Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Vấn đề tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức ở Việt Nam do nghiên cứu sinh Huỳnh Thị Mai Trinh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2022), thuộc chuyên ngành Lý luận văn học (mã số 9220120), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Jörg Thomas Engelbert và PGS. Huỳnh Văn Vân. Hội đồng chấm luận án gồm các phản biện độc lập: PGS.TS. Nguyễn Thành Thi, TS. Nguyễn Linh Chi; các phản biện hội đồng: PGS.TS. Nguyễn Thành Thi, PGS.TS. Trần Thị Phương Phương và TS. Trần Thanh Bình.

Văn học Đức là nền văn chương tư tưởng gắn liền với các tên tuổi nhận giải Nobel văn học như Thomas Mann (1929), Hermann Hesse (1946), Heinrich Böll (1972) và Günter Grass (1999). Sau hơn nửa thế kỷ lưu hành tại Việt Nam, sự tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức chịu sự quy định của các hoàn cảnh lịch sử, xã hội và chính trị qua từng thời kỳ. Đề tài xuất phát từ yêu cầu tổng kết, đánh giá sự tác động của tiểu thuyết hiện đại Đức đối với độc giả và đời sống văn học Việt Nam trên cơ sở lý thuyết tiếp nhận văn học của trường phái Konstanz.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu vắng một công trình khảo sát đầy đủ, hệ thống về lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức tại Việt Nam qua các phân kỳ lịch sử cụ thể, đặc biệt là việc phân tích các điều kiện lịch sử - xã hội chi phối sự khác biệt giữa hai miền Nam - Bắc trước năm 1975 và giai đoạn sau năm 1975 đến nay.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Tập hợp, hệ thống hóa và lập thư mục các bản dịch, bài giới thiệu, khảo cứu và phê bình tiểu thuyết hiện đại Đức tại Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đến hai thập niên đầu thế kỷ XXI.
  2. Vận dụng lý thuyết tiếp nhận của trường phái Konstanz, trọng tâm là lý thuyết lịch sử tiếp nhận của Hans Robert Jauss, để phân tích các quy luật vận động, sự biến đổi tầm đón đợi và các cụ thể hóa văn bản trong thực tiễn tiếp nhận tại Việt Nam.
  3. Đánh giá những đóng góp và tác động của tiểu thuyết hiện đại Đức đối với quá trình phát triển, hiện đại hóa thể loại tiểu thuyết và đời sống văn học Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Sự tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đến nay trên các bình diện: dịch thuật, xuất bản, giới thiệu, khảo cứu và phê bình.
  • Các công trình lý thuyết tiếp nhận của trường phái Konstanz và các tài liệu nghiên cứu, dịch thuật lý thuyết này tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi lý luận: Khảo sát lý thuyết tiếp nhận của trường phái Konstanz (qua tài liệu tiếng Việt, tiếng Đức, tiếng Anh), chọn Hans Robert Jauss làm cơ sở lý thuyết trọng tâm.
  • Phạm vi tư liệu và không gian - thời gian: Khảo sát các bản dịch và công trình phê bình tiểu thuyết của các tác giả mang quốc tịch Đức tại miền Nam và miền Bắc giai đoạn 1954-1975, trên phạm vi toàn quốc giai đoạn từ sau năm 1975 đến hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Giai đoạn trước năm 1954 chỉ được điểm qua dấu ấn thời Pháp thuộc, không khảo sát sâu. Luận án khu biệt tác giả quốc tịch Đức, không khảo sát toàn bộ văn học viết bằng tiếng Đức (Đức ngữ) của các quốc gia khác.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các nhóm công trình nghiên cứu và tài liệu liên quan:

Nhóm giáo trình, lịch sử văn học Đức:

  • Đỗ Ngoạn với Lịch sử văn học Đức thế kỷ thứ XVIII (1971, in tại Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1972), Giáo trình văn học Đức nửa đầu thế kỷ 19 (1975), Tuyển tập văn học Đức (2004) cùng các bài viết về Goethe, Heinrich Heine, Anna Seghers từ năm 1962.
  • Lương Văn Hồng với Lược sử văn học Đức từ khởi thủy tới 1930 (2000), Lược sử văn học Đức (Phần II, 1815 - 1930) (2002), và bộ Hợp tuyển văn học Đức (2 tập, đồng chủ biên với Triệu Xuân, 2005-2006).
  • Các giáo trình văn học phương Tây có phần viết về văn học Đức của Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Lương Duy Trung, Nguyễn Đức Nam (2006) và của Lê Huy Bắc, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Linh Chi (2011).

