CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU CoAl2O4 VÀ ION ĐẤT HIẾM Er3+ 1. Cấu trúc của vật liệu CoAl2O4 Vật liệu CoAl2O4 thuộc một loại khoáng với tên gọi chung là Spinel, và có công thức tổng quát AB2O4. Trong công thức này, A đại diện cho các cation có hóa trị 2 như Ca, Cu, Mg, Zn, Mn, Fe, Co, Ni; còn B đại diện cho các cation có hóa trị 3 như Al, Cr, Fe, và một số loại khác. Điều đặc biệt là bán kính của các ion A và B có sự tương đối gần nhau, thường nằm trong khoảng từ 60 đến 80 pm [1, 2].
Cấu trúc của vật liệu Spinel CoAl2O4 là một cấu trúc tinh thể lập phương tâm mặt, với hằng số mạng tinh thể xấp xỉ 8,4 Å. Mỗi ô cơ sở mạng tinh thể được tạo thành bởi 8 phân tử CoAl2O4, tức là bao gồm 8 khối lập phương bé (như hình vẽ), trong đó chứa 32 ion oxi, 8 ion Co2+ và 16 ion Al3+. Các ion này được sắp xếp vào các hốc bát diện (O) hoặc hốc tứ diện (T) [2-4]. Cấu trúc của Spinel CoAl2O4 [1,2].
Sự phân bố của các cation A và B vào các hốc tứ diện (T) hoặc hốc bát diện (O) trong cấu trúc Spinel chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố quan trọng: -Bán kính ion: Bán kính ion đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân bố. Hốc tứ diện T thường có thể tích nhỏ hơn so với hốc bát diện O, do đó các cation có kích thước nhỏ hơn có xu hướng phù hợp với các hốc tứ diện T. Thông thường, bán 6 kính của cation Co2+ thường lớn hơn so với bán kính của cation Al3+, vì vậy cấu trúc Spinel đảo là phổ biến nhất [5]. -Cấu hình electron: Cấu trúc Spinel được ảnh hưởng bởi cấu hình electron của các cation.
Sự phân bố của chúng phụ thuộc vào khả năng hình thành các liên kết phối trí cụ thể. -Năng lượng tĩnh điện: Năng lượng tĩnh điện của mạng Spinel phụ thuộc vào khoảng cách giữa các ion trong cấu trúc. Tối ưu hóa năng lượng thường xuất hiện khi các cation A2+ (như Co2+) nằm trong hốc tứ diện T, và các cation B3+ (như Al3+) nằm trong hốc bát diện O [6]. Dựa vào sự xắp xếp của các cation trong các hốc tứ diện và hốc bát diện, cấu trúc Spinel có thể được chia thành ba loại chính: Cấu trúc Spinel thuận: Được ký hiệu là A[BB]O4, ví dụ như (Co[AlAl]O4).
Cấu trúc Spinel thuận xảy ra khi các cation A2+ chiếm các hốc bát diện O và các cation B3+ chiếm các hốc tứ diện T trong mạng tinh thể. Cấu trúc Spinel thuận [1,2]. Cấu trúc Spinel thuận: Trong cấu trúc này, 8 cation Co (A) đều nằm ở hốc tứ diện (T), trong khi 16 cation Al (B) đều nằm ở hốc bát diện (O). Cấu trúc Spinel đảo: Cấu trúc Spinel đảo xảy ra khi 8 cation Co (A) nằm ở hốc bát diện (O), trong khi 16 cation Al (B) được chia thành hai phần: 8 cation nằm trong hốc tứ diện và 8 cation nằm trong hốc bát diện [1].
7 Cấu trúc Spinel trung gian: Cấu trúc Spinel trung gian xảy ra khi 24 cation Co (A) và Al (B) được phân bố ngẫu nhiên vào các hốc tứ diện và hốc bát diện. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không phải tất cả các hợp chất có công thức AB2O4 đều kết tinh theo cấu trúc Spinel. Ví dụ, BeAl2O4 và CaCr2O4 có cấu trúc hình thoi, trong khi SrAl2O4 có cấu trúc lập phương. Trong khi đó, một số hợp chất oxit có công thức A2BO4, chẳng hạn như Mg2TiO4, có cấu trúc lập phương và thuộc nhóm Spinel [2, 3].
