PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Lực lượng lao động là một trong những nguồn lực không thể thiếu trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Đồng thời có vai trò là động lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2014 là 53,7 triệu người, tăng so với năm trước là 498 nghìn người (1%) bao gồm 52,7 triệu người có việc làm và có 1 triệu người thất nghiệp, lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 69,3%.
Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động là 77,7%, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ và không đồng đều giữa các vùng, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị. Trong tổng số 733,6 nghìn người di cư từ 15 tuổi trở lên có hơn bốn phần năm (81,7%) tham gia vào lực lượng lao động [12]. Cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, các khu công nghiệp, khu kinh tế phát triển với tốc độ cao nên tình trạng di dân đến các khu công nghiệp ngày càng gia tăng. Để sinh sống và hòa nhập thì người lao động cũng có nhu cầu lớn đối với các dịch vụ hành chính công tại nơi cư trú, chẳng hạn: giấy tạm trú tạm vắng; hộ khẩu; giấy khai sinh; bảo hiểm lao động…vv và nhiều loại giấy tờ khác.
Song trên thực tế, hiện nay việc tiếp cận của họ với các dịch vụ này vẫn còn nhiều trở ngại và khó khăn nhất định, tình trạng bộ máy cồng kềnh, chức năng chồng chéo, tính không công khai trong các thủ tục hành chính, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của người cung ứng dịch vụ còn nhiều bất cập, hạn chế. Tình trạng bất bình đẳng phân biệt đối xử trong việc tiếp cận dịch vụ vẫn còn khá phổ biến. Cải cách dịch vụ hành chính công là một yêu cầu cấp thiết cho người lao động, bởi nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công thể hiện rõ bản chất: “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước ta. Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 xác định “Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: cải cách thể chế; 7 z xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công”.
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII (năm 1999) lần đầu tiên đề cập đến khái niệm “dịch vụ công”. Nghị quyết còn yêu cầu “tiến hành từng bước việc phân định rõ biên chế trong bộ máy hành chính với biên chế trong các đơn vị sự nghiệp, kinh tế, dịch vụ công; thí điểm việc xã hội hóa một số lĩnh vực dịch vụ, y tế, giáo dục, khoa học và hoạt động văn hóa, thể thao…trước hết là ở các thành phố và các khu công nghiệp. Khu công nghiệp Bắc Thăng Long là nơi thu hút rất nhiều người lao động đến từ các tỉnh khác nhau trong cả nước. Có thể nói đây là một trong những khu công nghiệp được xem là điểm sáng của Hà Nội về phát triển ngành công nghiệp cơ điện tử xuất khẩu, bao gồm cả công đoạn sản xuất lắp ráp cũng như sản xuất chế tạo chi tiết linh kiện.
Khu công nghiệp này đã thu hút được trên 60 nghìn lao động, mỗi doanh nghiệp cũng thu hút tới vài nghìn lao động. Do vậy, đây là địa bàn có nhiều lao động phần lớn là dân nhập cư. Do vậy, các vấn đề có liên quan tới hành chính công đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết mà nhiều người lao động ở đây rất quan tâm. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Người lao động trong khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của chính quyền địa phương hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long, huyện Đông Anh, Hà Nội), kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ chỉ ra thực trạng tiếp cận dịch vụ, cũng như sẽ phân tích rõ được thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công, mặt khác qua đề tài cũng làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ từ phía người lao động và chính quyền địa phương.
Từ đó, có thể đưa ra được một số khuyến nghị với mục đích cải thiện và nâng cao hơn chất lượng dịch vụ hành chính công ở cấp cơ sở xã/ phường hiện nay. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Lực lượng lao động là một trong những bộ phận quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Vì vậy, các vấn đề xã hội có liên quan tới người lao động luôn nhận được sự quan tâm của xã hội. Liên quan tới tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động là một vấn đề mới và cấp thiết đối với người lao động, hiện nay đã có nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài về vấn đề này, cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công.
