CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tính chất quang của các cấu trúc nano bạc 1. Các cấu trúc nano bạc Vật liệu nano là một loại vật liệu mới có cấu trúc các hạt, các sợi, các ống, các tấm mỏng,…có khả năng ứng dụng trong sinh học vì kích thước của chúng so sánh được với kích thước của tế bào khoảng từ 1 nanômét đến 100 nanômét. Các hạt nano này thể hiện các tính chất khác biệt hoặc nổi bật hơn so với vật liệu khối.
Tính chất khác biệt đó được thể hiện ở hai hiệu ứng: Hiệu ứng kích thước và hiệu ứng bề mặt. Do kích thước các hạt nhỏ nên tổng diện tích bề mặt của hạt rất lớn, làm cho tỷ lệ các nguyên tử ở bề mặt so với tổng số các nguyên tử của hạt cao. Vì vậy các cấu trúc nano kim loại nói chung và cấu trúc nano bạc nói riêng thể hiện hiệu ứng bề mặt đặc trưng, gây ra nhiều tính chất độc đáo riêng có của chúng. Ta có thể phân loại vật liệu nano nói chung theo hình dạng của chúng: Vật liệu nano không chiều là vật liệu có cả 3 chiều có kích thước nanomet (ví dụ: đám nano, hạt nano cầu, chấm lượng tử), vật liệu nano một chiều là loại vật liệu có 2 chiều có kích thước nanomet (ví dụ: dây nano, ống nano), vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó có 1 chiều có kích thước nanomet (ví dụ: màng mỏng, đĩa).
Các cấu trúc nano bạc có thể có nhiều hình dạng khác nhau như dạng cầu, tam giác, thanh, đĩa,…có thể được tổng hợp theo phương pháp “top – down” từ các vật liệu khối hoặc theo phương pháp “bottom – up” từ các tiền chất chứa ion Ag + như AgNO3. Phương pháp “top – down” liên quan đến các quá trình vật lý với các quy trình được kiểm soát bởi các thông số thí nghiệm bên ngoài để tạo ra các cấu trúc kích thước nano bắt đầu từ kích thước lớn hơn đến phạm vi nanomet. Trong khi các phương pháp “bottom – up” sử dụng các nguyên tử hoặc các phân tử như là vật liệu xây dựng để tạo thành các cấu trúc nano khác nhau. Phương pháp này không tạo ra các chất thải hoặc các sản phẩm phụ vì mà dễ dàng kiểm soát được hình dạng và kích thước của các cấu trúc nano.
Điều này có thể đạt được bằng cách kiểm soát quá trình kết tủa (hoặc kết tinh) và bay hơi từ tiền chất. Nói chung, kỹ thuật từ trên xuống tạo ra các cấu trúc nano chủ yếu là tinh thể nhưng đòi hỏi phải có năng lượng hoặc áp suất cao, và các quy trình sản xuất phải cực kì nghiêm ngặt để sản phẩm không bị nhiễm bẩn. Ngược lại, các quá 4 trình từ dưới lên liên quan đến sự hòa tan, tiếp theo là kết tủa hoặc làm khô. Do đó, đầu vào năng lượng cơ học là tối thiểu, và các cấu trúc nano thu được có thể kết tinh hoặc vô định hình, tùy thuộc vào điều kiện tổng hợp.
Các cấu trúc nano bạc có tính năng độc đáo, hiệu ứng bề mặt làm cho các đặc tính cơ học, điện từ, hóa học và quang học của chúng khác xa với kim loại bạc khối. Các đặc tính của nano bạc thay đổi mạnh mẽ ở kích thước nanomet. Hiện tượng nổi bật nhất gặp phải trong các cấu trúc nano bạc là hiện tượng cộng hưởng điện từ của các dao động tập thể của các điện tử dẫn trên bề mặt hạt đưới tác dụng của ánh sáng kích thích được gọi là hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt [3]. Với tần số cộng hưởng plasmon nằm trong vùng ánh sáng khả kiến nên các cấu trúc nano bạc thể hiện được các hiệu ứng về màu sắc.
