Luận án về chế tạo và tính chất quang của nano tinh thể CdTeSe và curcumin trong quang điện

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu chế tạo và tính chất quang của các nano tinh thể cdtese và curcumin định hướng, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Viện Khoa Học Vật Liệu

Chuyên ngành

Vật Liệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2017

149
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NANO TINH THỂ BÁN DẪN, CHẤT MÀU TỰ NHIÊN CURCUMIN VÀ PIN MẶT TRỜI DÙNG CHẤT NHẠY SÁNG

1.1. Các nano tinh thể bán dẫn là các chấm lượng tử và chấm lượng tử hợp kim ba thành phần

1.2. Cấu trúc điện tử và tính chất quang của các chấm lượng tử

1.2.1. Cấu trúc điện tử cơ bản của các QD

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHẾ TẠO

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ QD

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CURCUMIN

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nano tinh thể CdTeSe và curcumin

Nghiên cứu về nano tinh thể CdTeSe và curcumin trong ứng dụng quang điện đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong ngành năng lượng tái tạo. CdTeSe là một loại vật liệu nano tinh thể có khả năng hấp thụ ánh sáng tốt, trong khi curcumin là một chất màu tự nhiên có nguồn gốc từ củ nghệ vàng. Việc kết hợp hai loại vật liệu này có thể tạo ra những ứng dụng mới trong lĩnh vực quang điện. Nghiên cứu này không chỉ nhằm cải thiện hiệu suất của các loại pin mặt trời mà còn hướng đến việc sử dụng các nguyên liệu tự nhiên, góp phần vào sự phát triển bền vững. Theo các nghiên cứu trước đây, hiệu suất chuyển đổi năng lượng của pin mặt trời sử dụng curcumin còn thấp, chỉ đạt khoảng 0,41%. Tuy nhiên, việc sử dụng nano tinh thể CdTeSe có thể nâng cao hiệu suất này nhờ vào khả năng hấp thụ ánh sáng tốt hơn.

1.1. Tính chất quang học của nano tinh thể CdTeSe

Các nano tinh thể CdTeSe có cấu trúc điện tử đặc biệt, cho phép chúng có tính chất quang học vượt trội. Hiệu ứng kích thước lượng tử làm cho các mức năng lượng của CdTeSe trở nên nhạy cảm với kích thước của hạt. Khi kích thước giảm xuống cỡ nano mét, độ rộng vùng cấm của CdTeSe tăng lên, dẫn đến khả năng hấp thụ ánh sáng tốt hơn. Nghiên cứu cho thấy rằng việc điều chỉnh kích thước và thành phần của nano tinh thể có thể tối ưu hóa tính chất quang học của chúng, từ đó nâng cao hiệu suất của các linh kiện quang điện. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng hiệu suất chuyển đổi của pin mặt trời sử dụng CdTeSe có thể đạt tới 11%, nhờ vào khả năng hấp thụ ánh sáng trong vùng hồng ngoại gần.

1.2. Ứng dụng của curcumin trong quang điện

Curcumin, một chất màu tự nhiên, đã được nghiên cứu như một chất nhạy sáng trong các loại pin mặt trời. Mặc dù hiệu suất của pin mặt trời sử dụng curcumin còn thấp, nhưng việc sử dụng chất màu tự nhiên này có thể mang lại nhiều lợi ích về mặt môi trường. Nghiên cứu cho thấy rằng curcumin có thể được chiết tách từ củ nghệ vàng và có khả năng hấp thụ ánh sáng tốt. Việc kết hợp curcumin với các nano tinh thể như CdTeSe có thể tạo ra một loại pin mặt trời mới với hiệu suất cao hơn. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng hiệu suất của pin mặt trời sử dụng curcumin có thể đạt tới 0,41%, mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các loại pin mặt trời thân thiện với môi trường.