Nhóm báo chí, chuyên san và tiểu luận phê bình:

  • Miền Nam trước 1975: Tập san Văn (Văn chương tư tưởng nghệ thuật) với các số chuyên trang về Stefan Zweig (số 7/1964), Hermann Hesse (số 70/1966), Thomas Mann (số 95/1967); Tạp chí Bách Khoa với các bài viết của Tràng Thiên, Nguyễn Văn Trung, Vũ Duy Từ, Hoàng Ưng, Trần Phong Giao, Thạch Chương, Nguyễn Minh Hoàng.
  • Miền Bắc trước 1975: Tạp chí Văn học với các bài viết của Nguyễn Ngọc Lượng (về Bertolt Brecht), Đỗ Ngoạn (về Brecht, Anna Seghers), Hồng Dân Hoa (về Thomas Mann).
  • Giai đoạn sau này: Tạp chí Văn học nước ngoài với các số chuyên đề văn học Đức (năm 2002, 2005, 2007, 2011); cuốn Văn hóa Đức tiếp xúc và cảm nhận (2011) của Trần Đương.

Nhóm nghiên cứu về lý thuyết tiếp nhận tại Việt Nam:

  • Các bài viết và công trình của Huỳnh Như Phương (2018), Trần Hoài Anh (2009), Nguyễn Văn Hạnh (1971), Hoàng Trinh (1980, 1986), Vương Anh Tuấn (1982, 1983, 1990), Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung (Từ văn bản đến tác phẩm văn học 1998, Tác phẩm văn học như là quá trình 2004), Nguyễn Văn Dân (1985, 1986, 1991, 1999, 2004, 2010, 2011), Phương Lựu (Giáo trình tiếp nhận văn học 2003), Lưu Hồng Sơn (1999, 2018).
  • Các luận án tiến sĩ vận dụng lý thuyết tiếp nhận: Phan Công Khanh (2001), Phạm Thị Phương (2002), Trần Thị Quỳnh Nga (2005), Lê Thị Hồng Vân (2007), Hoàng Kim Oanh (2011), Hoàng Phong Tuấn (2014), Lê Văn Hỷ (2015), Lưu Hồng Sơn (2018), Thái Thị Hoài An (2018).

Khoảng trống luận án giải quyết và sự đối sánh với công trình trước: Đối với đề tài cấp Bộ năm 2019 và hai bài báo năm 2020 của Ôn Thị Mĩ Linh trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên và Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả luận án chỉ ra các điểm khác biệt:

  • Nghiên cứu của Ôn Thị Mĩ Linh xếp Franz Kafka (nhà văn Tiệp Khắc viết bằng tiếng Đức) vào văn học Đức và tập trung dung lượng lớn cho tác giả này, trong khi luận án của Huỳnh Thị Mai Trinh giới hạn đối tượng vào các tiểu thuyết gia quốc tịch Đức.
  • Khảo sát của Ôn Thị Mĩ Linh chưa bao quát đầy đủ tư liệu dịch thuật và nghiên cứu tiểu thuyết Đức ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, phân kỳ khảo sát chưa phản ánh trọn vẹn quy luật vận động theo tiến trình lịch sử tiếp nhận. Luận án định vị là công trình phân tích có hệ thống diện mạo dịch thuật và phê bình tiểu thuyết hiện đại Đức qua các phân kỳ lịch sử cụ thể ở cả hai miền Nam - Bắc và giai đoạn thống nhất sau năm 1975.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích:

