CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về kim loại đồng 1. Cấu trúc tinh thể Đồng có cấu trúc mạng tinh thể lập phương tâm mặt (FCC) [38]. Thông số mạng: a: 361,49 pm α: 90,000 b: 361,49 pm β: 90,000 c: 361,49 pm γ: 90,000 1.
Tính chất vật lý của đồng Một số hằng số vật lý của đồng [38]: Tính chất chung Khối lượng riêng: 8920 kg/m3 Thể tích phân tử: 7,11 cm3/mol Vận tốc âm thanh: 3570 m/s Tính chất nhiệt Nhiệt độ nóng chảy: 1084,62oC Nhiệt độ sôi: 2927oC Tính chất đàn hồi Mô đun Young: 130 GPa Mô đun độ cứng: 48 GPa Mô đun khối: 140 GPa Tỷ số Poisson: 0,34 Độ cứng Độ cứng của khoáng: 3,0 Độ cứng Brinell: 874 MN/m2 z 3 Độ cứng Vicker: 369 MN/m2 Tính chất điện Điện trở suất: 1,72 10-8 Ωm Tính chất quang Hệ số phản xạ: 90% 1. Tính chất điện tử của đồng - Bán kính nguyên tử: 1,35 Å - Bán kính cộng hoá trị: 1,38 Å - Bán kính Van der Waals: 1,4 Å - Năng lượng ion hóa của kim loại phân nhóm 1B lớn hơn nhiều so với kim loại phân nhóm 1A do chịu ảnh hưởng của sự co d và sự tăng điện tích hạt nhân. Do đó chúng là kim loại kém hoạt động. Đồng trong nhóm 1B nên cũng là kim loại kém hoạt động [5].
- Đồng có 1 electron ở lớp ngoài cùng (4s1), ở lớp thứ hai kề từ ngoài vào có 18 electron. Lớp 18 electron này chưa hoàn toàn bền và ở cách xa nhân do sự xâm nhập của electron 4s, nên có khả năng cho đi số những electron đó. Vì thế, ngoài trạng thái oxy hóa dương +1, đồng còn có số oxy hóa + 2. Số oxy hóa +1 là bền nhất đối với đồng (do cấu hình 3d10) [5].
- Do đặc điểm cấu trúc electron của kim loại phân nhóm 1B có khả năng tạo thành các phần tử có 2 nguyên tử nên Cu2 (Ag2, Au2) có độ bền lớn hơn các phân tử K2, Rb2, Cs2 … Điều đó là do sự tạo thành kiên kết giữa các cặp electron (n-1)d của nguyên tử này và obitan p trống của nguyên tử kia [5]. Tính chất hóa học của kim loại đồng Đồng là kim loại kém hoạt động [5]. Ở nhiệt độ thường và trong không khí, đồng bị bao phủ một màng màu đỏ gồm đồng kim loại và đồng (I) oxít. Oxít này đã tạo nên bởi những phản ứng [5]: 2Cu + O2 + 2H2O → 2Cu(OH)2 (1.1) z 4 Cu(OH)2 + Cu → Cu2O + H2O (1.2) Nếu trong không khí có mặt khí CO2, đồng bị bao phủ dần bởi một lớp màu lục gồm cacbonat bazơ Cu(OH)2CO3 (rỉ đồng này thường gọi là tanh đồng).
Khi đun nóng trong không khí ở nhiệt độ 130oC, đồng tạo nên ở trên bề mặt màng Cu2O, ở 200oC tạo nên lớp gồm hỗn hợp oxít Cu2O và CuO và ở nhiệt độ nóng đỏ, đồng cháy tạo nên CuO và cho ngọn lửa màu lục [5]. Ở nhiệt độ thường, đồng không tác dụng với flo bởi vì màng CuF2 tạo nên rất bền sẽ bảo vệ đồng. Đồng tan trong các dung dịch xyanua kim loại kiềm khi có mặt oxy. Đồng tan dễ dàng trong HNO3 và H2SO4 đặc nóng.