II. Phương pháp nghiên cứu và chế tạo

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp chế tạo hiện đại để tạo ra nano tinh thể CdTeSe và chiết tách curcumin từ củ nghệ vàng. Các nano tinh thể được chế tạo trong môi trường ODE-OA với nhiệt độ tối ưu là 260°C. Phương pháp tán xạ Raman được sử dụng để khảo sát sự biến đổi thành phần của CdTeSe trong quá trình chế tạo. Việc bọc vỏ cho các nano tinh thể cũng được thực hiện nhằm nâng cao hiệu suất quang học. Các mẫu curcumin được chiết tách và phân tích bằng phương pháp XRD và phổ Raman để xác định tính chất quang học và cấu trúc tinh thể. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra điều kiện tối ưu cho việc chế tạo và khảo sát tính chất quang của các vật liệu này.

2.1. Chế tạo nano tinh thể CdTeSe

Quá trình chế tạo nano tinh thể CdTeSe được thực hiện bằng phương pháp hóa học, trong đó các thành phần được trộn lẫn và gia nhiệt trong môi trường ODE-OA. Nhiệt độ chế tạo được điều chỉnh để tối ưu hóa kích thước và tính chất quang học của CdTeSe. Kết quả cho thấy rằng việc điều chỉnh nhiệt độ và tỷ lệ các thành phần có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc và tính chất quang của nano tinh thể. Các mẫu được phân tích bằng kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) và phương pháp tán xạ Raman để xác định kích thước và cấu trúc của chúng.

2.2. Chiết tách curcumin từ củ nghệ vàng

Quá trình chiết tách curcumin từ củ nghệ vàng được thực hiện bằng phương pháp chiết xuất dung môi. Các mẫu curcumin sau khi chiết tách được phân tích bằng phương pháp XRD để xác định cấu trúc tinh thể và phổ Raman để khảo sát tính chất quang học. Nghiên cứu cho thấy rằng curcumin có thể được chiết tách hiệu quả từ củ nghệ vàng và có tính chất quang học tốt, phù hợp để sử dụng trong các ứng dụng quang điện. Việc sử dụng curcumin như một chất nhạy sáng trong pin mặt trời có thể mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các loại pin mặt trời thân thiện với môi trường.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng nano tinh thể CdTeSe và curcumin trong pin mặt trời có thể nâng cao hiệu suất chuyển đổi năng lượng. Các mẫu CdTeSe được chế tạo có kích thước đồng đều và tính chất quang học tốt, cho phép chúng hấp thụ ánh sáng hiệu quả. Hiệu suất chuyển đổi của pin mặt trời sử dụng curcumin cũng đã được cải thiện, đạt giá trị 0,4%. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin mới về tính chất quang của nano tinh thể mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các loại pin mặt trời sử dụng nguyên liệu tự nhiên.

3.1. Đánh giá hiệu suất của pin mặt trời

Hiệu suất chuyển đổi của pin mặt trời sử dụng nano tinh thể CdTeSe và curcumin đã được đánh giá thông qua các phép đo đường đặc trưng J-V. Kết quả cho thấy rằng pin mặt trời sử dụng CdTeSe có hiệu suất cao hơn so với pin sử dụng curcumin đơn thuần. Việc kết hợp hai loại vật liệu này có thể tạo ra một loại pin mặt trời mới với hiệu suất cao hơn, mở ra cơ hội cho việc phát triển các ứng dụng quang điện bền vững.

3.2. Tính khả thi và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này chứng minh rằng việc sử dụng nano tinh thể CdTeSe và curcumin trong pin mặt trời không chỉ khả thi mà còn có tiềm năng ứng dụng cao. Việc phát triển các loại pin mặt trời sử dụng nguyên liệu tự nhiên như curcumin có thể góp phần vào sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Các kết quả nghiên cứu mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các công nghệ năng lượng tái tạo, đặc biệt là trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NANO TINH THỂ BÁN DẪN, CHẤT MÀU TỰ NHIÊN CURCUMIN VÀ PIN MẶT TRỜI DÙNG CHẤT NHẠY SÁNG 1. Các nano tinh thể bán dẫn là các chấm lượng tử và chấm lượng tử hợp kim ba thành phần 1. Cấu trúc điện tử và tính chất quang của các chấm lượng tử 1. Cấu trúc điện tử cơ bản của các QD Các tinh thể bán dẫn có kích thước cỡ nano mét (chứa tương ứng từ vài trăm tới vài nghìn nguyên tử) khi có hiệu ứng giam giữ lượng tử thì được gọi là các nano tinh thể bán dẫn hay còn được gọi là chấm lượng tử [36].

