chương 1 chúng tôi sẽ trình bày những khái niệm và những hiểu biết cơ bản về hiện tượng phát quang, sau đó là các tính chất quang của tâm tạp chất đất hiếm nói chung và của tâm phát quang Sm3+ nói riêng, tiếp theo là phần trình bày về cấu trúc tinh thể, một số tính chất của vật liệu huỳnh quang LaPO4 và các phương pháp phổ biến dùng trong chế tạo vật liệu, cuối cùng là những hiểu biết về lý thuyết Judd-Ofelt và mô hình truyền năng lượng. Một số khái niệm cơ bản 1. Hiện tƣợng phát quang Phát quang là hiện tượng phát ra năng lượng dưới dạng sóng điện từ (photon), ngược với quá trình hấp thụ. Khi tinh thể nhận được năng lượng kích thích, electron chuyển lên trạng thái có năng lượng cao hơn trạng thái trong điều kiện cân bằng.
Electron chỉ tồn tại ở trạng thái kích thích trong một khoảng thời gian rất ngắn, sau đó nó chuyển về trạng thái trống có năng lượng thấp hơn. Chuyển dời này giải phóng năng lượng chênh lệch giữa hai mức năng lượng. Chuyển dời có thể kèm theo bức xạ (emission, radiation) hoặc không kèm theo bức xạ. Trong các chuyển dời không kèm theo bức xạ, năng lượng giải phóng ra được truyền cho mạng tinh thể (phonon), các hạt tải điện khác (hiệu ứng Auger) hoặc plasma điện tử-lỗ trống (dao động plasma).
Trong các chuyển dời có kèm theo bức xạ, toàn bộ hoặc phần lớn năng lượng chênh lệch giữa hai trạng thái được giải phóng bằng cách phát ra sóng điện từ (photon). Khi đó trong tinh thể xảy ra quá trình phát quang. Sự phát quang xảy ra trong thời gian mẫu bị kích thích gọi là huỳnh quang [2]. Các đặc trƣng của sự phát huỳnh quang Sự phát huỳnh quang của một mẫu thường được đặc trưng bởi một số thông số sau: Cường độ huỳnh quang I: Cường độ huỳnh quang được tính bằng số photon phát ra trong một đơn vị thể tích trong một đơn vị thời gian.
Khoa Vật lý 4 Đại học Khoa Học Tự Nhiên z Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Thanh Hiền Phổ huỳnh quang: Sự phụ thuộc của cường độ huỳnh quang vào năng lượng hay bước sóng của photon phát ra gọi là phổ huỳnh quang I = I(hν) hoặc I = I(). Nghiên cứu phổ huỳnh quang cho ta biết cơ chế phát quang trong mẫu. Phổ kích thích huỳnh quang: Phổ kích thích huỳnh quang là sự phụ thuộc của cường độ huỳnh quang ở một bước sóng nào đó vào năng lượng của ánh sáng kích thích. Nói chung phổ kích thích và phổ hấp thụ ứng với một cơ chế (một tâm) là gần như nhau vì trong phổ kích thích huỳnh quang, quá trình hấp thụ được quan sát một cách gián tiếp thông qua ánh sáng huỳnh quang do vật phát ra nhờ quá trình hấp thụ trên.
Nghiên cứu phổ kích thích huỳnh quang có thể cho ta những hiểu biết về cơ chế phát huỳnh quang và hấp thụ. Phổ huỳnh quang phân giải thời gian: là phổ huỳnh quang được ghi tại các thời điểm khác nhau sau khi tắt ánh sáng kích thích. Thời gian sống: Thời gian trung bình mà tâm phát quang còn tồn tại ở trạng thái kích thích sau khi ngừng kích thích được gọi là thời gian sống huỳnh quang. Hiệu suất lượng tử phát xạ k: Nếu nguồn kích thích là ánh sáng thì hiệu suất lượng tử k được tính bằng tỷ số của số photon phát ra và số photon được hấp thụ (tính trong một đơn vị thời gian).
k = Số photon phát ra / Số photon được hấp thụ [2]. Phân loại phát quang Sự phát quang được phân loại theo thời gian sống . Nếu thời gian sống nhỏ hơn 10-8 s thì sự phát quang được gọi là huỳnh quang. Nếu sự phát quang kéo dài sau khi đã ngừng kích thích, thời gian sống lớn hơn 10-8 s thì sự phát quang được gọi là lân quang.