  • Thuật ngữ "Hiện đại" và "Tiểu thuyết hiện đại Đức": Kế thừa quan điểm của Nguyễn Văn Dân, Trần Thị Phương Phương, Nguyễn Hữu Hiếu; xác định tính hiện đại gắn với sự đổi mới hình thức nghệ thuật từ cuối thế kỷ XIX qua các trào lưu Chủ nghĩa hiện thực (1850-1895), Chủ nghĩa tự nhiên (1880-1900), Chủ nghĩa ấn tượng (1890-1910). Luận án giới hạn "tiểu thuyết hiện đại Đức" tập trung vào các sáng tác thế kỷ XX và mở rộng sang hai thập niên đầu thế kỷ XXI.
  • Mỹ học tiếp nhận trường phái Konstanz: Khung lý thuyết trung tâm dựa trên các công trình của Hans Robert Jauss: Literaturgeschichte als Provokation der Literaturwissenschaft (1967), Paradigmenwechsel in der Literaturwissenschaft (1969), Ästhetische Erfahrung und literarische Hermeneutik (1977). Các khái niệm then chốt gồm: "tầm đón đợi" (Erwartungshorizont), "khoảng cách thẩm mỹ", lịch sử tiếp nhận, sự cụ thể hóa và hiện tại hóa (Aktualisierung). Đồng thời, luận án tham chiếu quan điểm của Wolfgang Iser (Cấu trúc mời gọi của các văn bản), Manfred Naumann (Song đề của mỹ học tiếp nhận), lý thuyết phê bình độc giả Mỹ (Norman N. Holland, Stanley Fish) và thi pháp học dịch thuật của Henri Meschonnic.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp vận dụng lý thuyết tiếp nhận: Phân tích vai trò của người đọc Việt Nam (nhà nghiên cứu, phê bình, dịch giả, nhà văn) trong việc cụ thể hóa văn bản theo tầm đón đợi lịch sử.
  • Phương pháp phê bình văn hóa - lịch sử: Nghiên cứu đời sống tác phẩm trong sự tương quan giữa bối cảnh văn hóa, thể chế chính trị của hai quốc gia Việt Nam và Đức.
  • Phương pháp so sánh lịch đại và đồng đại: Phân tích sự chuyển dịch của đối tượng tiếp nhận qua các mốc thời gian và so sánh sự khác biệt trong tiếp nhận giữa hai miền Nam - Bắc trong cùng giai đoạn 1954-1975.
  • Phương pháp phê bình xã hội học văn học: Khảo sát tác động của hoàn cảnh xã hội, thiết chế báo chí, xuất bản đối với việc lưu hành tác phẩm; tìm hiểu vai trò của dịch giả và giới nghiên cứu.
  • Phương pháp lịch sử - xã hội: Khảo sát các điều kiện kinh tế, chính trị chi phối việc lựa chọn văn bản dịch.
  • Lý thuyết phiên dịch học: Phân tích các hiện tượng dịch thuật trực tiếp từ nguyên bản tiếng Đức hoặc gián tiếp qua ngôn ngữ trung gian (tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung).
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp phân tích văn học với bối cảnh văn hóa, chính trị, tư tưởng.
  • Phương pháp thống kê, hệ thống hóa và tổng hợp tư liệu: Lập danh mục, phân loại và xử lý các bản dịch, bài báo, chuyên luận.

Nguồn tư liệu:

  • Các ấn bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết hiện đại Đức từ những năm 1950 đến nay.
  • Các bài viết, bài điểm sách, lời tựa, công trình nghiên cứu trên báo chí và tạp chí chuyên ngành qua các giai đoạn lịch sử.

