Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2. Đặc điểm cơ bản khu vực nghiên cứu Chương 3. Nội dung, phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận, tồn tại, kiến nghị Phần phụ lục thể hiện các kết quả nghiên cứu trung gian. Ngoài ra luận án còn có đầy đủ các phần như: lời cam đoan, mục lục, danh lục, bảng biểu, hình ảnh, danh lục các từ viết tắt, danh lục các công trình khoa học có liên quan đến luận án đã công bố. Luận án tham khảo 124 tài liệu, trong đó có 63 tài liệu tiếng Việt, 61 tài liệu tiếng Anh và các trang mạng có liên quan đến chủ đề nghiên cứu. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Một số khái niệm liên quan sử dụng trong luận án 1. Nương rẫy Nương rẫy được hiểu là ruộng ở vùng đồi núi, là khoảnh rừng hay đất lâm nghiệp có các dạng thực bì phát đốt để trồng cây nông nghiệp (lúa nương, ngô, sắn, chè…). Hoạt động diễn ra trên nương rẫy có thể liên tục theo nhiều năm hay ít năm, phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng đất. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2007, diện tích nương rẫy của đồng bào dân tộc ít người thuộc các tỉnh vùng cao hiện có khoảng 1,2 triệu ha, phân bố rộng trên địa hình dốc lớn, có độ cao từ 300 mét trở lên, trong đó tập trung ở vùng Tây Bắc chiếm 43% tổng diện tích nương rẫy trong toàn quốc [1].
Canh tác nương rẫy Canh tác nương rẫy (CTNR) được coi là một loại hình canh tác truyền thống nẳm trong hệ sinh thái nông nghiệp của vùng đồi núi, còn được coi là nông nghiệp du canh. Hoạt động canh tác này diễn ra theo trình tự: Chặt cây - đốt nương - làm rẫy (trồng cây nông nghiệp), sau một thời gian canh tác, đất được bỏ hóa để phục hồi lại độ phì nhiêu, đáp ứng cho chu kì canh tác sau. CTNR được triển khai rộng rãi ở vùng đồi núi các nước châu Á, châu Phi và Mỹ Latin từ rất lâu (theo Mazoyer và Raudard, 2006) [101]. “Canh tác nương rẫy được coi là hệ thống canh tác nông nghiệp, trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa”, Conklin H.
Bỏ hóa trong canh tác nương rẫy Đất bỏ hoá là một hiện trạng trong canh tác nương rẫy. Còn được hiểu là đất nghỉ, không tiếp tục phục vụ cho hoạt động canh tác nương rẫy với mục đích nhằm khôi phục lại độ phì tự nhiên. Trên thực tế, sự nhìn nhận về vấn đề bỏ hoá đất được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể: 5 Sau mỗi chu kì canh tác, đất tạm thời bị bỏ hoá, nghĩa là đất được che phủ bởi các loài cây tự nhiên hoặc được trồng, mục đích làm trẻ hoá độ phì tự nhiên của đất hoặc ngăn chặn côn trùng và các vật gây hại khác. Đất bỏ hoá được sử dụng để trồng các loài cây có giá trị sản xuất hàng hoá.
Hoặc thời gian bỏ hoá không được kéo dài trên 4 năm. Sự nhìn nhận này cho thấy khái niệm bỏ hoá chưa được hiểu một cách sâu sắc, chưa giải thích được lí do tại sao phải bỏ hoá đất trong thực tiễn sản xuất. Một số quan điểm khác, việc bỏ hoá đất nhằm mục đích làm giảm xói mòn đất sau hoạt động canh tác, có cơ hội thu hái sản phẩm lâm sản ngoài gỗ như tre trúc, nấm…phục vụ đời sống. Như vậy, vấn đề bỏ hoá sau canh tác nương rẫy phải được hiểu một cách đúng đắn, có cơ sở khoa học, cụ thể là: - Bỏ hoá hiệu quả: Quản lý tổ thành những loài cây có thể thúc đẩy tốt cho việc phục hồi tự nhiên của đất.
- Bỏ hoá sản xuất: Mục đích nhằm hướng thảm thực vật bỏ hoá phải có những loài cây có giá tri kinh tế. Điều này dẫn tới hình thành mô hình sản xuất theo kiểu nông lâm kết hợp sau này. - Giữ lại và xúc tiến thúc đẩy hỗ trợ các loài cây tiên phong: Đưa các loài có giá trị kinh tế hàng hoá vào trồng ở đất bỏ hoá như song, mây… - Bỏ hoá dựa trên cơ sở xúc tiến cây bụi phát triển: Sử dụng, lựa chọn các loài cây có giá trị bảo vệ đất, nâng cao độ phì đất như cây họ đậu, ngô và các cây hoa màu khác. - Bỏ hoá với các cây họ đậu, thân thảo hoặc trồng cây lưu niên theo luân kì.
- Nông nghiệp rừng còn gọi là mô hình canh tác nông lâm kết hợp. - Chăn nuôi và quản lý bỏ hoá theo hướng xúc tiến thành phần cây cho thức ăn gia súc. Phục hồi rừng Phục hồi rừng (PHR) là quá trình biến đổi tuần tự theo hướng đi lên của các kiểu thảm thực vật để hình thành một quần xã rừng tương đối ổn định. Theo 6 quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu.
Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán (Trần Đình Lý, 1995) [26]. Trong nghiên cứu này, ông đã đưa ra chỉ tiêu định lượng xác định rừng non tái sinh đối với rừng gỗ là: độ tàn che của cây gỗ có chiều cao từ 3m trở lên đạt 0,3. Phục hồi rừng tự nhiên là quá trình hình thành rừng thứ sinh (secondary forest) do diễn thế đi lên ở nơi rừng đã bị mất hoặc bị khai thác cạn kiệt. Phục hồi rừng là một quá trình sinh học gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới thảm cây gỗ bắt đầu khép tán.
