phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về công nghệ chế tạo và tính chất quang của nano tinh thể bán dẫn không pha tạp và pha tạp các ion đất hiếm. Chƣơng 2: Thực nghiệm. Chƣơng 3: Chế tạo và tính chất quang của các nano tinh thể CdS và CdS:Eu3+. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO VÀ TÍNH CHẤT QUANG CỦA NANO TINH THỂ BÁN DẪN KHÔNG PHA TẠP VÀ PHA TẠP CÁC ION ĐẤT HIẾM 1.
Giới thiệu về các nano tinh thể bán dẫn Các nano tinh thể (NC) bán dẫn còn gọi là các chấm lượng tử (QDs), do con người tạo ra chúng có kích thước tinh thể cỡ nano mét (1nm = 10-9 m). Kích thước của NC bán dẫn nằm giữa phân tử và tinh thể khối nên chúng sẽ có các tính chất vật lý và hóa học đơn nhất mà các tính chất này không có trong các phân tử tách biệt hay trong các vật liệu khối cùng thành phần, độ rộng vùng cấm hiệu dụng được mở rộng, thay đổi theo kích thước của NC, tương đương với các vùng ánh sáng từ tử ngoại đến vùng hồng ngoại, phổ phát xạ hẹp và đối xứng, dải phổ hấp thụ rộng, hiệu suất lượng tử cao và bền quang [30]. Hiện nay khoa học có rất nhiều cách, phương pháp để nghiên cứu, hiểu về các trạng thái năng lượng và các tính chất của các NC bán dẫn. Do khả năng dễ chế tạo, ứng dụng sâu rộng trong thực tế và có thể tổng hợp được các tinh thể bán dẫn với sự phân bố kích thước hẹp và hiệu suất huỳnh quang cao, từ đó các NC bán dẫn trở nên thu hút các nhà khoa học nên đã được triển khai ứng dụng mạnh mẽ.
Mối quan hệ giữa mật độ trạng thái vào năng lượng 4 Vật liệu bán dẫn khối, thấy rằng các điện tử ở vùng dẫn và các lỗ trống ở vùng hóa trị trong tinh thể luôn ở trạng thái chuyển động tự do. Các hạt tải điện chuyển động có thể biểu diễn bởi tổ hợp tuyến tính của các sóng phẳng có bước sóng cỡ nanomet do chúng có lưỡng tính sóng-hạt. Các mức năng lượng được phân bố liên tục thành dải, tạo nên các vùng năng lượng trong tinh thể khối là kết quả của việc kết hợp vô cùng nhiều của các obital nguyên tử. Khi khoảng cách giữa của các mức năng lượng nằm trong môt vùng năng lượng tăng lên đủ lớn (kích thích tinh thể giảm đến mức nm) thì các dải phân bố đó không còn được coi là liên tục [3].
Sơ đồ biểu diễn các vùng năng lượng từ các quỹ đạo nguyên tử. Khi khoảng cách giữa các mức năng lượng giảm đi thì số nguyên tử tăng lên. Phổ hấp thụ và phổ huỳnh quang của các nano tinh thể bán dẫn thay đổi dựa vào kích thước của hạt, dùng hiệu ứng kich thích lượng tử để xác định các phổ đó. Hiệu ứng này giúp quan sát hầu hết sự thay đổi toàn bộ phổ năng lượng của các hạt khi chúng bị giam giữ theo cả 3 chiều.
Kết quả của việc chuyển đổi giữa mức năng lượng của các electron và lỗ trống bị lượng tử hóa do kích thước hạt dẫn tới hai tính chất nổi bật là quang tuyến tính và quang phi tuyến của NC bán dẫn. Sự chuyển dời đó của các hạt mang điện ở giữa hai mức năng lượng gián đoạn ở trên dẫn tới sự xuất hiện của quang phổ vạch. Lúc đó hệ hạt được gọi là hệ hạt bị giam giữ lượng tử. Với sự giam giữ này sẽ làm ngắt đoạn các mức năng lượng và làm thay đổi mật độ của các trạng thái hạt được biểu thị như trên hình 1.