Xét về mặt hóa học, các QD có thể được xem như các phân tử lớn, còn vật lý chất rắn thì xem chúng như các tinh thể bán dẫn nhỏ [37]. Các QD có kích thước nằm giữa phân tử và tinh thể khối, và có các tính chất vật lý đặc trưng theo kích thước nm của chúng [36]. Phổ hấp thụ của QD là phổ rộng và bền quang, tương tự như tinh thể bán dẫn khối. Thêm vào đó, giống như phân tử chất màu, QD có hiệu suất huỳnh quang cao và phổ hấp thụ có thể trải rộng đến hồng ngoại [38].

Điểm khác chất màu là các tính chất quang của các QD đặc biệt nhạy với kích thước của hạt [39]. Điều này cho phép chúng ta kiểm soát được các tính chất quang của QD một cách đơn giản thông qua sự thay đổi kích thước của chúng. Các QD vừa giống phân tử, vừa giống vật liệu khối nên có thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau để hiểu về các trạng thái năng lượng của các QD. Về mặt chế tạo, có thể dùng quan điểm “bottom- up” (từ dưới lên), trong đó các QD lớn được “xây” từ sự thêm liên tiếp các nguyên tử riêng biệt cho tới khi hình thành lõi QD.

Cách này phù hợp cho việc chế tạo các QD kích thước nhỏ [38]. Mặt khác, cũng có thể tiếp cận theo cách “top-down” (từ trên xuống), khi này các nano tinh thể nhỏ nhận được từ việc chia cắt các phiến tinh thể kích thước lớn. Trong tinh thể khối, sự kết hợp của rất nhiều orbital nguyên tử trong tinh thể (trên thực tế là vô cùng lớn) dẫn tới sự phân bố liên tục của các mức năng lượng, tạo thành các vùng năng lượng (hình 1. Khi kích thước tinh thể giảm đến cỡ nm, khoảng cách giữa các mức năng lượng nằm trong một vùng năng lượng tăng lên đáng kể, nên chúng không thể được 10 coi là phân bố liên tục nữa.

Ngoài ra, độ rộng vùng cấm nằm giữa hai vùng năng lượng được phép cũng tăng lên [40, 41]. Sơ đồ minh họa sự hình thành các vùng năng lượng từ các quỹ đạo nguyên tử cho nguyên tố được giả định M. Khi số nguyên tử tăng lên, khoảng cách giữa các mức năng lượng giảm đi. Trong một tinh thể vĩ mô, chứa ~1023 nguyên tử, khoảng cách giữa các mức năng lượng là đủ nhỏ mà có thể được coi một dải năng lượng liên tục [41].

Tính chất quang phụ thuộc vào kích thước đã được phát hiện ra từ những năm 1980 một cách độc lập trong hai loại vật liệu khác nhau: trong thủy tinh pha các QD bởi nhóm Ekimov và trong dung dịch huyền phù chứa các QD bởi nhóm Henglein. Cả hai nghiên cứu này đều chỉ ra rằng màu sắc của các QD phụ thuộc mạnh vào kích thước của chúng [42]. Phổ hấp thụ và huỳnh quang của QD phụ thuộc vào kích thước, được xác định bởi hiệu ứng kích thước lượng tử. Hiệu ứng này làm thay đổi cơ bản toàn bộ phổ năng lượng của các giả hạt bị giam giữ theo cả ba chiều.