Nội dung chính theo từng chương

Giai đoạn lịch sử Bình diện dịch thuật tiêu biểu Bình diện nghiên cứu, phê bình tiêu biểu
Miền Nam (1954 - 1975) - Dịch tập trung từ đầu thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970.
- Erich Maria Remarque: hơn 10 bản dịch (bắt đầu từ trích dịch Kẻ lạc lõng, 1951).
- Hermann Hesse: khoảng 8 tiểu thuyết (1965-1973; Hành trình về phương Đông do Hoài Khanh dịch từ tiếng Đức, 1967).
- Heinrich Böll: 4 tiểu thuyết (1969-1973).
- Thomas Mann: 4 tiểu thuyết (1967-1974).
- Günter Grass: 1 tiểu thuyết (1966).
- Giới thiệu trên Tập san Văn và Tạp chí Bách Khoa.
- Tác giả khảo cứu: Tràng Thiên, Nguyễn Văn Trung, Vũ Duy Từ, Hoàng Ưng, Trần Phong Giao, Thạch Chương, Nguyễn Minh Hoàng.
- Gắn liền với trào lưu hiện sinh, tâm lý học và hiện đại hóa văn nghệ.
Miền Bắc (1954 - 1975) - Dịch tập trung giai đoạn 1959-1963, có định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa, hòa bình, chống phát xít.
- Anna Seghers: Cây thập tự thứ Bảy (1959), Những người chết còn trẻ mãi (1963), tập truyện ngắn Tổ ong (1962).
- Bruno Apitz: Trần trụi giữa bầy sói (1962).
- Eduard Claudius: Những người bên phía chúng ta (1962, Phương Văn dịch từ tiếng Đức).
- Remarque: Phía Tây không có gì lạ (1962, Lê Huy dịch từ tiếng Pháp).
- Giới thiệu văn học Cộng hòa Dân chủ Đức.
- Tác giả khảo cứu trên Tạp chí Văn học: Đỗ Ngoạn (viết về Brecht, Anna Seghers), Nguyễn Ngọc Lượng (viết về Bertolt Brecht), Hồng Dân Hoa (viết về Thomas Mann).
- Nhấn mạnh nhiệm vụ chính trị, tư tưởng mác-xít và tình hữu nghị.
Giai đoạn 1975 - 1986 - Dịch phẩm có chọn lọc, nhịp độ chậm lại.
- Thomas Mann: Gia đình Buddenbrook (Tập 1: Hồng Dân Hoa dịch từ tiếng Trung, 1975; Tập 2: Trương Chính dịch từ tiếng Đức, 1979).
- Christa Wolf: Bầu trời chia cắt (1985).
- Remarque: Thời gian để sống và thời gian để chết (Lê Phát dịch từ tiếng Đức, 1985).
- Tái bản Trần trụi giữa bầy sói (Bruno Apitz).
- Mở rộng nghiên cứu lý luận văn học và mỹ học tiếp nhận.
- Giới thiệu Heinrich Heine, Bertolt Brecht, Anna Seghers, Christa Wolf trên các tạp chí chuyên ngành.
Từ Đổi mới (1986) đến nay - Tái bản các tác phẩm xuất bản ở cả hai miền trước 1975.
- Tăng cường dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Đức.
- Tiếp nhận dòng sách best-seller đương đại: Người đọc (Bernhard Schlink), Mùi hương (Patrick Süskind), Sống từng ngày (Benjamin Prüfer).
- Tiếp cận lý thuyết đa chiều, nghiên cứu ứng dụng mỹ học tiếp nhận.
- Nghiên cứu chuyên sâu về các tác giả Nobel: Günter Grass, Thomas Mann, Hermann Hesse, Heinrich Böll.
- Tiếp nhận đại chúng qua internet và các phương tiện truyền thông đa phương tiện.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài

Chương 1 (44 trang) xác lập diện mạo tổng quan của việc dịch thuật, nghiên cứu tiểu thuyết hiện đại Đức tại Việt Nam trong khoảng bảy thập niên, đồng thời xây dựng khung lý thuyết cho toàn bộ luận án. Tác giả giới thuyết các thuật ngữ "hiện đại", "chủ nghĩa hiện đại" và "tiểu thuyết hiện đại Đức", xác định thế kỷ XX là giai đoạn trung tâm với nhiều cách tân về nội dung và hình thức.

Về mặt lý thuyết, chương này phân tích hệ thống mỹ học tiếp nhận của trường phái Konstanz, tập trung vào ba công trình của Hans Robert Jauss: Lịch sử văn học như là sự thách thức đối với khoa học văn học (1967), Sự thay đổi hệ hình nghiên cứu văn học (1969), và Kinh nghiệm thẩm mỹ và Giải thích học văn học (1977). Tác giả làm rõ luận điểm của Jauss về việc chuyển đổi trung tâm nghiên cứu từ tác giả và tác phẩm sang người đọc, coi người đọc là lực lượng tích cực tạo nên lịch sử văn học thông qua cơ chế "tầm đón đợi" (Erwartungshorizont). Bên cạnh đó, chương 1 điểm lại các công trình dịch thuật và nghiên cứu lý luận tiếp nhận tại Việt Nam, từ những biểu hiện ban đầu ở miền Nam trước năm 1975 (qua Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Xung, Huỳnh Như Phương, Trần Hoài Anh) và miền Bắc (Nguyễn Văn Hạnh), đến các tranh luận học thuật thập niên 1980 và các công trình hệ thống hóa của Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân, Phương Lựu sau Đổi mới.

