CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHÀ THẦU 1. Sự hình thành khách quan thuế nhà thầu Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan của lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và Pháp luật. Nhà nước của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử có bản chất, chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau. Và để duy trì sự tồn tại thì cần thiết phải có những nguồn tài chính để chi tiêu, chính vì vậy, sự hình thành nguồn thu từ thuế là tất yếu và khách quan.
Trong quá trình phát triển đó, trong suốt hơn 50 năm qua, cải cách hệ thống chính sách thuế cũng như việc ban hành các quy định khác nhau về thuế đối với nhiều lĩnh vực đã thay đổi theo những xu hướng khá rõ rệt. Nhìn lại, có bảy khuynh hướng phát triển của thuế trên thế giới, bao gồm: (1) xu hướng gia tăng tỷ lệ động viên từ thuế so với tổng thu nhập quốc nội; (2) xu hướng cắt giảm thuế suất biên đối với thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp; (3) xu hướng mở rộng cơ sở đánh thuế thu nhập; (4) xu hướng đơn giản hóa biểu thuế suất và giảm nhẹ mức lũy tiến đối với thuế thu nhập cá nhân; (5) xu hướng áp dụng thuế giá trị gia tăng và cắt giảm thuế quan; (6) xu hướng giảm dần thuế trực thu, tăng tỷ lệ thuế gián thu ở các nước phát triển, xu hướng tăng tỷ lệ thuế trực thu và giảm dần tỷ lệ thuế gián thu ở các nước đang phát triển; và (7) xu hướng đơn giản hóa hệ thống thuế nhằm giảm thiểu chi phí hành thu mà chủ yếu thông qua cơ chế tự khai tự nộp trong hệ thống thuế. Và trong thời đại ngày nay, khi mà các yếu tố của sản xuất đã được quốc tế hóa một cách sâu sắc, không một quốc gia nào có thể đạt được tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển nếu không tham gia vào quá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 2 trình này, nhất là toàn cầu hóa luôn gắn với cải cách cơ cấu kinh tế của từng nước dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu giữa các nước. Quá trình toàn cầu hóa hiện nay là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế thế giới mới bảo đảm phân phối lợi ích công bằng hơn, hợp lý hơn.
Với quá trình phát triển như vậy nên các quốc gia phải đứng trước một yêu cầu chung, chính là phải mở cửa thị trường kinh tế của quốc gia để cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước mình mà không hạn chế lĩnh vực đầu tư, và phải tuân theo ba nguyên tắc cơ bản: (1) không phân biệt đối xử giữa hàng hóa nước này với hàng hóa nước khác, giữa hàng hóa nước mình với hàng hóa nước khác, giữa doanh nghiệp nước mình với doanh nghiệp nước khác; (2) thực hiện minh bạch, công khai trong cơ chế chính sách để mọi thương nhân, mọi người có quyền và cơ hội tiếp cận thông tin như nhau, tạo ra điều kiện bình đẳng trong hoạt động kinh doanh và (3) thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Do vậy, với những xu hướng phát triển như vậy nên các quốc gia đã hình thành nên các chính sách khác nhau trong quá trình hội nhập, trong đó có việc tạo lập, sửa đổi, bổ sung, thay thế… các chính sách thuế hiện tại của quốc gia mình trong các lĩnh vực cho phù hợp với thông lệ chung của thế giới. Chúng ta có thể thấy rằng, tại các quốc gia, thuế tác động và chi phối đến nhiều hoạt động và nhiều lĩnh vực khác nhau, cụ thể các lĩnh vực như: sản xuất, thương mại, xây dựng, dịch vụ, ngân hàng, đầu tư,… Không những chỉ tác động đến nhiều lĩnh vực hay ngành nghề khác nhau trong một quốc gia mà tại các nước này, quá trình phát triển còn được diễn ra bằng quá trình mở rộng đầu tư đến các quốc gia thông qua các hoạt động đầu tư vào các ngành đa dạng và phong phú. Quá trình đầu tư của các quốc gia chính là quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh tại các nước khác.
