CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về tác động của BĐKH 1. Các khái niệm cơ bản Trong Công ước khung Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu [15] đã nêu khái niệm Biến đổi khí hậu nghĩa là biến đổi của khí hậu được qui cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát đựợc trong những thời kỳ có thể so sánh được; Những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu nghĩa là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học do những biến đổi khí hậu gây những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người. Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTN&MT) cũng đã định nghĩa: Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất. Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Có thể hiểu thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các các cơ hội nó mang lại. Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm làm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính, giảm nhẹ BĐKH làm giảm nguyên nhân gây BĐKH.
Nguồn gốc và đặc điểm của BĐKH Nhờ những tiến bộ đạt được về quan trắc cũng như các mô hình gần đây, các nhà khoa học đã kết luận rằng: BĐKH có nguồn gốc từ hai nguyên nhân: do những quá trình tự nhiên và do ảnh hưởng của con người. n 5 Con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, từ quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt,.) để tạo ra năng lượng phục vụ sản xuất và giao thông đi lại, đến các quá trình công nghiệp hóa đều phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính. Tất cả các hoạt động này làm tăng nồng độ các loại khí gây hiệu ứng nhà kính (CO2, N2O, NO, CH4, H2S, bụi và hơi nước), dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất. Các nhà khoa học đã nhận thấy, sự ấm lên toàn cầu chủ yếu là do hoạt động của con người.
Theo báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) đã chỉ ra rằng, hoạt động của con người dường như đã góp phần vào việc làm băng tan ở Bắc cực, cũng làm tăng mực nước biển trong 50 năm cuối của thế kỷ 20. Theo IPCC các biểu hiện của biến đổi khí hậu bao gồm: - Sự nóng lên của khí quyển và bề mặt trái đất; - Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất; - Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển; - Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người; - Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác; - Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển. Khi xem xét, đánh giá tác động của BĐKH đến cộng đồng người ta thường quan tâm đến các biểu hiện cơ bản sau: - Sự gia tăng nhiệt độ: nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tuyệt đối; - Sự gia tăng của các biểu hiện thời tiết cực đoan: bão, lốc, mưa đá, hạn hán, mưa lớn v. - Nước biển dâng: mức nước trung bình, mức đỉnh triều.
Đặc điểm diễn biến thời gian của biến đổi khí hậu: - Quá trình diễn ra từ từ, khó bị phát hiện và có thể nói chiều hướng của BĐKH là không thể đảo ngược (trong phạm vi tương lai gần). n 6 - Diễn ra trên phạm vi toàn cầu, tác động đến tất cả các châu lục, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của sự sống (động vật, thực vật, đa dạng sinh học, cảnh quan, môi trường sống. - Cường độ ngày một tăng và hậu quả ngày càng nặng nề, khó lường trước, khó khắc phục. Tác động chính của biến đổi khí hậu */ Quan điểm thông thường BĐKH là nguy cơ lớn nhất mà loài người phải đối mặt trong lịch sử phát triển của mình và là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm.
Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu. Thường khi nói đến tác động của BĐKH hầu hết là tác động có hại. Một số tác động chủ yếu của BĐKH hay được nhắc đến như: Mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn với công nghiệp và hệ thống kinh tế xã hội trong tương lai; Nhiệt độ khí quyển tăng cao gây ra những đợt nóng gay gắt, hạn hán, cạn kiệt nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học, các hệ sinh thái bị phá hủy; gia tăng lượng mưa lớn bất thường, bão lụt, v. phá hoại cơ sở hạ tầng, tài sản, gây khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất.
*/ Tác động có lợi của biến đổi khí hậu Hầu hết các tác động của BĐKH là có hại. Tuy nhiên nếu xét theo đối tượng và phạm vi địa lý khác nhau thì BĐKH cũng đem lại những tác động có lợi nhất định. - Xét theo đối tượng ngành, lĩnh vực chịu tác động trực tiếp Những lợi ích được phân bố không đều, cũng giống như những hậu quả tiêu cực của sự nóng lên toàn cầu. Ở những khu vực có đủ nước và chất dinh dưỡng, hoa màu có năng suất cao hơn khi nhiệt độ tăng và những mùa vụ kéo dài hơn.