Cả hai tính chất quang tuyến tính và quang phi tuyến của QD là kết quả của các chuyển dời giữa các mức điện tử và lỗ trống bị lượng tử hóa do kích thước. Trong một QD được bao xung quanh bởi hàng rào thế năng cao vô hạn, năng lượng của các mức lượng tử của điện tử và lỗ trống được xác định bởi số lượng tử quỹ đạo l, có thể được viết trong phép gần đúng dưới dạng parabol [43, 44]: , ℏ , , = .1) , Ở đây: me,h là khối lượng hiệu dụng của điện tử và lỗ trống tương ứng, 11 R là bán kính của nano tinh thể, l,n là nghiệm thứ n của hàm Bessel cầu bậc l; jl(l,n ) = 0 (bốn nghiệm thấp nhất là ϕ0,0 = π, ϕ1,0 ≈ 4,49 ϕ2,0 = 5,76 & ϕ0,1 = 2π). Năng lượng của các mức lượng tử thấp nhất của điện tử và lỗ trống tăng khi kích thước của QD giảm, và bởi vậy, làm tăng năng lượng tổng cộng của các chuyển dời quang ở bờ vùng. Ví dụ, trong các QD CdSe, sự gia tăng của độ rộng vùng cấm có thể đạt tới 1,2 eV.

Bằng cách thay đổi kích thước QD, chúng ta có thể thay đổi năng lượng vùng cấm của vật liệu này từ 1,73 eV (giá trị Eg của bán dẫn khối) lên tới 3 eV, bao phủ toàn bộ vùng ánh sáng nhìn thấy của phổ quang học [45]. Tuy nhiên, tương tác Coulomb giữa điện tử và lỗ trống được tạo ra do kích thích quang có ảnh hưởng lớn tới phổ quang học. Tương tác này phải luôn được tính đến bởi vì cả hai hạt này đều bị giam giữ trong cùng một thể tích tinh thể nhỏ. Năng lượng Coulomb của tương tác điện tử và lỗ trống vào cỡ e2/εR, với ε là hằng số điện môi của bán dẫn.

Vì năng lượng lượng tử hóa tăng khi kích thước giảm tỷ lệ với 1/R2, trong khi đó năng lượng Coulomb chỉ tăng tỷ lệ với 1/R, nên trong các tinh thể nhỏ năng lượng Coulomb trở thành một bổ chính nhỏ đối với năng lượng lượng tử hóa của điện tử và lỗ trống, làm giảm một lượng nhỏ năng lượng chuyển dời. Mặt khác, trong các QD lớn, tương tác Coulomb quan trọng hơn năng lượng lượng tử hóa của điện tử và lỗ trống. Phân tích lý thuyết cho thấy rằng, các tính chất quang của QD phụ thuộc mạnh vào tỷ số của bán kính QD (R) với bán kính Bohr của exciton trong ℏ bán dẫn khối = , với µ là khối lượng rút gọn của exciton [44].2) Trong vật liệu bán dẫn khối, các điện tử trong vùng dẫn và các lỗ trống trong vùng hoá trị chuyển động tự do trong tinh thể. Do lưỡng tính sóng-hạt, chuyển động của các hạt tải điện có thể được mô tả bằng tổ hợp tuyến tính của các sóng phẳng có bước sóng vào cỡ nm.

Nếu kích thước của khối bán dẫn giảm xuống, xấp xỉ giá trị của các bước sóng này, thì hạt tải điện bị giam trong khối kích thước nm3 này sẽ thể hiện tính chất giống như một hạt chuyển động trong một hộp thế năng (hình 1. Nghiệm của phương trình Schrodinger trong trường hợp này là các sóng dừng bị giam trong giếng thế và năng lượng tương ứng với hai hàm sóng riêng biệt. a) Các nghiệm hàm sóng (x) đối với bài toán một hạt trong một hộp 1D. b) Sơ đồ lượng tử hóa các mức năng lượng trong các nano tinh thể bán dẫn, với sự tăng độ rộng vùng cấm khi kích thước hạt giảm.