Vì vậy, chúng mang lại nhiều ứng dụng trong cả khoa học kĩ thuật cũng như y- sinh học [16]. Tính chất quang của các hạt nano bạc phụ thuộc rất nhiều vào hình dạng cũng như cấu trúc của chúng. Trong thực tế, có rất nhiều nghiên cứu đã tổng hợp được các hạt nano bạc với các cấu trúc khác nhau. Chẳng hạn: Nano bạc dị hướng [8], nano bạc hình cầu, và một số dạng cấu trúc khác bao gồm khối, đĩa, lăng kính, que, dây, thanh [55].
Ảnh TEM của các cấu trúc nano bạc với hình dạng khác nhau [32] 1. Lý thuyết Mie-Gans Lý thuyết Mie giải thích được các tính chất quang của các hạt nano kim loại phụ thuộc vào kích thước của hạt. Để giải thích được các tính chất quang của các hạt nano kim loại, Mie đã giải bài toán tán xạ của sóng điện từ trên một hạt cầu kim loại với giả 5 thiết là các hạt và môi trường xung quanh nó là đồng nhất và được mô tả bằng các hàm điện môi quang học khối bằng cách sử dụng các phương trình Maxwell với điều kiện biên thích hợp trong tọa độ cầu. Điều kiện biên được xác định bởi tính gián đoạn rõ nét của mật độ điện tử tại bề mặt của hạt bán kính R.
Kích thước hạt, các hàm quang học của hạt và hàm điện môi của môi trường xung quanh được sử dụng như là các thông số đầu vào [2]. Khi kích thước của hạt cầu nhỏ hơn nhiều so với bước sóng ánh sáng (2R << , với R là bán kính hạt và là bước sóng của ánh sáng trong môi trường), điện trường của ánh sáng có thể được coi là không đổi và tương tác bị chi phối bởi trường tĩnh điện hơn là điện động lực học. Khi đó, plasmon của một hạt nano kim loại được xem là một dao động lưỡng cực có tần số plasmon phụ thuộc vào hằng số điện môi của chúng. Do hằng số điện môi của hạt kim loại ( ) và hằng số điện môi của môi trường xung quanh (m) phụ thuộc vào bước sóng, nên trong trường hợp này người ta gọi là gần đúng giả tĩnh (quasi-static).
Trong chế độ giả tĩnh, các dịch chuyển pha hay các hiệu ứng trễ của trường điện động là không đáng kể, trường điện từ trong hạt là đồng nhất. Nếu 2R >> , trường điện từ trong hạt là không đồng nhất, sẽ có sự dịch pha dẫn tới kích thích dao động đa cực. Kết quả là lý thuyết này đã tìm ra được tiết diện dập tắt (extinction), bao gồm cả tiết diện tán xạ (scattering) và tiết diện hấp thụ (absorption) của hạt như sau [5]: 2 σ ext = 2j + 1 Re a j + b j x2 j = 1 (1.2) abs = ext - sca (1.3) 2πRn m 2πRn m Với x =được cho bởi: x = ` ω ω (1.4) 6 Trong đó R là bán kính hạt, là tần số góc của ánh sáng tới trong chân không, aj và bj là các hệ số tán xạ, nm là chiết suất thực của môi trường xung quanh, j là chỉ số tổng hợp của các sóng từng phần: j = 1 tương ứng với dao động lưỡng cực, j = 2 tương ứng với dao động tứ cực… Khi kích thước hạt rất nhỏ hơn so với bước sóng của ánh sáng kích thích (2R << ), thì dao động của điện tử được xem là dao động lưỡng cực và tiết diện dập tắt được viết dưới dạng đơn giản [2]: ω 3/2 ε2 ω σext = 9 εm V (1.5) ε1 ω + 2εm + ε2 ω 2 2 c Trong đó V là thể tích hạt cầu, c là vận tốc ánh sáng, là tần số góc của ánh sáng kích thích, m là hằng số điện môi của môi trường quanh hạt và () = 1() + i2() là hàm điện môi của hạt. Ở đây, m được coi là không phụ thuộc tần số của ánh sáng tới, còn () là một hàm phức của năng lượng.