Quá trình phục hồi sẽ tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học xuất hiện, đảm bảo cho sự cân bằng này tồn tại liên tục (Võ Đại Hải và cs, 2003) [13]. Như vậy, phục hồi rừng là quá trình bao gồm tập hợp các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng liên hoàn nhằm thiết lập lại hệ sinh thái rừng hoặc đảo ngược lại quá trình suy thoái, loại bỏ những yếu tố ảnh hưởng đến sự mất rừng. Cho nên, để hiểu rõ về phục hồi rừng và đưa ra giải pháp phục hồi rừng đạt hiệu quả cần xuất phát từ các quan điểm về suy thoái rừng. Theo Luật Lâm nghiệp (2017) đã nêu rõ khái niệm về suy thoái rừng là sự suy giảm về hệ sinh thái rừng, làm giảm chức năng của rừng [33].
Một số khác quan niệm suy thoái rừng bao gồm cả sự chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và sử dụng rừng theo kiểu bóc lột, dù cho nó thoả mãn các lợi ích kinh tế và xã hội (Wilde Jong và cs, 2006) [122]. (1993) [84] đã đưa ra khái niệm suy thoái thảm thực vật bằng cách định nghĩa là một sự giảm sút “tạm thời hoặc vĩnh viễn” về mật độ, cấu trúc, tổ thành loài hoặc năng suất của thảm thực vật. Theo Tổ chức Nông lương Liên 7 hợp quốc – FAO (2000) đã đưa đến kết luận rằng: Suy thoái rừng là sự suy giảm độ tàn che và sức sản xuất của đất rừng [81]. Theo Chương trình Môi trường liên hiệp quốc – UNEP (2001) suy thoái là rừng thứ sinh bị phá vỡ cấu trúc chức năng, tổ thành loài cây hoặc năng suất giảm xuống thông qua các hoạt động của con người [77].
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu – IPCC (2003) cũng đưa ra quan niệm về suy thoái rừng là sự mất đi các giá trị của rừng, đặc biệt là giá trị tích lũy Các bon [90]. Skutsch và Trines (2008) [112] cho rằng, suy thoái rừng là sự mất đi một phần sinh khối do khai thác gỗ hoặc các nguyên nhân khác về khai thác sinh khối. Theo Tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tế – ITTO (2002, 2005) đã chỉ rõ suy thoái rừng là những thay đổi trong rừng có ảnh hưởng tiêu cực tới cấu trúc và chức năng của rừng, là sự suy giảm dài hạn các lợi ích cung cấp tiềm năng từ rừng [88], [89].D và Gilmour (2003) [97], John và cs (2014) [91] đã đưa ra ba nhóm hành động nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng là cải tạo, khôi phục và phục hồi rừng. - Cải tạo hay là thay thế (reclamation or replacement): Theo cách hiểu này Harrington (1999) [86], Kumar H.
D và Gilmour (2003) [97] đều cho rằng phục hồi rừng là quá trình tái thiết lập khả năng sản xuất của hệ sinh thái ở một mức nào đó mà không nhất thiết phải có sự hiện diện của tất cả các loài động, thực vật như hệ sinh thái rừng nguyên sinh. - Khôi phục (restoration): Lamb. D và Gilmour (2003) [97] cho rằng: quá trình phục hồi rừng có thể đưa cấu trúc và sản lượng của hệ sinh thái tương đương với hệ sinh thái nguyên sinh bao gồm cả thành phần thực vật, động vật và toàn bộ các quá trình sinh thái dẫn đến sự khôi phục lại hoàn toàn tính tổng thể của hệ sinh thái. - Phục hồi (rehabilitation): Phục hồi rừng được hiểu là trung gian giữa cải tạo và khôi phục.
8 Hiện nay, quan điểm về phục hồi rừng được chia thành ba nhóm chính như sau: Một là, phục hồi rừng là đưa rừng đến trạng thái hoàn chỉnh, tiếp cận với trạng thái trước khi bị tác động. Theo quan điểm này có các tác giả Cairns (1995), Jordan (1995) và Egan (1996) (dẫn theo Vũ Tiến Hinh và cs, 2006) [15]. Hai là, nhấn mạnh hệ sinh thái rừng phải được phục hồi tới mức độ bền vững nào đó bằng con đường tự nhiên hoặc nhân tạo mà không nhất thiết giống như hệ sinh thái ban đầu. Đây là quan điểm nhận được nhiều sự tán đồng nhất của nhiều tác giả như: Harrington (1999) [86]; Kumar (1999) [94]; Bradshaw (2002) [72]; Lamb.
Ba là, tập trung vào việc xác định các nguyên nhân và yếu tố rào cản của quá trình phục hồi rừng. Điển hình là nghiên cứu của ITTO (2002) [88] đã nhấn mạnh, những khu vực đất rừng đó bị thoái hóa, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất thấp, kết cấu không tốt, nhiều mầm bệnh, xói mòn mạnh và lửa rừng. Để phục hồi rừng cần phải xác định các nhân tố ảnh hưởng tới sự mất rừng (stress factors), từ đó hạn chế hoặc loại bỏ chúng. Đây được coi như một quan điểm mới về phục hồi rừng, vì nó đã bước đầu gắn kết phục hồi rừng với các yếu tố xã hội, trong khi nguyên nhân chính gây mất rừng tại các nước nhiệt đới chính là con người.