Các mức năng lượng được lượng tử hóa của các điện tử và các lỗ trống gần bờ vùng chất bán dẫn là kết quả trong việc độ rộng vùng cấm phụ thuộc kích thước đối với các QD (hình 1.2b), ở đó độ rộng vùng cấm tăng cho các hạt nhỏ hơn và năng lượng tăng lên đối với các vùng giam giữ nhỏ hơn. Rất nhiều thí nghiệm quang phổ đã thực hiện để hiểu chi tiết mối quan hệ giữa các mức năng lượng điện tử trong phạm vi các trạng thái bên trong các vùng như được gợi ý trên hình 1.2, chuyển dời giữa các mức giữa các vùng và trong một vùng của các vật liệu QD. Khi phân tích số liệu thực nghiệm, các chế độ giam giữ khác nhau của hạt tải cần xét đến. Trong các nghiên cứu lý thuyết [37, 47], ba chế độ giam giữ lượng tử đã được đề cập đến, tùy thuộc vào kích thước của QD: R >> aB , R ~ aB và R << aB Các chế độ này được gọi tương ứng là giam giữ yếu, giam giữ trung gian và giam giữ mạnh.

a) Chế độ giam giữ yếu Trong trường hợp R >> aB , năng lượng liên kết của exciton lớn hơn năng lượng lượng tử của cả điện tử và lỗ trống nên phổ quang học của nano tinh thể được xác 13 định bởi sự giam giữ lượng tử của khối tâm exciton. Năng lượng chuyển dời quang học thấp nhất được cho bởi [44]: ℏ ℏ = − + (1.3) ở đây M = me + mh, Eg là độ rộng vùng cấm, Eex là năng lượng liên kết exciton. Trường hợp này gọi là chế độ giam giữ lượng tử yếu và có thể quan sát được trong các nano tinh thể có kích thước đủ lớn. b) Chế độ giam giữ trung gian Trong trường hợp R~ aB , lỗ trống chuyển động với thế năng trung bình của điện tử nhanh nhất và bị định xứ tại tâm của nano tinh thể.

Do điện tử chuyển động nhanh hơn rất nhiều, vì vậy, lỗ trống gần như được định xứ ở tâm của nano tinh thể. Lỗ trống chuyển động xung quanh tâm của tinh thể trong phạm vi nhỏ hơn rất nhiều so với bán kính của nano tinh thể. Trạng thái cơ bản của exciton phụ thuộc vào kích thước có thể được mô tả giống như một donor định xứ tại tâm nano tinh thể. c) Chế độ giam giữ mạnh Trường hợp này tương ứng với các nano tinh thể kích thước nhỏ, ≪.

Với những loại tinh thể này, phổ quang học có thể được xem như phổ chuyển dời giữa các mức năng lượng lượng tử của điện tử và lỗ trống. Tương tác Coulomb giữa điện tử và lỗ trống làm giảm năng lượng của các chuyển dời này một chút. Quy tắc chọn lọc chi phối chuyển dời vùng - vùng giữa các mức lượng tử phụ thuộc kích thước của vùng dẫn và vùng hoá trị có dạng parabol, là rất đơn giản: chuyển dời chỉ được phép giữa các mức có cùng số lượng tử. Năng lượng của đỉnh hấp thụ thứ nhất, phụ thuộc vào kích thước, có thể được viết theo công thức dưới dạng (Effros, Brus và Kayanuma) [47], như sau: 2 1 1 2 e2 * E (R)  Eg  ( *  * ) 2  1, 786  0, 248 E Ry (1.4) 2 me m h R R Số hạng thứ hai là động năng chứa các khối lượng hiệu dụng me và mh của điện tử và lỗ trống tương ứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Luận án về chế tạo và tính chất quang của nano tinh thể CdTeSe và curcumin trong quang điện" nghiên cứu về việc chế tạo và đánh giá các tính chất quang của nano tinh thể CdTeSe và curcumin, với mục tiêu ứng dụng trong lĩnh vực quang điện. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vật liệu nano mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các thiết bị quang điện hiệu quả hơn. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về quy trình chế tạo, tính chất quang học và tiềm năng ứng dụng của các vật liệu này trong công nghệ hiện đại.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến vật liệu nano và ứng dụng của chúng, hãy khám phá thêm về Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman, nơi nghiên cứu về các cấu trúc nano trong lĩnh vực điện tử. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tham khảo Luận án tiến sĩ: Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride, một nghiên cứu khác về tính chất quang học của vật liệu nano. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về ứng dụng của vật liệu carbon trong công nghệ hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các ứng dụng của vật liệu nano trong khoa học và công nghệ.