Không tan trong H2SO4 loãng. Ngày nay trong ngành chế tạo hạt nano kim loại, các nhà khoa học đang có xu hướng nghiên cứu hệ chất bảo vệ giúp cho hệ nano đồng tạo ra bền với môi trường và có tính ổn định, không bị oxy hóa. Vai trò sinh học của kim loại đồng Đồng là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động, thực vật bậc cao. Đồng được tìm thấy trong một số loại enzym, bao gồm nhân đồng của cytochrom C oxidas, enzym chứa Cu-Zn superoxid dismutas và nó là kim loại trung tâm của chất chuyên chở oxy hemocyanin.
Máu của cua móng ngựa (cua vua) Limulus polyphemus sử dụng đồng thay vì sắt để chuyên chở oxy [29]. Theo tiêu chuẩn RDA của Mỹ về đồng đối với người lớn khỏe mạnh là 0,9 mg/ngày [28]. Đồng được vận chuyển chủ yếu trong máu bởi protein trong huyết tương gọi là ceruloplasmin. Đồng được hấp thụ trong ruột non và được vận chuyển tới gan bằng liên kết với albumin [30].
Một bệnh gọi là bệnh Wilson sinh ra bởi các cơ thể mà đồng bị giữ lại, mà không tiết ra bởi gan vào trong mật. Căn bệnh này, nếu không được điều trị có thể dẫn tới các tổn thương não và gan [31]. z 5 Các nghiên cứu cũng cho thấy một số người mắc bệnh về thần kinh như bệnh schizophrenia có nồng độ đồng cao hơn trong cơ thể. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ mối liên quan của đồng với bệnh này như thế nào (là do cơ thể cố gắng tích lũy đồng để chống lại bệnh hay nồng độ cao của đồng là do căn bệnh này gây ra) [30].
Tổng quan về hạt nano kim loại 1. Tính chất hạt nano kim loại Những tính chất của hạt nano xuất hiện là do hệ quả của hiệu ứng cầm tù lượng tử và sự cân xứng cao của bề mặt các nguyên tử - những điều này phụ thuộc trực tiếp vào kích thước hạt nano. Sự điều chỉnh kích thước của hạt nano có thể dẫn tới những thay đổi về tính chất của các hạt, đây là nguyên nhân và chủ đề của nhiều nghiên cứu. Khác với vật liệu khối, hạt nano có khả năng thay đổi những tính chất như điện, từ và quang học theo đường kính hạt.
Sự xuất hiện những hiệu ứng này bởi những mức năng lượng không giống nhau của các hạt nhỏ trong vật liệu khối, nhưng riêng rẽ, bởi hiệu ứng giam cầm điện tử. Những tính chất vật lý của hạt nano vì thế được xác định bởi kích thước của các hạt [13]. Plasmon bề mặt Các hạt nano kim loại có thể có phổ hấp thụ với đỉnh hấp thụ giống với của các hạt nano bán dẫn. Tuy nhiên, sự hấp thụ này không bắt nguồn từ sự chuyển tiếp các trạng thái năng lượng điện tử, thay vào đó hạt ở nano kim loại là phương thức tập hợp của các di chuyển đám mây điện tử bị kích thích.
Dưới tác động của điện trường, có sự kích thích plasmon các electron tại bề mặt các hạt. Sự cộng hưởng này xảy ra tại tần số của ánh sáng tới và kết quả là sự hấp thụ quang học. Hiện tượng này gọi là bề mặt plasmon (surfae plasmon) hay hấp thụ cộng hưởng plasma (plasma resonance absorption), vùng bề mặt plasmon (localized surface plasmons). Khi kích thước hạt giảm, các electron tự do bắt đầu tương tác với ranh giới của các hạt.
Khi các hạt nano kim loại bị tác động bởi ánh sáng, điện trường của ánh sáng tới gây ra sự dao động mạnh của các điện tử tự do (các electron dẫn). Đối với các hạt nano có kích thước nhỏ hơn đáng kể so với bước sóng của ánh sáng, sự hấp thụ xảy ra trong phạm vị bước sóng hẹp, dải plasmon [13]. z 6 Độ rộng, vị trí, và cường độ của sự tương tác plasmon biểu lộ bởi hạt nano phụ thuộc: - Hằng số điện môi của kim loại và vật liệu nền. - Kích thước và hình dạng hạt.
