị bẩm sinh và cận thị nặng [29], [41], [51], - Những rối loạn dẫn đến những bất thường của thành phần cấu tạo khúc xạ nhãn cầu như: Độ cong giác mạc, độ sàu tiền phòng, chỉ số khúc xạ của thể thuỷ tinh và trục trước sau của nhãn cầu đều có thể dẫn đến tật khúc xạ [29]. Cận thị mắc phải - Nguyên nhân do sự gia tăng áp lực nội nhãn cũng gây bi ến đ ổi v ề đ ộ cong và tr ục nhãn c ầu. Môi trường cũng ảnh hưởng đến tình trạng khúc xạ của học sinh: Sự gắng sức trong làm việc thị giác gần kéo dài. - Yếu tố thể trạng: Những trẻ em gẩy yếu, hay ốm đau, nhất là sau khi mắc một số bệnh truyền nhiễm như cúm, sởi, ho gà, lao.
cũng là nguyên nhân dễ bị cận thị. - Nguyên nhân chính dãn đến cận thị ở lứa tuổi học sinh là do đi ều ki ện v ệ sinh tr ường h ọc không đảm bảo tiêu chuẩn: Ánh sáng: Thiếu ánh sáng và chiếu sáng không hợp lý trong khi học sẽ gây mệt mỏi thị lực, là một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh cận thị. Bàn ghế không đạt tiêu chuẩn vệ sinh: Bàn ghế thiếu, kích thước không phù hợp với lứa tuổi học sinh, bàn cao ghế thấp hoặc bàn thấp ghế cao. Tư thế sai khi học như: Cúi gằm, nhìn gần, nằm và quỳ khi học bài ở nhà.
Một số yếu tố khác như: Sách vở, chữ viết không đạt tiêu chuẩn, nhìn gần liên tục kéo dài. Đọc truyện quá nhiều, sử dụng máy vi tính và chơi điện tử quá mức. Do chế độ học tập quá căng thẳng. Cận thị sẽ gây tác hại đến kết quả học tập của học sinh, ảnh hưởng đ ến s ự phát tri ển trong tương lai của các em [9], [16].
Vệ sinh học đường 4. Quá trình hình thành và phát triển của vệ sinh học đường Vệ sinh học đường là một môn khoa học và bản thân nó luôn luôn g ắn li ền v ới tr ường học. Vê sinh học đường có lịch sử lâu đời, con người đã quan tâm đến nó từ những thế kỷ xa xưa. Vào Thế kỷ XIII ở Châu Âu, khi xây dựng trường, lớp người ta đã chú ý đến yếu tố yên tĩnh và ánh sáng của lớp học.
Tuy nhiên vệ sinh học đường khi đó mới chỉ dừng l ại ở m ức đ ộ dó, ch ưa quan tâm tới sự thích hợp của bàn ghế và độ cao của bảng viết với tầm cỡ học sinh [4], [5]. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tại các trường học vấn đề vệ sinh học đường được quan tâm đến ở nhiều khía cạnh và đã phát tri ển thành m ột môn khoa h ọc có liên quan đốn nhiều môn khoa học khác như : Kỹ thuật xây dựng, mỹ thuật và đ ặc bi ệt là Ergonomi. Ergonomi là môn khoa học nghiên cứu về sự phù 8 hợp giữa sinh lý người với các công cụ học tập như bàn, ghế, bảng, dụng cụ học tập.theo đúng tiêu chuẩn vệ sinh. Vệ sinh học đường không những chỉ quan tâm đến vi ệc h ạn ch ế các b ệnh h ọc đ ường mà còn nghiên cứu cách thức tổ chức xây dựng trường học cũng như việc chế tạo các ph ương ti ện học tập phù hợp nhất cho quá trình học tập của học sinh [9].
Vệ sinh học đường đề cập đến những vấn đề về cơ sở học tập liên quan, ảnh hưởng đến học sinh như: Điều kiện vi khí hậu (nhiệt độ, ánh sáng, gió, ti ếng ổn. Các ph ương ti ện h ọc t ập (bàn, ghế, bảng.), chế độ học tập của học sinh [22], 4. Tiêu chuẩn vệ sinh học đường Tiêu chuẩn về vệ sinh học đường là những qui định về vệ sinh trường học bao g ồm v ệ sinh mồi trường học tập, vệ sinh các phương tiện phục vụ học tập của trường học và vệ sinh nhà ở [2] (phụ lục 5). Tình hình nghiên cứu bệnh BDCS và cận thị trường học ở học sinh 5.
Tình hình biến dạng cột sông ở học sinh 5. Tình hình nghiên cứu bệnh BDCS trên thê giói BĐCS đã được phát hiện và điều trị ở giai đoạn rất sớm của lịch sử y học. Hyppocrat là một trong những tác giả đầu tiên đề cập đến bệnh BDCS và đ ặt tên là Scoliosis. Đồng thời ông cũng mô tả một sô' dụng cụ làm giảm bớt tiến triển của bệnh BDCS [36], [37], Tới Thế kỷ thứ XVIII-X1X, các nhà nghiên cứu đã tìm ra nguyên nhân, bệnh sinh của BDCS đầy đủ, rõ ràng hơn.
Đó là thời điểm đánh dấu bước phát triển to lớn trong lĩnh vực phòng, chữa trị bệnh trường học nói chung và BDCS nói riêng [37], Năm 1849, Hare cho rằng: BDCS có liên quan tới lư thế sai, rối lo ạn phát tri ển th ể ch ất, còi xương, suy dinh dưỡng. Ông cũng mô tả việc sử dụng các khuôn b ằng th ạch cao đ ể đi ều tr ị BDCS một cách có hiệu quả [36], [37]. Lonsdale đưa ra luận thuyết về điều trị BDCS, cho rằng ở trẻ em gái trong giai đoạn cột sống đang phát triển nhanh nếu ngồi khâu vá mặc áo nịt ngực quá chạt hoặc bê' ẩm trẻ nhỏ ở một bên tay lâu ngày có thể dẫn đen bệnh BDCS [37], [44]. 9 Một nghiên cứu của Guillauve vào đầu thập kỷ 70 trên 751 trẻ em ở Philadenphia cho thấyl8% trong số 250 trẻ trai và 41% trong sô' 381 trẻ gái bị BDCS [39], Kết quả khám sàng lọc của J.Loustein cho các trường học ở Minnesota thập kỷ 70 (1971-1976) trên 571.