Chương 2: Tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975

Chương 2 (44 trang) khảo sát thực tiễn tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức tại miền Nam trong bối cảnh xã hội đô thị và sự phát triển của hệ thống báo chí, xuất bản tư nhân. Tiểu thuyết Đức được dịch tập trung từ đầu thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, chủ yếu qua ngôn ngữ trung gian là tiếng Pháp và tiếng Anh, với bản dịch trực tiếp từ tiếng Đức đầu tiên là Hành trình về phương Đông của Hermann Hesse do Hoài Khanh dịch năm 1967.

Về tác giả và tác phẩm:

  • Erich Maria Remarque là nhà văn được dịch nhiều nhất với hơn 10 bản dịch tiểu thuyết (khởi đầu từ trích dịch Kẻ lạc lõng năm 1951 đến năm 1974), phản ánh tâm trạng phản chiến và khủng hoảng tinh thần của thanh niên đô thị miền Nam.
  • Hermann Hesse có khoảng 8 tiểu thuyết được ấn hành từ 1965 đến 1973 (Câu chuyện dòng sông, Sói đồng hoang, Narziss và Goldmund qua bản dịch của Phùng Khánh, Vũ Đình Lưu), gắn với nhu cầu tìm kiếm tư tưởng phương Đông và triết lý nhân sinh.
  • Heinrich Böll có 4 tiểu thuyết được dịch trong giai đoạn 1969-1973.
  • Thomas Mann có 4 tiểu thuyết được dịch từ 1967 đến 1974.
  • Günter Grass được trích dịch từ năm 1963 và có tiểu thuyết dịch năm 1966, trước khi tác giả này nhận giải Nobel.

Bình diện nghiên cứu, phê bình thể hiện qua các bài viết, điểm sách của Tràng Thiên, Nguyễn Văn Trung, Vũ Duy Từ, Hoàng Ưng, Trần Phong Giao trên Tập san Văn và Tạp chí Bách Khoa, phản ánh tầm đón đợi của giới trí thức tiếp cận tiểu thuyết Đức qua lăng kính triết học hiện sinh và tâm lý học nghệ thuật.

Chương 3: Tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức ở miền Bắc giai đoạn 1954 - 1975

Chương 3 (31 trang) phân tích sự tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức tại miền Bắc dưới sự chi phối của tư tưởng Mác-xít và định hướng văn học phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như mối quan hệ bang giao với Cộng hòa Dân chủ Đức.

Bình diện dịch thuật diễn ra tập trung trong giai đoạn 1959-1963 với số lượng tác phẩm chọn lọc:

  • Anna Seghers là tác giả trọng tâm với hai bộ tiểu thuyết lớn được dịch từ tiếng Pháp gồm Cây thập tự thứ Bảy (1959), Những người chết còn trẻ mãi (1963) và tập truyện ngắn Tổ ong (1962).
  • Bruno Apitz với tiểu thuyết Trần trụi giữa bầy sói (1962).
  • Eduard Claudius với Những người bên phía chúng ta (1962), do Phương Văn dịch trực tiếp từ tiếng Đức.
  • Erich Maria Remarque có tác phẩm Phía Tây không có gì lạ do Lê Huy dịch từ tiếng Pháp năm 1962.

Bình diện nghiên cứu, phê bình trên Tạp chí Văn học tập trung giới thiệu diện mạo văn học Cộng hòa Dân chủ Đức và các tác giả gắn với khuynh hướng tiến bộ, chống phát xít như Bertolt Brecht, Anna Seghers, Thomas Mann qua các bài viết của Đỗ Ngoạn, Nguyễn Ngọc Lượng, Hồng Dân Hoa. Tầm đón đợi của người đọc miền Bắc giai đoạn này ưu tiên các tác phẩm có nội dung lưu vong chống phát xít, phản kháng chiến tranh đế quốc và ca ngợi tình đoàn kết quốc tế.