Huỳnh quang được phân loại theo phương pháp kích thích. - Quang huỳnh quang xuất hiện khi chiếu ánh sáng có bước sóng thích hợp vào mẫu. Khoa Vật lý 5 Đại học Khoa Học Tự Nhiên z Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Thanh Hiền - Điện huỳnh quang xuất hiện khi kích thích bán dẫn bằng điện trường hoặc dòng điện qua các lớp tiếp xúc dị thể hay chuyển tiếp p – n. - Catot huỳnh quang xuất hiện khi chiếu chùm tia điện tử có năng lượng cao vào chất bán dẫn.
- Nhiệt huỳnh quang xuất hiện khi đốt nóng chất bán dẫn trước đó đã có các hạt tải không cân bằng bị bắt trên các bẫy. - Ma sát huỳnh quang xuất hiện dưới tác dụng kích thích cơ học. - Hóa huỳnh quang xuất hiện trong các phản ứng hóa học đối với các chất bán dẫn. Huỳnh quang phân tử và huỳnh quang giả bền xảy ra khi sự hấp thụ và bức xạ ánh sáng xảy ra trong nội bộ một tâm phát quang khi điện tử từ trạng thái kích thích chuyển về trạng thái cơ bản.
Hầu như không phụ thuộc vào phương pháp kích thích, quá trình tái hợp bức xạ trong các chất bán dẫn thực hiện qua các cơ chế tái hợp cơ bản được thể hiện trên hình 1.1 như sau: - Tái hợp vùng-vùng (e-h) là tái hợp bức xạ giữa các electron tự do trong vùng dẫn và lỗ trống tự do trong vùng hóa trị. - Tái hợp vùng-tạp chất (e-A, D-h) là tái hợp bức xạ của các hạt tải điện tự do và các hạt tải điện bị bắt trên các tâm tạp chất (electron tự do trong vùng dẫn điện với lỗ trống trên axepto hoặc electron trên đono với lỗ trống tự do trong vùng hóa trị). - Tái hợp cặp donor-acceptor (D-A) là tái hợp bức xạ giữa các electron trên đono và các lỗ trống trên axepto. - Chuyển dời bức xạ bên trong một tâm quang học [1].
Khoa Vật lý 6 Đại học Khoa Học Tự Nhiên z Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Thanh Hiền Vùng dẫn điện D Eexc D e-A Kích thích e-h D-h D-A e-h A A Vùng hóa trị Hình 1. Các quá trình tái hợp bức xạ[1]. Các tính chất quang của tâm đất hiếm 1. Đặc trƣng quang phổ của các tâm phát quang loại ion đất hiếm Các nguyên tố đất hiếm (rare earth - RE) là các nguyên tố thuộc họ lantan, được đặc trưng bởi lớp điện tử chưa được lấp đầy 4f.
Quỹ đạo 4f của các ion RE 2 6 được che chắn bởi các quỹ đạo đã được lấp đầy nằm bên ngoài là 5s và 5p. Do vậy, ảnh hưởng của trường tinh thể mạng chủ lên các dịch chuyển quang trong cấu n hình 4f là nhỏ. • Trong các oxit kim loại đất hiếm RE2O3, thì các dịch chuyển hấp thụ bị cấm rất mạnh theo quy tắc chọn lọc chẵn-lẻ. Do đó, các oxit kim loại đất hiếm thường không màu.
• Khi ở trong trường tinh thể, do ảnh hưởng yếu của trường tinh thể mà đặc biệt là các thành phần lẻ của trường tinh thể, các thành phần này xuất hiện khi các ion RE chiếm các vị trí không có tính đối xứng đảo. Các thành phần lẻ này trộn một phần nhỏ các hàm sóng có tính chẵn - lẻ ngược lại (như 5d) với hàm sóng 4f. Bằng cách này thì quy tắc chọn lọc chẵn lẻ được nới rộng trong nội cấu hình 4f, dẫn đến có thể thực hiện một vài dịch chuyển quang. Khoa Vật lý 7 Đại học Khoa Học Tự Nhiên z Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Thanh Hiền Các nguyên tố kim loại thuộc họ đất hiếm hay nhóm lantan gồm các nguyên tố La (Z=57), Ce (58), Pr (59), Nd (60), Pm (61), Sm (62), Eu (63), Gd (64), Tb (65), Dy (66), Ho (67), Er (68), Tm (69), Yb (70), Lu (71).
