ĐẶT VẤN ĐỀ Thoái hóa cột sống là một trong những bệnh lý cơ xương khớp rất thường gặp, xảy ra do quá trình lão hóa xương khớp, dẫn đến phản ứng sưng viêm, đau nhức và suy giảm vận động. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc các bệnh Cơ-Xương-Khớp gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây, đặc biệt là thoái hóa cột sống. Vì vậy, nhu cầu thuốc và thực phẩm chức năng trong hỗ trợ điều trị bệnh thoái hóa cột sống của người bệnh ngày càng tăng cao. Bài thuốc hỗ trợ điều trị thoái hóa cột sống của Lương y Nguyễn Thiện Chung gồm 13 dược liệu đã được sử dụng hỗ trợ điều trị bệnh thoái hóa cột sống trên khoảng 300 bệnh nhân tại tỉnh An Giang, cho hiệu quả tốt.
Đỗ Thị Hồng Tươi và cộng sự đã chứng minh cao khô sấy phun của bài thuốc nói trên có tác dụng giảm đau, kháng viêm trên chuột. Tuy nhiên, hiện nay cao khô sấy phun của bài thuốc chưa được xây dựng tiêu chuẩn để kiểm tra chất lượng và đánh giá độ ổn định. Do đó, việc xây dựng tiêu chuẩn của cao khô sấy phun là nghiên cứu có tính cấp thiết. Theo thông tư số 11/2018/TT-BYT, quy định về chất lượng thuốc, nguyên liệu làm thuốc, tiêu chuẩn của một sản phẩm cần phải được xây dựng nhằm đảm bảo tính an toàn, hiệu quả trong điều trị.
Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của cao khô bài thuốc giúp cho việc kiểm soát chất lượng một cách hiệu quả trong quá trình chiết xuất và bào chế. Chất điểm chỉ là chất được xác định về mặt hóa học, bất kể có hay không có tác động trị liệu, đóng góp một phần quan trọng trong việc kiểm soát chất lượng thuốc y học cổ truyền. Việc định tính – định lượng dựa trên chất điểm chỉ là lựa chọn ưu tiên, trong đó sắc ký lớp mỏng là phương pháp định tính đơn giản, dễ thực hiện, đưa ra kết quả nhanh và tương đối chính xác về sự hiện diện của chất điểm chỉ trong sản phẩm. Ngoài ra, sắc ký lỏng hiệu năng cao là phương pháp phân tích định lượng rất phổ biến hiện nay.
Với độ nhạy cao, độ đúng và độ chính xác đáp ứng các yêu cầu định tính, định lượng, chi phí đầu tư không quá tốn kém, phương pháp này đang được ứng dụng rộng rãi ở hầu hết các phòng thí nghiệm của các cơ sở sản xuất và kiểm nghiệm.Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cơ sở bài thuốc hỗ trợ điều trị thoái hóa cột sống của Lương y Nguyễn Thiện Chung là cấp thiết và có ý nghĩa trong phát triển bài thuốc hỗ trợ điều trị bệnh cho người dân. Đề tài: “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cao khô sấy phun bài thuốc hỗ trợ điều trị thoái hóa cột sống của Lương y Nguyễn Thiện Chung” được thực hiện nhằm mục tiêu: - Phân lập chất điểm chỉ cho cao khô sấy phun bài thuốc hỗ trợ điều trị thoái hóa cột sống của Lương y Nguyễn Thiện Chung. - Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cao khô sấy phun bài thuốc hỗ trợ điều trị thoái hóa cột sống của Lương y Nguyễn Thiện Chung. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
BÀI THUỐC HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỦA LƯƠNG Y NGUYỄN THIỆN CHUNG 1. Thành phần các dược liệu trong BT Bài thuốc hỗ trợ điều trị thoái hóa cột sống của Lương y Nguyễn Thiện Chung là bài thuốc gồm 13 dược liệu với các thành phần như Bảng 1. Các dược liệu trong BT STT Thành phần Bộ phận dùng Hàm lượng 1 thang (g) 1 Đủng đỉnh Thân 20 2 Cỏ xước Toàn cây trên mặt đất 3 Cối xay Toàn cây trên mặt đất 4 Ý dĩ Toàn cây trên mặt đất 5 Mướp gai Thân rễ 6 Nhàu Thân 12 7 Mã đề Toàn cây trên mặt đất 8 Cỏ tranh Thân rễ 9 Râu mèo Toàn cây trên mặt đất 8 10 Mía dò Thân rễ 11 Rau bợ Toàn cây trên mặt nước 12 Đinh lăng lá xẻ Cành non và lá 8 13 Dây mãng bát Thân 1. Tác dụng dược lý của BT Năm 2020, PGS.