Chương 4: Sự tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức ở Việt Nam từ sau năm 1975

Chương 4 (31 trang) khảo sát tiến trình tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức trên phạm vi cả nước từ sau ngày thống nhất đất nước qua hai giai đoạn:

Giai đoạn 1975 - 1986: Hoạt động dịch thuật diễn ra với nhịp độ chậm do hoàn cảnh kinh tế - xã hội sau chiến tranh, song xuất hiện các bản dịch đáng chú ý:

  • Gia đình Buddenbrook của Thomas Mann: Tập 1 do Hồng Dân Hoa dịch từ tiếng Trung (1975), Tập 2 do Trương Chính dịch trực tiếp từ tiếng Đức (1979).
  • Bầu trời chia cắt của nữ nhà văn Christa Wolf (1985).
  • Thời gian để sống và thời gian để chết của Erich Maria Remarque do Lê Phát dịch từ tiếng Đức (1985).
  • Tái bản tiểu thuyết Trần trụi giữa bầy sói của Bruno Apitz.

Giai đoạn từ sau Đổi mới (1986) đến hai thập niên đầu thế kỷ XXI: Bối cảnh giao lưu quốc tế mở rộng tạo điều kiện cho sự đa dạng hóa dịch thuật và nghiên cứu:

  • Tái bản đồng loạt các bản dịch tiểu thuyết của các tác giả từng xuất hiện ở miền Nam và miền Bắc trước năm 1975 (Hermann Hesse, Remarque, Heinrich Böll, Thomas Mann, Anna Seghers).
  • Đội ngũ dịch giả chuyển dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Đức ngày càng chiếm ưu thế so với việc dịch qua tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.
  • Sự xuất hiện của các tác phẩm best-seller đương đại: Người đọc của Bernhard Schlink, Mùi hương của Patrick Süskind, Sống từng ngày của Benjamin Prüfer.
  • Sự chuyển dịch trong phương thức tiếp nhận: người đọc tiếp cận thông tin song song với thế giới qua internet và các phương tiện truyền thông đa phương tiện.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án khai thác hệ thống lý thuyết lịch sử tiếp nhận của trường phái Konstanz, trọng tâm là các quan điểm của Hans Robert Jauss, để phân tích tiến trình vận động của văn học nước ngoài tại Việt Nam.
  • Luận án làm rõ cơ chế tương tác giữa tầm đón đợi của người tiếp nhận với các điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa của từng vùng miền và từng thời kỳ lịch sử cụ thể.

Về mặt thực tiễn:

  • Luận án tập hợp và hệ thống hóa thư mục các bản dịch tiểu thuyết hiện đại Đức cùng các bài khảo cứu, phê bình tại Việt Nam trong hơn 70 năm (từ giữa thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI).
  • Luận án chỉ ra các quy luật tiếp nhận: sự phân hóa rõ nét về thị hiếu và định hướng lựa chọn tác phẩm giữa miền Nam và miền Bắc giai đoạn 1954-1975; sự tiếp nối, hợp lưu và mở rộng dịch thuật trực tiếp từ nguyên bản tiếng Đức sau năm 1975 và sau Đổi mới.

Đề xuất và kiến nghị:

  • Tăng cường hoạt động dịch thuật trực tiếp từ nguyên bản tiếng Đức nhằm đảm bảo tính chuẩn xác về mặt ngữ nghĩa và văn hóa.
  • Mở rộng các hướng nghiên cứu liên ngành trong việc tiếp nhận văn học nước ngoài, kết hợp giữa lý thuyết tiếp nhận với xã hội học văn học và văn học so sánh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Luận án chưa khảo sát sâu các dấu ấn tiếp nhận tiểu thuyết Đức giai đoạn trước năm 1954 thời kỳ Pháp thuộc.
  • Luận án giới hạn phạm vi ở các tác giả mang quốc tịch Đức, chưa mở rộng khảo sát toàn diện các nhà văn thuộc không gian văn hóa Đức ngữ (như Franz Kafka, Stefan Zweig hay các tác giả Áo, Thụy Sĩ).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo sát sang toàn bộ nền văn học viết bằng tiếng Đức (Đức ngữ) tại Việt Nam.
  • Ứng dụng các quan điểm lý thuyết hậu Konstanz và tâm lý học tiếp nhận để khảo sát hành vi tiếp nhận văn học Đức của độc giả đương đại trên không gian mạng và các diễn đàn trực tuyến.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lý luận văn học, Văn học so sánh, Văn học nước ngoài và Ngôn ngữ học ứng dụng trong việc tiếp cận phương pháp luận của mỹ học tiếp nhận trường phái Konstanz.
  • Giảng viên giảng dạy lịch sử văn học phương Tây và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thế kỷ XX.
  • Các dịch giả tiếng Đức, các nhà xuất bản và các nhà nghiên cứu lịch sử xuất bản, báo chí văn nghệ tại Việt Nam trong việc nắm bắt lịch sử dịch thuật và thị hiếu tiếp nhận văn học Đức.