Cấu hình điện tử của chúng có dạng: 1s22s22p63s23p63d104s24p64d105s25p64f n 5dm6s2. Vì các ion này có lớp vỏ ngoài cùng như nhau là 6s2 nên các yếu tố đất hiếm có tính chất hóa học khá giống nhau. Tuy nhiên, tính chất quang học của các nguyên tố đất hiếm lại khác hẳn nhau, do phổ hấp thụ và phổ phát quang của chúng liên quan tới chuyển dời của các điện tử giữa các mức chưa lấp đầy 4f. Bằng cách pha tạp các nguyên tố RE có thể nâng cao hiệu suất huỳnh quang của tinh thể phốt pho, đem lại nhiều khả năng ứng dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
Vì thế việc pha tạp các ion RE vào một vật liệu nền trở thành một phương pháp thông dụng để chế tạo vật liệu huỳnh quang.2 trình bày giản đồ cấu trúc mức năng lượng của các ion đất hiếm hóa trị 3, RE3+, còn được gọi là giản đồ Dieke. Các mức năng lượng điện tử 4f là đặc điểm tiêu biểu của các ion đất hiếm. Do các điện tử lớp 4f chưa lấp đầy nằm sâu bên trong so với các lớp 5s, 5p, 5d, 6s đã được lấp đầy và bị che chắn bởi các lớp này nên điện tử lớp 4f của các nguyên tố đất hiếm tương tác rất yếu với mạng tinh thể (phần năng lượng đóng góp do tương tác này chỉ khoảng 0.01 eV, nhỏ hơn so với tương tác spin quỹ đạo một bậc) nhưng chúng vẫn tương tác với nhau khá mạnh. Mặc dù các nguyên tố đất hiếm đã nằm tại các nút mạng tinh thể nhưng chúng vẫn có các mức năng lượng xác định đặc trưng riêng cho mình.
Các mức này ít chịu ảnh hưởng của trường tinh thể. Khi có sự chuyển dời của các điện tử giữa các mức năng lượng của lớp 4f sẽ cho bức xạ đặc trưng của tâm đó. Nếu tâm kích hoạt quang học nào bị ảnh hưởng mạnh của trường tinh thể thì phổ bức xạ có dạng phổ đám (dải rộng) thường quan sát thấy ở phổ huỳnh quang của các ion kim loại chuyển tiếp như Mn, Cr. Ngược lại, nếu tâm kích hoạt nào ít bị ảnh hưởng của trường tinh thể thì có quang phổ vạch.
Khoa Vật lý 8 Đại học Khoa Học Tự Nhiên z Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Thanh Hiền Hình 1. Sơ đồ các mức năng lượng của một số ion lantan[1]. Khi các ion đất hiếm ở trong trường tinh thể tĩnh, sẽ có hiện tượng tách các mức năng lượng. Sự tách mức năng lượng do nhiều nguyên nhân, hình 1.3 thể hiện sơ đồ tách mức năng lượng theo các nguyên nhân khác nhau.
- Tách mức do lực nguyên tử: theo vật lý chất rắn và cơ học lượng tử, khi các nguyên tử ở gần nhau thì chúng sẽ tương tác với nhau và dẫn tới sự tách mức. Khoa Vật lý 9 Đại học Khoa Học Tự Nhiên z Luận văn thạc sĩ Phạm Thị Thanh Hiền - Tách mức do tương tác spin: ion đất hiếm có lớp vỏ 4f chưa được điền đầy điện tử, dẫn tới hình thành cấu hình điện tử khác nhau với các mức năng lượng khác nhau do tương tác spin-spin và tương tác spin-quỹ đạo.