Các nghiên cứu chế tạo vật liệu CoAl2O4 Các hạt CoAl2O4 hình cầu có kích thước từ 50-200 nm được chế tạo bằng phương pháp polyol như sau: 50 ml dietylen glycol (C4H10O3) được thêm vào hỗn hợp chứa 8,05 g AlOH(CH3COO)2 và 5,63 g Co(CH3COO)2.4H2O trong 1 bình đáy tròn và khuấy trộn trong 15 phút. Sau đó 1,0 ml nước khử ion được thêm vào hỗn hợp trên và khuấy liên tục. Hỗn hợp trên được làm nóng trong một bể dầu silicon đến 140 oC và duy trì nhiệt độ này trong 1 giờ. Sau đó, nhiệt độ được tăng lên 180 oC và duy trì ở nhiệt độ này trong 2 giờ.
Hỗn hợp sau đó được làm lạnh đến nhiệt độ phòng và pha loãng với 50ml etanol. Để chế tạo các hạt CoAl2O4 ở trạng thái rắn có màu xanh đậm đặc trưng (Hình 1.3), hỗn hợp dung dịch trên được nung ở nhiệt độ 600 oC trong thời gian 15 phút [7]. Giản đồ XRD và ảnh chụp dung dịch chứa các hạt CoAl2O4 và dạng bột. Các nano tinh thể CoAl2O4 với kích thước từ 10.4) được chế tạo bằng phương pháp đốt cháy [8].
Hòa tan 0,041 mol Co(NO3)2.6H2O và 0,084 8 mol Al(NO3)3.9H2O trong nước khử ion với tỉ lệ mol Co2+/Al3+ = 1:2. Lòng trắng trứng chiết xuất 20, 40 và 60% được thêm vào hỗn hợp trên. Hỗn hợp phản ứng này được đun nóng ở 85 oC và khuấy liên tục trong 1 giờ trên bếp điện để các ion phản ứng với lòng trắng trứng hoàn toàn tạo thành gel màu hồng nhạt. Gel được làm bay hơi ở nhiệt độ trên 130 oC để khử nước cho đến khi thu được gel dạng nhớt.
Gel thu được tiếp tục được đun nóng ở 250 oC trong lò để khử nước hoàn toàn, tạo ra dạng bột đen. Lượng bột đen này được nghiền nhỏ hơn thành bột mịn sau đó được xử lý nhiệt trong lò điện ở nhiệt độ từ 400–900 oC trong 2 giờ để thu được bột spinel. Giản đồ XRD và ảnh TEM của các hạt CoAl2O4 được chế tạo tại các nhiệt độ khác nhau. Bột CoAl2O4 được chế tạo bằng phương pháp đồng kết tủa [9].
Tỷ lệ mol của Co2+:Al3+ = 1:2, 20 mM Al(NO3)3·9H2O và 10 mM Co(NO3)2·6H2O lần lượt được hòa tan trong nước khử ion (30 mL) ở nhiệt độ phòng. Trong điều kiện khuấy liên tục, dung dịch Al(NO3)3 được thêm từng giọt vào dung dịch Co(NO3)2. Sau đó, dung dịch NaOH được thêm từng giọt vào dung dịch thu được cho đến khi giá trị pH đạt đến 12. Dung dịch hỗn hợp được khuấy trong 1 giờ để tạo kết tủa và sau đó được tách ra bằng cách ly tâm.
Kết tủa được rửa bằng nước khử ion và sấy khô ở 100 °C. Cuối cùng, mẫu 9 được tiếp tục nghiền mịn và nung trong lò ở nhiệt độ 700°C trong 3 giờ để thu được các hạt CoAl2O4 có kích thước từ 100-400 nm (Hình 1. Giản đồ XRD của CoAl2O4-500 và Co3O4-500, (b) Ảnh SEM của CoAl2O4- 500, (c) Đường đẳng nhiệt hấp thụ và phân bố kích thước lỗ xốp (hình nhỏ) của CoAl2O4-500 và Co3O4-500, và (d) Co Phổ XPS 2p của CoAl2O4-500. Bột nano CoAl2O4 (kích thước từ 42-57 nm) (Hình 1.6) được chế tạo bằng quy trình micelle đảo [10].
Coban (II) nitrat hexahydrat (Co(NO3)2·6H2O), nhôm nitrat nonahydrat (Al(NO3)3·9H2O) lần lượt được sử dụng làm tiền chất của coban oxit và alumina. Dung dịch tiền chất 1 được điều chế bằng cách hòa tan coban (II) nitrat hexahydrat (0,1 M) và nhôm nitrat nonahydrat (0,2 M) trong nước cất theo tỷ lệ mol 1:2. Cyclohexane được sử dụng làm dung môi. Dung dịch 2 được điều chế bằng cách trộn 40 mL chất hoạt động bề mặt poly (oxyethylene) nonylphenyl, 100 ml cyclohexane và 6–13,2 ml dung dịch 1 (Co:Al = 1:2 ).
