Chương 1) Như vậy, theo chúng tôi, tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái thần thánh, đấng siêu nhiên có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống của con người; là một sản phẩm văn hóa do mối quan hệ giữa người với người, con người với tự nhiên, với xã hội tạo thành. Ở đâu có niềm tin thì ở đó hình thành tôn giáo, tín ngưỡng. Tín ngưỡng là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, được hình thành rất sớm, tồn tại lâu dài trong xã hội và được thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng của mỗi người, mỗi gia đình và mỗi cộng đồng xã hội. Tín ngưỡng có nội dung bình dị và thực tiễn, dễ hiểu, dễ nhớ; bởi thế nó dễ dàng được thế tục hóa trở thành nếp sống, phong tục, bám rễ sâu trong tiềm thức của mỗi người Việt Nam.
Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam đã có từ lâu đời. Ngoài việc đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn là biểu hiện của đạo lý làm người, là nhu cầu hướng về cội nguồn của gia đình và dân tộc. Thờ cúng tổ tiên là sự tiếp nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì vậy, sức sống của tín ngưỡng này là vô tận.
Xuất phát từ đạo lý đó, cư dân Việt Nam không chỉ thờ cúng tổ tiên, dòng họ, các vị phúc thần mà còn thờ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì chủ quyền của dân tộc. Hệ thống thờ cúng tổ tiên và những người có công với địa phương, với đất nước phản ánh quan hệ gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng, giữa gia đình với đất nước. Theo chúng tôi: Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc thể hiện sự biết ơn, niềm tin của người dân vào sự linh thiêng, bất tử của các vị anh hùng dân tộc được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống vừa thể hiện sự biết ơn vừa để cầu mong các vị anh hùng dân tộc mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng thờ các anh hùng dân tộc có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam.
Không chỉ thể hiện đạo lý uống nhớ nguồn, tri ân những anh hùng bảo vệ độc lập dân tộc, tín ngưỡng đó còn thể hiện trách nhiệm của các thế hệ cháu con đối với các bậc tiền nhân. Trách nhiệm đó không chỉ thể hiện qua những hành động cúng tế cụ thể mà sâu rộng hơn nữa là giữ gìn những tập tục vốn là nét văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc. Qua hàng ngàn năm lịch sử, tín ngưỡng thờ cúng những vị danh tướng trở nên phổ biến ở khắp đất nước, như thờ cúng Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Văn Duyệt, Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân, Trương Định, Nguyễn Trung Trực. Tín ngưỡng thờ các anh hùng dân tộc được lưu truyền dưới nhiều hình thức như lập miếu thờ, lập đền thờ, lập bia ghi công đức, xây dựng mộ phần, 12 tổ chức tế lễ hàng năm.
Việc xây miếu hay đền thờ có hai mục đích chính: trước tiên là để những người đã khuất có nơi yên nghỉ lâu dài, sau nữa để cư dân quanh vùng có chỗ đến viếng anh linh, nhớ đến công ơn của các vị, đồng thời để người dân gởi gắm ước nguyện, cầu xin một cuộc sống an lành, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng dân gian của nhân dân. Hiện nay, ở Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có đền thờ Võ Thị Sáu, người dân hay gọi là cô Sáu. Tuy nhiên, xoay quanh những huyền thoại về cái chết của Võ Thị Sáu còn nhiều chi tiết chưa được sáng tỏ, sự linh thiêng của cô Sáu được phủ lên một lớp vỏ huyền bí của tín ngưỡng dân gian. Đời sống văn hóa Khái niệm đời sống văn hóa có nhiều cách hiểu: Trong Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, các nhà khoa học của Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm: “Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thể các hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó”.
(Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2010, tr.134) Theo Trần Đức Ngôn, bài “Khái niệm và cấu trúc đời sống văn hóa”, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 21, 9/2017. “Đời sống văn hóa là kết quả của hoạt động tương tác giữa con người với môi trường văn hóa, tạo nên diện mạo cũng như chiều sâu của đời sống tinh thần con người, thể hiện chất lượng sống và góp phần hình thành nhân cách” (Trần Đức Ngôn, 2017). Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, thể hiện chất lượng sống của con người. Nếu thiếu đi đời sống văn hóa, con người sẽ không thể phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Trong công trình “Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở”, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2002 viết: “Đời sống văn hóa là bộ phận cấu thành 13 tích hợp trong đời sống chung của con người, xã hội” (Bộ Văn hóa Thông tin và Truyền thông, 2002). Mặc dù còn có những quan điểm khác nhau về đời sống văn hóa nhưng tựu trung lại có thể hiểu đời sống văn hóa là các hoạt động liên quan đến sinh hoạt vật chất, tinh thần của một cá nhân hay của cộng đồng dân cư trong một đơn vị tổ chức hành chính (gia đình, tổ dân phố, khu dân cư, làng, xã, phường, quận, huyện…). Hoạt động đời sống văn hóa luôn diễn ra thường xuyên, liên tục và sự tham gia trực tiếp của con người hình thành mối liên hệ gắn bó mật thiết giữa người với người trong một không gian địa lý, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và các thiết chế văn hóa nhất định. Tâm linh và Văn hóa tâm linh Khái niệm tâm linh: Cho đến nay, khái niệm tâm linh vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau: Theo Nguyễn Đăng Duy: “Tâm linh là cái linh thiêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo.
Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm”. (Nguyễn Đăng Duy, 2009, tr.11) Nguyễn Duy Hinh cho rằng: “Tâm linh là linh cảm về hiện tượng vô hình có ảnh hưởng đến đời sống con người cảm nhận được qua sống trải nghiệm lâu dài của một cộng đồng người. Linh cảm về cái thiêng tác động đến sống chết của con người”.(Nguyễn Duy Hinh, 2007) Như vậy, dù còn có những cách hiểu khác nhau nhưng về cơ bản tâm linh là nói về cái thiêng. Tâm linh tồn tại trong cuộc sống hiện thực của cá nhân, gia đình, cộng đồng làng xã, tổ quốc với ý nghĩa là niềm tin vào sự linh thiêng.
Văn hóa tâm linh: 14 Theo Nguyễn Đăng Duy: “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo”. (Nguyễn Đăng Duy, 2009, tr.26) Dương Văn Lượng cho rằng Văn hóa tâm linh: “Là sự bày tỏ tình cảm linh thiêng, niềm tin linh thiêng, sự tri ân của những người đang sống đối với những người thân đã mất, đối với những vị anh hùng dân tộc, những liệt sĩ được tôn làm Thánh, làm Thần, làm Thành hoàng… diễn ra trong một không gian thiêng và thời gian thiêng nhất định”.(Dương Văn Lượng, 2008) Như vậy, văn hóa tâm linh thuộc lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần được biểu hiện ở khía cạnh vô hình và hữu hình. Vô hình là những ý niệm, tâm tư, nguyện vọng thể hiện qua các bài cúng, bài khấn của cá nhân và cộng đồng cầu mong đấng linh thiêng phù hộ độ trì cho họ. Hữu hình được thể hiện qua: (1) hình ảnh biểu hiện tính thiêng: cây đa, đền, chùa, miếu, phủ…(2) hoạt động thể hiện niềm tin vào sự linh thiêng: ở phạm vi rộng, do chính quyền các cấp có thẩm quyền tổ chức như lễ giỗ tổ Hùng Vương, lễ đón giao thừa, lễ khai ấn đền Trần… nhằm mục đích cầu cho quốc thái, dân an, cho con cháu hạnh phúc; ở phạm vi hẹp như dòng họ, gia đình thì sinh hoạt văn hóa tâm linh được biểu hiện: thờ cúng tổ tiên, xây nhà thờ họ, xây đắp mộ thủy tổ, ngày giỗ ông, bà, cha, mẹ nhằm mục đích giáo dục con cái truyền thống tốt đẹp, đoàn kết, hướng thiện, giữ gìn truyền thống.
Vì thế, hoạt động văn hóa tâm linh đã trở thành một nhu cầu văn hóa lành mạnh, đầy tính nhân văn của người Việt Nam. Lý thuyết tiếp cận Trong luận văn, tác giả dựa vào các lý thuyết sau để làm cơ sở cho khảo sát đề tài: 1. Lý thuyết chức năng Lý thuyết chức năng hay còn gọi là thuyết chức năng-cấu trúc hay 15 thuyết cấu trúc chức năng. Trong khuôn khổ nội dung của luận văn này, chúng tôi vận dụng quan điểm của Bronisla Malino ski (1884-1942) để phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Theo Malinowski: “Các cá nhân theo tôn giáo đó cảm thấy có sức mạnh và tìm cách vượt qua những khó khăn của cuộc sống, cho dù nhiều khi cách thức hành động của họ chỉ giới hạn trong phạm vi tinh thần, ý thức. Nhờ tôn giáo mà họ có đức tin, có niềm tin vào một sức mạnh vô hình, siêu tự nhiên” (như trích dẫn ở Phạm Minh Anh, 2016, tr. Nghiên cứu của Malinowski về đời sống của người dân trên đảo Trobriand ở Thái Bình Dương cho thấy khi họ đánh cá ở nơi an toàn, không có mối đe dọa thì họ không cần làm các nghi lễ phù phép. Khi họ ra khơi đánh cá, mức độ nguy hiểm của biển cả tăng lên và kết quả cũng bấp bênh hơn thì ngư dân đảo Trobriand làm nghi lễ phù phép, một mặt nhằm trấn an tâm lý bản thân, mặt khác mong được an toàn và được mẻ cá to thông qua các lực lượng bí ẩn, siêu nhiên.
Từ việc tham khảo và dựa vào quan điểm trên của Bronisla Malinowski, chúng tôi nhận thấy tín ngưỡng thờ cô Sáu bao gồm các thành tố cơ bản đó là: cơ sở thờ tự, huyền thoại và lễ hội. Mỗi thành tố có vị trí, vai trò khác nhau nhưng tác động, chi phối lẫn nhau tạo nên tín ngưỡng thờ anh hùng Võ Thị Sáu. Từ đó, luận văn nghiên cứu tín ngưỡng thờ cô Sáu như một chỉnh thể thống nhất từ các bộ phận hợp thành.