Câu hỏi thường gặp

  1. Bản dịch tiểu thuyết Đức đầu tiên được dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Đức tại miền Bắc và miền Nam xuất hiện vào thời gian nào và do ai thực hiện? Tại miền Bắc, bản dịch trực tiếp từ tiếng Đức đầu tiên là Những người bên phía chúng ta của Eduard Claudius do Phương Văn dịch vào năm 1962. Tại miền Nam, bản dịch trực tiếp từ tiếng Đức đầu tiên là Hành trình về phương Đông của Hermann Hesse do Hoài Khanh dịch vào năm 1967.

  2. Yếu tố nào tạo nên sự khác biệt trong việc lựa chọn tác giả tiểu thuyết Đức giữa miền Bắc và miền Nam giai đoạn 1954 - 1975? Sự khác biệt bắt nguồn từ bối cảnh chính trị, xã hội và thể chế xuất bản của hai miền. Miền Bắc định hướng lựa chọn các tác phẩm phục vụ nhiệm vụ cách mạng, tư tưởng mác-xít và tình đoàn kết với Cộng hòa Dân chủ Đức (như Anna Seghers, Bruno Apitz, Eduard Claudius). Miền Nam chịu ảnh hưởng của các trào lưu triết học phương Tây, thị trường xuất bản tư nhân và tâm lý thời chiến của thanh niên đô thị, ưu tiên các tác phẩm về hiện sinh, thân phận con người và phản chiến (như Erich Maria Remarque, Hermann Hesse, Heinrich Böll).

  3. Quá trình xuất bản bản dịch tiểu thuyết Gia đình Buddenbrook của Thomas Mann sau năm 1975 có điểm gì đặc biệt? Tác phẩm này được dịch và xuất bản thành hai tập qua hai ngôn ngữ nguồn khác nhau: Tập 1 do Hồng Dân Hoa dịch từ bản tiếng Trung, xuất bản năm 1975 (với tên Gia đình Bút-đen-brúc); Tập 2 do Trương Chính dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Đức, xuất bản năm 1979.

  4. Luận án phân biệt phạm vi đối tượng nghiên cứu với các công trình của tác giả Ôn Thị Mĩ Linh như thế nào? Luận án của Huỳnh Thị Mai Trinh giới hạn đối tượng vào các tiểu thuyết gia mang quốc tịch Đức, trong khi đề tài của Ôn Thị Mĩ Linh gộp chung các tác giả viết bằng tiếng Đức (Đức ngữ) và dành dung lượng lớn cho Franz Kafka (nhà văn Tiệp Khắc). Đồng thời, luận án khảo sát toàn diện tư liệu tiếp nhận ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 mà các bài viết của Ôn Thị Mĩ Linh chưa đề cập đầy đủ.

  5. Những tiểu thuyết Đức đương đại nào thuộc dạng sách bán chạy (best-seller) được ghi nhận trong luận án ở giai đoạn đầu thế kỷ XXI? Các tác phẩm best-seller đương đại được luận án ghi nhận gồm có: Người đọc (The Reader) của Bernhard Schlink, Mùi hương (Perfume) của Patrick Süskind, và Sống từng ngày của Benjamin Prüfer.

Kết luận

Luận án Vấn đề tiếp nhận tiểu thuyết hiện đại Đức ở Việt Nam của Huỳnh Thị Mai Trinh là công trình nghiên cứu chuyên ngành Lý luận văn học, vận dụng mỹ học tiếp nhận trường phái Konstanz để tổng kết lịch sử tiếp nhận một nền văn học nước ngoài. Công trình đã tái hiện diện mạo dịch thuật, xuất bản và phê bình tiểu thuyết hiện đại Đức qua các phân kỳ lịch sử từ năm 1954 đến đầu thế kỷ XXI, làm rõ sự khác biệt giữa hai miền Nam - Bắc trước năm 1975 và quá trình hội nhập sau năm 1975. Luận án cung cấp hệ thống tư liệu thư mục cùng khung phân tích tiếp nhận phục vụ công tác nghiên cứu văn học so sánh và lý luận văn học tại Việt Nam.