Dung dịch 2 được khuấy trộn mạnh, sau 5 phút bổ sung thêm 3–6 ml NH4OH (28%) thu được dung dịch 3. Dung dịch 3 sau đó được ly tâm để chiết xuất các hạt CoAl2O4, các hạt này sau đó được rửa bằng etanol để loại bỏ các chất hoạt động bề mặt nào còn sót lại. Các hạt CoAl2O4 sau khi được ly tâm và làm sạch thì được nung tới nhiệt độ 1400 oC thu được bột nano CoAl2O4. Giản đồ XRD và ảnh TEM của các hạt CoAl2O4 với các kích thước khác nhau được ký hiệu là R=4, R=6 và R=8.
Kết quả nghiên cứu cho thấy kích cỡ của các hạt nano có thể được kiểm soát bởi nồng độ của chất phản ứng trong dung dịch nước của vi nhũ tương. Kích thước hạt tăng khi tăng tỷ lệ nước và chất hoạt động bề mặt. Độ từ hóa riêng, phụ thuộc chủ yếu vào hạt kích thước, dao động trong khoảng 0,028 emu/g đến 0,23 emu/g đối với các hạt có kích thước từ 35 nm đến 57nm. Các nano tinh thể CoAl2O4 (kích thước từ 10-30 nm) được chế tạo bằng phương pháp Sol-Gel sử dụng axit xitric là chất hoạt động bề mặt [11].
Đầu tiên, một lượng nhất định coban nitrat (Co(NO3)2 ·6H2O) và nhôm nitrat (Al(NO3)3 ·9H2O) được hòa tan trong nước khử ion, sau đó một lượng axit citric thích hợp được thêm vào dung dịch trên và khuấy trộn. Tỷ lệ giữa các ion kim loại với axit xitric là 1:2. Dung dịch hỗn hợp được khuấy trong 1 giờ và sau đó được đun nóng ở nhiệt độ 80 oC cho đến khi tạo thành Gel có độ nhớt cao. Các Gel màu hồng này được sấy khô trong lò ở 110 o C và sau đó được nung tại các nhiệt độ mong muốn (500–1000 oC) trong 5 giờ.
Khảo sát phổ XPS của các tinh thể nano CoAl2O4 được ủ ở 1000 ◦C (a), và phổ XPS của (b) O 1s, (c) Al 2p, (d) Co 2p của tinh thể nano CoAl2O4 ở các nhiệt độ xử lý nhiệt khác nhau. Kết quả nghiên cứu phổ XPS (Hình 1.7) cho thấy các ion Al3+ và Co2+ chiếm cả hai vị trí bát diện và tứ diện trong cấu trúc tinh thể nano. Các tinh thể nano CoAl2O4 được tổng hợp bị đảo ngược một phần cấu trúc Spinel và tham số đảo ngược giảm khi tăng nhiệt độ ủ. Các tính chất quang học của tinh thể nano được thảo luận dựa trên kết quả cấu trúc.
Dải hấp thụ 300–500 nm, tạo ra màu xanh lục, có liên quan đến các ion Co2+ phối hợp bát diện của (Co1−xAlx)[CoxAl2−x]O4 pha tinh thể. Các nano tinh thể CoAl2O4 (kích thước từ 12-20 nm) được chế tạo bằng phương pháp Pechini [12], Hình 1. Dung dịch kim loại được điều chế bằng cách sử dụng axit xitric/kim loại với tỉ lệ 3/1. Dung dịch này được khuấy từ ở nhiệt độ 70 oC cho đến khi hòa tan hoàn toàn, sau đó được bổ sung thêm ethylene glycol theo tỷ lệ 60/40 (về khối lượng).
Phản ứng trùng hợp xảy ra ở 120 oC. Hỗn hợp được nung sơ bộ ở 400 oC trong 1 giờ, sau đó nung thiêu kết ở 1000 oC trong 1 giờ để tạo ra bột nano CoAl2O4. Giản đồ nhiễu xạ tia X của các Spinel CoAl2O4 chế tạo bằng phương pháp Pechini: Các nano tinh thể CoAl2O4 (kích thước từ 50-70 nm) được tổng hợp bằng kỹ thuật tự bốc cháy [13], Hình 1. Các muối nitrat: coban nitrat (Co(NO3)2 ·6H2O) và nhôm nitrat (Al(NO3)3 ·9H2O) với tỉ lệ mol Co/Al là 0,5 được hòa tan trong nước và glycine- NH2CH2COOH (M) với hàm lượng là 4,5 và 6,0.