Ngành lâm nghiệp sẽ được lợi nhờ cây cối mọc nhanh hơn. Sự ấm lên cũng có lợi cho sức khỏe con người ở một số khu vực. Chi phí sẽ giảm đi đối với việc sưởi các tòa nhà vào mùa đông dài và lạnh. Ít băng giá và ít bão tuyết sẽ làm cho đường xá và giao thông thuận lợi hơn trong mùa đông và giảm được chi phí.
Giảm thời gian bị lạnh sẽ có lợi về sức khỏe cho một số người. Một số khu vực sẽ trở nên ẩm ướt hơn, do đó giúp giảm khan hiếm nước. Những ích lợi này chủ yếu xảy ra ở Hoa Kỳ, Canada, Bắc Âu và phía bắc châu Á. n 7 Tuy nhiên những ích lợi đó sẽ khó có thể so sánh với những rủi ro như sự gia tăng của sâu bệnh, thời tiết cực đoan, khan hiếm nước ở một số khu vực khác, chi phí làm mát không khí tăng lên vào mùa hè, v.
Tính trên toàn cầu thì lợi ích của sự nóng lên có thể biến động lên xuống nhưng tổng chi phí sẽ sẽ tăng lên. Trên thực tế các tác động có lợi thường đề cập đến khi có thể khai thác được chúng trong các hoạt động nhằm thích nghi với biến đổi khí hậu. - Xét theo phạm vi vùng lãnh thổ chịu tác động Xét trên phạm vi lãnh thổ, quốc gia thì BĐKH cũng đem lại những lợi ích nhất định trong hiện tại và tương lai gần. Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí nhà kính đã đưa ra 3 cơ chế để các quốc gia phối hợp thực hiện trong đó Cơ chế phát triển sạch (CDM) đã mang lại cơ hội cho những nước nghèo với sự hỗ trợ về tài chính và khoa học công nghệ của các nước lớn.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để tham gia các dự án CDM trong một số ngành, lĩnh vực như: năng lượng, lâm nghiệp, nông nghiệp v. Kịch bản BĐKH cho khu vực ĐBSCL 1. Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho khu vực Nam Bộ Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long được xây dựng trên cơ sở phân tích và tổng hợp từ Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam năm 2012 [4] ứng với khu vực khí hậu Nam Bộ, với sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, nước biển dâng. Mức biến đổi các thông số khí hậu được so sánh với thời kỳ cơ sở từ năm 1980 đến năm 1999.
Nhiệt độ */ Nhiệt độ trung bình theo mùa - Mùa đông (tháng XII-II) + Theo kịch bản phát thải thấp, đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ mùa đông tăng ở khu vực Nam Bộ từ 1 đến 1,6oC. + Theo kịch bản phát thải trung bình, vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ khu vực Nam Bộ có mức tăng từ 1,0 đến 1,4oC. Vào cuối thế kỷ 21, mức tăng nhiệt độ khu vực này từ 1,6 đến 2,5oC, riêng khu vực phía Bắc của Tây Nam Bộ có mức tăng từ 1,0 đến 1,6oC. + Theo kịch bản phát thải cao, vào cuối thế kỷ 21, mức tăng nhiệt độ từ 1,6 đến 2,8oC.
n 8 - Mùa xuân (tháng III - V) + Theo kịch bản phát thải thấp, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ mùa xuân khu vực Tây Nam Bộ có mức tăng nhiệt độ thấp nhất, từ 1,0 đến 1,6oC. + Theo kịch bản phát thải trung bình, vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ mùa xuân khu vực Tây Nam Bộ có mức tăng nhiệt độ thấp nhất, từ 1,3 đến 2,2 oC. + Theo kịch bản phát thải cao, tính đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ mùa xuân khu vực Tây Nam Bộ có mức tăng nhiệt độ thấp nhất, từ 1,3 đến 2,8 oC. - Mùa hè (tháng VI-VIII) + Theo kịch bản phát thải thấp, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ mùa hè tăng từ 1,6 đến 2,5oC trên đa phần diện tích Nam Bộ.
+ Theo kịch bản phát thải trung bình, vào giữa thế kỷ 21, cũng như trên đa phần diện tích cả nước, khu vực Tây Nam Bộ có nhiệt độ tăng từ 1,0 đến 1,4 oC, thấp nhất trong các khu vực.