- Sự tương tác giữa các hạt và chất nền. - Sự phân bố của các hạt trong chất nền. Sự dao động plasmon của các hạt hình cầu dưới tác động của điện trường ánh sáng [13] Do ảnh hưởng của các yếu tố trên, nên một số tính chất mong muốn của vật liệu có thể được điều khiển. Các kim loại khác nhau sẽ có sự tương tác tương ứng vì thế màu sắc sẽ khác nhau.
Sự triệt tiêu của ánh sáng bởi hạt nano kim loại xảy ra theo cả cơ chế phân tán và hấp thụ, nhưng cơ chế hấp thụ xảy ra rõ hơn nhiều với hạt có kích thước nhỏ hơn 20nm. Các hạt nano thường được biết đến với sự tạo hỗn hợp với thủy tinh hay cao su, thể hiện ra như màu đỏ của vàng hay màu vàng của bạc. Ngày nay, hầu hết việc nghiên cứu và sử dụng đều tập trung vào nano vàng và nano bạc. Bởi chúng thể hiện rõ ràng nhất hiệu ứng Plasmon và cả hai cùng có phổ hấp thụ trong vùng nhìn thấy.
Tăng kích thước hạt hay tăng hằng số điện môi của dung dịch, nguyên nhân của dịch chuyển đỏ (red shift) của sự hấp thụ plasmon [13]. Vị trí của đỉnh hấp thụ trong chấm lượng tử được dịch chuyển khá rõ khi chỉ thay đổi một thông số đường kính ở phạm vi nano. Đối với hạt nano kim loại sự dịch chuyển vị trí của các đỉnh là rất nhỏ với các hạt kích thước bé (<25nm trường hợp vàng). Đối với hạt lớn hơn (>25nm trường hợp vàng) sự dịch chuyển đỏ của vị trí cộng hưởng plasmon là đáng kể hơn [13].
Quang học và lượng tử Vật liệu nano tương tác với ánh sáng khác so với vật liệu khối. Những vật liệu với sự sắp xếp trong phạm vi kích cỡ nano thì giá trị đường kính sẽ tương đương hay nhỏ hơn bước sóng ánh sáng. Nếu vật liệu có đường kính gần với bước sóng ánh sáng, và được bao bọc bởi chất nền với chỉ số khúc xạ khác nhau, khi đó ánh sáng với bước sóng thích hợp sẽ bị phân tán (scatter). Nguyên nhân của hiệu ứng này là lớp dầu mỏng bị kéo căng qua bề mặt của nước hình thành các mầu sắc khác nhau.
Hiệu ứng này được sử dụng trong vật liệu quang học như tinh thể photon (photonic crystals), mà được thiết kế với các pha có các chỉ số khúc xạ khác nhau, đường kính đặc trưng, cấu trúc như mong đợi để tạo ra sản phẩm mong muốn tương tác với ánh sáng [13]. Trong trường hợp vật liệu có sự phân chia các pha nhỏ hơn đáng kể so với bước sóng ánh sáng, hiệu ứng này không xảy ra. Thay vào đó hai pha thể hiện như một vật liệu riêng biệt có liên quan tới sự truyền ánh sáng. Vì thế, những vật liệu trong suốt được thêm vào những hạt nano vẫn có thể trong suốt với ánh sáng cho dù hạt nano được hình thành từ những vật liệu mờ đục hay phản chiếu.
Các compozit, vật liệu trong suốt, hạt vô cơ,… ở kích thước micro thường là mờ đục. Ánh sáng khuyếch tán là nguyên nhân gây mờ đục, bị triệt tiêu bởi những vật liệu với chỉ số khúc xạ phù hợp hay sự giảm đường kính của chất độn ở kích thước nhỏ hơn 50nm. Theo đó các nanocompozit khi được thêm vào các hạt nano có thể hoạt động như là vật liệu đồng nhất với các tính chất thay đổi. Thay vì phân tán ánh sáng, sự kết hợp các chỉ số khúc xạ của các hạt nano và vật liệu nền được tạo ra.