Cấu trúc vùng năng lƣợng của nano tinh thể bán dẫn Cấu trúc vùng năng lượng của các nano tinh thể bán dẫn ảnh hưởng trực tiếp tới tính phát quang do đó việc tìm hiểu cấu trúc của nó là cần thiết. Sự chuyển đổi nội vùng giữa các mức năng lượng lượng tử trong vùng dẫn và vùng hóa trị parabol có thể được giải thích một cách đơn giản bằng sự chuyển đổi cho phép giữa các mức năng lượng với cùng một số lượng tử. Có thể thấy rằng với các chất bán dẫn loại II- VI như CdSe, CdS, CdTe…, cấu trúc dải khá phức tạp. Vùng dẫn được xác định bởi obitan s của các ion kim loại nhóm II, còn với các obitan p của các nguyên tố S, Se, Te hoặc nhóm VI thì vùng hóa trị sẽ có cấu trúc phức tạp hơn.
Vùng dẫn của cấu trúc giả kẽm (Zinc-blende) hoặc Wurtzite có thể được coi gần đúng như một parabol suy biến spin bậc hai (k = 0) ở tâm của vùng Brillouin, trong khi vùng hóa trị là một dạng suy biến bậc 6. Cấu trúc vùng của các chất bán dẫn có cấu trúc zinc-blende và wurtzite [28] Trong hình 1. cho chúng ta thấy rằng các vùng bán dẫn khối trong cả hai cấu trúc tinh thể lập phương đều là hình lục giác. Đối với vùng hóa trị suy giảm spin bậc 4 có tổng mômen góc là J = 3/2 (mJ = ± 3/2; ± 1/2) và vùng hóa trị suy giảm spin bậc 2 có tổng mômen góc là J = 1/2 (mJ = ± 1/2) bởi sự kết hợp của mômen góc quỹ đạo l = 1 và mômen góc quay s = 1/2.
Với J = 3/2 và J = 1/2 tại k = 0 có sự tách biệt năng lượng của hai trạng thái trên do tương tác quỹ đạo spin-obital. Ba tiểu vùng được xác định là vùng lỗ trống nặng (HH), được phân tách bởi vùng trống nhẹ lỗ trống (LH) và vùng quỹ đạo spin (SO). Trong trường hợp bán dẫn quan sát được là hình lục giác, sự 6 bất đối xứng của trường tinh thể và cấu trúc mạng tinh thể làm tăng sự suy giảm của các tiểu vùng LH và HH tại k = 0. Các dịch chuyển quang học trong các nano tinh thể bán dẫn Do sự chuyển dời quang học giữa các mức từ hóa điện tử và lỗ trống mà dẫn tới sự hình thành nên các tính chất quang học của NC bán dẫn, được mô tả qua hình 1.
Các chuyển dời quang học giữa các mức năng lượng lượng tử hóa của điện tử và lỗ trống trong NC bán dẫn [41]. Các trạng thái từ hoá của electron và lỗ trống xác định bởi dấu biểu thị lượng tử mômen góc l, trong đó S (l = 0), P (l = 1) và D (l = 2).4, các trạng thái của các electron suy biến theo bậc 2 (2l + 1), với các trạng thái thấp nhất là 3 trạng thái của các electron gồm 1S, 1P và 1D. Ba trạng thái chuyển tiếp đầu tiên của lỗ là 1S3/2, 1P3/2 và 2S3/2. Số chỉ bên dưới cho biết cho tổng số lượng tử mômen góc F được tính toán từ công thức F = Lh + J với Lh là mô men góc của hàm bao còn J là mô men góc của hàm Bloch của lỗ trống.