Hiện tượng cộng hưởng plasmon xảy ra khi 1() = -2m nếu 2 là nhỏ và phụ thuộc yếu vào . Điều này có nghĩa là tiết diện dập tắt của hạt lớn nhất khi ánh sáng truyền toàn bộ năng lượng của nó cho hạt để kích thích plasmon. Từ lý thuyết Mie người ta có thể tính được tán xạ sca và tiết diện hấp thụ, 𝜎𝑎𝑏𝑠 của một hạt như sau: 2 m 𝑠𝑐𝑎 = 512 k 4 R 6 (1.7) 𝜀+2𝜖𝑚 Trong đó, k là số sóng, R là bán kính hạt.7) cho thấy tiết diện tán xạ của một hạt tỉ lệ với 𝑅6 trong khi tiết diện hấp thụ tỉ lệ với R3. Vì vậy khi kích thước hạt nhỏ thì hiệu suất tán xạ nhỏ hơn so với hiệu suất hấp thụ.
Các tính chất quang của các hạt nano kim loại phụ thuộc vào hình dạng có thể được giải bằng lý thuyết Mie với các hiệu chỉnh theo lý thuyết của Gans. Lý thuyết Mie - Gans dự đoán rằng sẽ xảy ra sự thay đổi trong cộng hưởng plasmon bề mặt khi các hạt đi chệch khỏi dạng hình cầu. Chẳng hạn, đối với thanh nano kim loại, khả năng 7 sự dao động tập thể của các điện tử theo chiều dọc và theo chiều ngang của thanh tạo nên hai mode dao động lưỡng cực độc lập. Do đó xuất hiện hai đỉnh cộng hưởng plasmon: một cộng hưởng plasmon theo chiều dọc tương ứng với dao động của các điện tử tự do dọc theo trục dài của thanh và một cộng hưởng plasmon theo chiều ngang tương ứng với dao động của các điện tử tự do theo phương vuông góc với trục dài của thanh nano (hình 1.
Sự phân bố điện tích trên một thanh nano dưới kích thích của ánh sáng tới. Lý thuyết này cho phép tính toán được các đặc tính tán xạ và hấp thụ gây ra bởi các điện tử được giới hạn theo hai chiều của thanh dưới tác dụng của ánh sáng kích thích. Theo công thức của Gans [21,33] hệ số dập tắt γ đối với các hạt định hướng ngẫu nhiên có thể được định lượng là: 1 3/2 ( 2 )ε2 2πNp Vε P j γ= α ∑cj=A 2 (1.9) 𝑒2 2𝑒 1−𝑒 1 − 𝑃𝐴 𝑃𝐵 = 𝑃𝐶 = 2 Trong đó, e được xác định như sau: B 2 e = √1 − ( ) A 8 A, B và C là ba trục của thanh nano vàng với A > B = C. Tỉ số A/B = AR là tỉ số cạnh (tỷ số giữa trục dọc/trục ngang hay tỷ số dài/ngang).
Sự cộng hưởng xảy ra khi (𝑖) −(1−𝑃𝐽 )𝜀𝑚 𝜀1 = (𝑖) với i=A ứng với cộng hưởng plasmon theo trục dọc và i=B, C ứng 𝑃𝑗 với cộng hưởng theo trục ngang. Tính chất quang của các cấu trúc nano bạc Như đã nói ở trên, tính chất quang học của các cấu trúc nano bạc phụ thuộc mạnh vào hình dạng và kích thước của chúng. Các đặc tính này được giải thích trên mô hình tương tác của các điện tử dẫn trên bề mặt hạt với trường điện từ của ánh sáng kích thích.