Các nghiên cứu về thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động Nhằm tháo gỡ các khó khăn và hạn chế liên quan tới hành chính công, thì với đề tài“Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam” (thuộc chương trình nghiên cứu: các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam) chủ nhiệm đề tài là PGS.TS Lê Chi Mai. Đề tài đã phân tích thực trạng cung ứng các dịch vụ hành chính công ở nước ta hiện nay, từ đó kiến nghị các giải pháp cải tiến việc cung ứng dịch vụ này nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân của bộ máy nhà nước. Trong đề tài đã mô tả và làm rõ về mặt lý luận khái niệm và nội dung của dịch vụ hành chính công. Đề tài tập trung nghiên cứu các dịch vụ hành chính công do các cơ quan hành chính nhà nước cung ứng thông qua tiến hành khảo sát thực tiễn cung ứng 7 loại dịch vụ hành chính công chủ yếu hiện nay (bao gồm thu thuế, cấp giấy phép đầu tư nước ngoài, hải quan, công chứng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, xuất nhập cảnh, giấy đăng ký kinh doanh).
Đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu phổ biến để đạt được mục tiêu đề ra như là: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê. Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu phân tích việc người lao động nói riêng tiếp cận như thế nào với các dịch vụ hành chính công đó cũng như có những yếu tố nào ảnh hưởng, khó khăn và thuận lợi khi tiếp cận dịch vụ hành chính công. 9 z Cùng với nội dung đổi mới hành chính công thì bài viết “Một số vấn đề đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam” của TS. Đặng Đức Đạm, phó trưởng Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ.
Với các trình bày chi tiết các khái niệm có liên quan tới dịch vụ công ở nước ta, trong đó có hành chính công, hơn nữa bài viết cũng nêu ra thực trạng, vấn đề và yêu cầu đổi mới quản lý dịch vụ công. Hơn nữa bài viết cũng đề cập tới một số đổi mới chế độ tài chính đối với dịch vụ công, tuy nhiên bài viết chưa làm rõ cụ thể các loại dịch vụ công hiện nay, mặt khác cũng chưa đề cập tới việc tiếp cận các loại dịch vụ này như thế nào? Cũng như hình thức tiếp cận các loại dịch vụ công ra sao. Với nghiên cứu của Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc: Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị. Nhà xuất bản Phụ nữ Hà Nội, 2002.
Công trình đã sử dụng nhiều phương pháp phỏng vấn sâu trên diện rộng cả địa bàn và đối tượng. Trong đó có các nội dung chính như: Bối cảnh, tình hình, lý do di cư vào các thành phố lớn và lý do di cư của lao động nữ vào các thành phố; việc làm và đời sống của lao động nữ di cư tự do vào thành phố (việc làm, thu nhập, sức khỏe, chăm sóc y tế, điều kiện sống, quan hệ xã hội); ảnh hưởng của lao động nữ di cư đối với các thành phố (nơi nhập cư) dư luận xã hội đối với lao động nữ di cư vào thành phố; xu hướng và giải pháp cho vấn đề lao động nữ di cư vào thành phố. Mặc dù, đã trình bày một số vấn đề có liên quan tới người lao động tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại ở việc mô tả các yếu tố có liên quan tới người lao động di cư nhưng chưa làm rõ được vấn đề tiếp cận với các dịch vụ xã hội, trong đó là hành chính công. Nghiên cứu tiếp về vấn đề này bài viết “Việc làm và đời sống của người lao động theo thời vụ từ nông thôn ra Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội và xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), của tác giả Nguyễn Thị Bích Nga, tạp chí Xã hội học số 2 (82), 2003.
Nghiên cứu được tiếp cận theo phương pháp mô tả thực trạng, vận dụng quan điểm giới và phát triển trong quá trình thực hiện, xem xét mối tương quan giữa nam và nữ trong mối quan tâm và bối cảnh chung của vấn đề di chuyển lao động nông thôn – thành 10 z thị. Bài viết đã chỉ ra một số đặc điểm về việc làm và đời sống của người lao động cụ thể như là: Nghề của lao động nam, nữ tại Hà Nội tương tự nhau, đơn giản, phổ thông và sử dụng lao động cơ bắp là chính; Cả nam và nữ đều không chỉ làm một nghề cố định mà còn làm thêm bất cứ công việc gì có thể tạo ra thu nhập; Cùng một nhóm nghề nhưng thu nhập của nam cao hơn nữ, do chi tiêu cá nhân của nam cao hơn nên số tiền gửi về gia đình của nam và nữ tương đương; Khả năng chuyển đổi vị trí làm việc của người lao động thấp.