Trạng thái suy biến của bậc được xác định có dạng (2F + 1). Để xác định năng lượng của quá trình chuyển đổi quang học, ta sử dụng quang phổ hấp thụ hoặc quang phổ kích thích huỳnh quang (PLE). Công nghệ chế tạo của nano tinh thể bán dẫn Người ta có thể sử dụng 2 phương pháp để chế tạo các NC bán dẫn đó là “bottom- up” (tiếp cận, xử lí từ dưới lên) phương pháp này dùng chất hóa học và “top-down” (tiếp cận, xử lí từ trên xuống) là phương pháp vật lí khi biến đổi các tinh thể khối thành các tinh thể có kích thước cỡ nano bằng việc nghiền nhỏ.Với phương pháp tiếp cận từ dưới lên được sử dụng khi NC bán dẫn có kích thước nhỏ, vì NC bán 7 dẫn lớn được tạo ra bằng cách thêm liên tục các nguyên tử riêng lẻ tới khi nào hình thành NC bán dẫn. Đối với phương pháp từ trên xuống, các tinh thể nano nhỏ thu được bằng cách cắt các tinh thể lớn.
Ưu điểm của phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” là có thể sản xuất ra một số lượng lớn các tinh thể với kích thước hạt cỡ nanomet, nhưng lại rất khó để có thể điều chỉnh kích thước và hình dạng của chúng. Nhưng với phương pháp “từ dưới lên” thì lại rất dễ dàng để khống chế kích thước và hình dạng của các tinh thể, nhưng số lượng hạt tạo ra lại không nhiều khi chỉ có thể tạo ra được một lượng hạt khá nhỏ tại một thời điểm. Hiện nay, đối với NC bán dẫn thì cách chế tạo được sử dụng phổ biến và dễ thực hiện đạt tỉ lệ thành công cao ở thời điểm hiện tại đó là phương pháp hóa ướt tạo ra các NC dạng huyền phù. Tuy nhiên, để tối ưu việc nghiên cứu và chế tạo NC thì từ khắp nơi trên thế giới và trong nước các nhà khoa học luôn không ngừng tìm kiếm sự cải tiến và hoàn thiện, đổi mới công nghệ.
Có hai giai đoạn phát triển NC đó là giai đoạn tạo mầm và phát triển tinh thể. Trong quá trình tạo mầm, nhân tinh thể được tạo ra ngay lập tức, tiếp theo là sự lớn lên của tinh thể, không còn nhân tinh thể nào được tạo ra nữa. Sự riêng biệt của quá trình tạo mầm và tăng trưởng tinh thể cho phép kiểm soát tối đa sự phân bố kích thước. Khi sự tạo mầm xảy ra liên tục trong quá trình điều chế các hạt NC làm cho sự phát triển tinh thể của các hạt là rất đa dạng dẫn tới việc điều chỉnh sự phân bố kích thước hạt sẽ gặp khó khăn.
Năng lượng cần thiết để bỏ sung cho sự tạo mầm được biểu diễn trong biểu đồ của La Mer (Hình 1. Sự thay đổi của độ quá bão hòa như một hàm của thời gian [45]. 8 Từ đồ thị trên ta có thể quan sát thấy rằng nồng độ monomer (các cation và anion trong dung dịch chưa tham gia phản ứng tạo mầm và phát triển tinh thể) thay đổi liên tục theo thời gian với chiều tăng dần. Trong giai đoạn I, thấy rằng ngay cả khi ở điều kiện quá bão hòa (S >1) sự kết tủa vẫn không xảy ra do năng lượng cần thiết để cung cấp sự tạo mầm là rất cao [45].
Còn với giai đoạn II thì quá trình tạo mầm đã xảy ra khi độ bão hòa là đủ lớn để vượt qua được giá trị tới hạn Sc. Nếu việc sử dụng monomer do quá trình tạo mầm và phát triển tinh thể vượt quá tốc độ cung cấp monomer sẽ dẫn tới nồng độ monomer giảm tới khi nào mà ở đó tốc độ tạo mầm (số mầm tạo ra trên một đơn vị thời gian) bằng 0.