Đỗ Thị Hồng Tươi và cộng sự nghiên cứu độc tính cấp và khảo sát tác động giảm đau, kháng viêm trên chuột. Theo dõi, ghi nhận không có chuột nào chết sau khi uống cao khô ở liều trên trong 72 giờ đầu tiên và 14 ngày sau đó. Cao khô sấy phun từ bài thuốc hỗ trợ điều trị thoái hóa cột sống không thể hiện độc tính cấp đường uống trên chuột nhắt với liều là 25 g/kg [3]. Ngoài ra, cao khô phun sấy đã được nghiên cứu tác dụng giảm đau trên mô hình gây đau quặng bụng theo phương pháp nghiên cứu của Koster và cộng sự (1959) [15], tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây phù chân chuột bằng carrageenin theo phương pháp của Winter [28] và tác dụng kháng viêm mạn trên mô hình gây u hạt bằng bông cotton theo phương pháp của Meier (1950) [27].
Kết quả cho thấy cao khô sấy phun BT thể hiện tác động giảm đau ngoại biên, kháng viêm cấp và mạn tính tốt trên chuột nhắt ở liều 1,26 g/kg [3]. Vai trò của các dược liệu trong bài thuốc theo y học cổ truyền 1. Dược liệu Nhàu Rễ Nhàu có vị chát, tính bình, quy kinh thận và đại tràng có tác dụng trừ phong thấp, nhuận tràng, bình can giáng nghịch. Quả Nhàu cũng có vị chát, quy kinh Thận, Đại trường, có tác dụng hoạt huyết, nhuận tràng, lợi tiểu [1].
Tuy nhiên, dược liệu trong bài thuốc được sử dụng là thân Nhàu. Theo kinh nghiệm của Lương y Chung (tác giả của bài thuốc), tác dụng của thân Nhàu cũng tương tự như rễ và quả với tác dụng trừ phong thấp, bình can giáng nghich, tác dụng hoạt huyết, thông kinh hoạt lạc và nhuận tràng nhẹ. Trong bài thuốc này, vị thuốc Nhàu được sử dụng như là vị ‘Quân’ với tác dụng ôn thông kinh lạc, hành khí hoạt huyết và trừ phong thấp và giúp trục thấp trọc qua 2 đường đại tiện và tiểu tiện. Dược liệu Đinh lăng Lá Đinh lăng có vị nhạt, hơi đắng, có tác dụng bổ 5 tạng, giải độc, bổ khí huyết, tăng sữa, tiêu thực, tiêu sưng viêm [4].
Trong bài thuốc này, lá Đinh lăng được dùng như vị ‘Thần’ với tác dụng bồi bổ khí huyết, giúp thanh nhiệt, giảm các triệu chứng sưng viêm. Dược liệu Đủng đỉnh Đủng đỉnh vị nhạt, hậu hơi ngọt, chát ít. Trong bài thuốc được sử dụng như vị 'Thần' với tác dụng trừ phong thấp, tiêu viêm, chủ trị sưng, đau khớp, hạn chế vận động. Dược liệu Râu mèo Râu mèo có vị ngọt nhạt, hơi đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu viêm, trừ thấp [4].
Râu mèo với tác dụng lợi thủy thẫm thấp được sử dụng như vị ‘Thần’ trong bài thuốc. Dược liệu Mướp gai Mướp gai có vị đắng chát, cay, tính mát, có ít độc; có tác dụng tiêu viêm giải độc, thanh nhiệt trừ thấp. Thân rễ có tác sinh tân chỉ khát, khử ứ, sinh cơ, chỉ thống [4]. Mướp gai được sử dụng trong bài thuốc với tác dụng chính là sinh tân dịch.
Dược liệu Mía dò Mía dò vị chua, đắng, cay, tính mát, hơi có độc; giải độc chỉ dương, thông trường [4] được dùng trong bài thuốc giúp hỗ trợ giải thấp tà qua đường đại tiện. Dược liệu Mã đề Mã đề có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, lợi phế, làm long đờm [4]. Dược liệu Cỏ tranh Cỏ tranh có vị ngọt, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt, chỉ huyết, mát huyết [4]. Dược liệu Cối xay Cối xay có vị Cam, bình quy vào các kinh tâm, đởm; có tác dụng giải biểu nhiệt, hoạt huyết, lợi tiểu [1].
Dược liệu Rau bợ Rau bợ có vị ngọt, hơi đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu sưng, giải độc, nhuận gan, sáng mắt, trấn tĩnh [4] hỗ trợ tác dụng của các vị thuốc lợi thủy. Các vị thuốc Mướp gai, Mía dò, Mã đề, Cỏ tranh, Cối xay, Dây mãnh bát, Rau bợ được sử dụng như vị ‘Tá’ cho bài thuốc. Dược liệu Ý dĩ Ý dĩ: Hạt có vị ngọt, nhạt, tính mát; có tác dụng bổ tỳ kiện vị, lợi niệu, thanh nhiệt bài nung, bổ phế. Rễ có vị đắng, ngọt, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, kiện tỳ, sát trùng.
Lá có tác dụng noãn vị và ích khí huyết [4]. Dược liệu Dây mãng bát Dây mãng bát vị ngọt tính bình, tác dụng thanh nhiệt lương huyết, hòa hoãn tác dụng của các vị thuốc. Dược liệu Cỏ xước Cỏ xước vị đắng, chua, tính mát có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi niệu tiêu viêm, hoạt huyết khử ứ [4]. Ngoài ra, hình dạng các mắc trên thân cỏ xước đồng hình với các khớp, có tác dụng dẫn các vị thuốc về các khớp.
Trong bài thuốc, Cỏ xước, Dây mãng bát, Ý dĩ có tác dụng như vị ‘Sứ’. Bài thuốc của LY Nguyễn Thiện Chung, nhằm mục đích: - Tăng cường khí huyết, hành khí hoạt huyết để đưa khí huyết đến nuôi dưỡng các cơ, khớp. - Trừ phong thấp, trục thấp tà ra ngoài Nhàu QUÂN Đinh lăng Đủng đỉnh Râu mèo THẦN Mướp gai, Mía dò, Mã đề, Cỏ tranh, Cối Cối xay xay, Dây mãnh bát, Rau bợ TÁ Cỏ xước, Dây mãnh bát, Ý dĩ SỨ Hành khí, hoạt huyết, Trừ phong thấp, trục thấp tà bồi bổ khí huyết Hình 1. Vai trò của các dược liệu trong BT.
KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG BÀI THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN Ngày nay, bên cạnh thuốc hóa dược, thuốc YHCT ngày càng được kiểm soát chất lượng chặt chẽ. Các chuyên luận về tiêu chuẩn của các dược liệu, vị thuốc, bài thuốc YHCT đã được đưa vào hướng dẫn của WHO, Dược điển Châu Âu, Đài Loan, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Bên cạnh việc định danh các dược liệu, vị thuốc YHCT bằng đặc điểm thực vật (hình thái và vi học), viẹc định tính và định lượng các chất điểm chỉ (biomarker) cũng được yêu cầu và góp phần định danh dược liệu/vị thuốc [9]. Tuy nhiên, đối với bài thuốc đã dược chế biến theo phương pháp YHCT (trừ thuốc thang, thuốc tán) hoặc đã được hiện đại hóa, việc định danh các vị thuốc có trong bài thuốc là một thử thách vì không thể dựa trên đặc điểm hình thái và vi học, khi đó việc định tính, định danh dựa trên các chất điểm chỉ càng quan trọng [14,6].
Để đánh giá chất lượng của thuốc YHCT, việc định tính – định lượng chất đánh dấu hay còn gọi là chất điểm chỉ là lựa chọn ưu tiên. Cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMEA) định nghĩa chất điểm chỉ là một hoặc nhóm chất được xác định về mặt hóa học của một sản phẩm thuốc từ dược liệu, được sử dụng với mục đích kiểm soát chất lượng bất kể việc chất đấy có hay không tác động trị liệu.