Họ sẽ có mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với các cơ sở kinh doanh, cùng nhau thiết lập nên các tổ chức có tư cách hoặc không có tư cách pháp nhân tại các nước mà họ đến đầu tư. Quá trình này bắt đầu phát triển trên thế giới trong giai đoạn sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, cụ thể là từ năm 1945 đến những năm đầu của thập niên năm 1960. Từ năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 3 đó trở đi, việc đầu tư đã nhanh chóng lan nhanh, mạnh và phát triển tại hầu hết các quốc gia, có số vốn đầu tư kể cả trực tiếp và gián tiếp chiếm khoảng 20% tổng thu nhập quốc gia của thế giới. Sơ đồ sau sẽ minh chứng quá trình phát triển của sự đầu tư trên thế giới qua các mốc thời gian: Bảng 1.1 : Mức độ thay đổi của lượng đầu tư qua các năm (đvt: tỷ USD) Nguồn: The World Bank report for the year 2008 Cũng trên cơ sở quá trình phát triển nhanh chóng đó, các chuyên gia của tổ chức IMF đã xác định cũng như ước tính được số vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp thông qua bảng số liệu sau: Bảng 1.2 : Dòng chảy vốn quốc tế (đvt: tỷ USD) Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Dòng vốn 563.0 quốc tế % thay đổi -8.4 các năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 4 % GDP 1.3 các nước đang phát triển % thay đổi -15.7 thị trường mới nổi % thay đổi 6.6 Nguồn: World Investment Prospects to 2011 Với mức vốn đầu tư tăng dần qua mỗi năm thì chúng ta có thể thấy rằng hoạt động kinh doanh đang phát triển và việc đầu tư tại các quốc gia đã trở thành hoạt động thông thường.
Các nước sẽ đem vốn của mình đến đầu tư thông qua các hình thức khác nhau, dưới dạng các tổ chức, cá nhân thể hiện qua tư cách là các nhà thầu để tham gia quá trình này. Từ đó, các quốc gia sẽ phải suy nghĩ đến quá trình quản lý các hoạt động nêu trên vì những quá trình kinh doanh càng ngày càng phức tạp và đa dạng, mà công cụ chủ yếu chính là chính sách thuế. Và các nước này sẽ phải đưa ra các quy định thật cụ thể để có thể đảm bảo cho các nhà thầu nước ngoài khi đến nước mình thực hiện kinh doanh với một nền tảng pháp luật về thuế thật sự rõ ràng nhằm đem lại nguồn thu ngân sách cho quốc gia đó. Trước đây, theo ghi chép của các chuyên gia lịch sử về hệ thống thuế thì chế độ thuế tác động đến lĩnh vực công nghiệp xây dựng và các nhà thầu được đưa ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 5 đầu tiên vào năm 1936 với tên gọi là Construction Industry Scheme (CIS).
Tuy nhiên, chính sách này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi bị thay thế bởi chính sách thuế thu nhập của các quốc gia (Income Tax). Sau đó, trong thập niên 1970, chính sách thuế này mới được ban hành trở lại tại một số quốc gia. Các nước đã sử dụng hình thức thu thuế thông qua cách thức hành thu là việc giữ lại (withholding tax) để thực hiện quá trình thu thuế các đối tượng kinh doanh tại quốc gia của mình. Cụ thể như, đất nước đầu tiên đưa ra chính là tại Anh, thuế đối với công nghiệp xây dựng được ban hành năm 1971 như là một khoản khấu trừ thuế đối với khoản chi trả thu nhập nhân công.
Đạo luật này được đưa ra lần đầu trong Đạo luật tài chính (Finance Act 1971), sau đó vào những năm 1988, 1999, 2004 và mới nhất là vào ngày 06/04/2007, văn bản luật trên đã được thiết kế lại cũng như sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng đối tượng chịu thuế trong giai đoạn hiện tại, mà chủ yếu là các nhà thầu chính và nhà thầu phụ tại nước này. Khái niệm, đặc điểm thuế nhà thầu 1. Khái niệm Tính cho đến hiện nay, các hệ thống thuế của các nước trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chính thức về thuế nhà thầu là gì. Tuy nhiên, có nhiều tác giả đã có đề cập đến định nghĩa của thuế này dưới nhiều hình thức và khía cạnh khác nhau, cụ thể như sau: • Theo Luật quản lý thuế của Australia năm 2004 (Taxation Administration Amendment Regulations 2004) thì có xem thuế nhà thầu là loại thuế đánh vào các khoản chi trả cho các tổ chức nước ngoài thường trú tại nước này được hình thành từ các hợp đồng thầu xây dựng.
• Còn đối với tổ chức kinh doanh và tư vấn chứng khoán London South East thì thuế nhà thầu là khoản thuế được khấu trừ khoản cổ tức chi trả cho nhà đầu tư nước ngoài và khoản này sẽ được trả lại nếu có ký kết hiệp định song phương giữa các quốc gia. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 6 • Đối với Tạp chí Tax Tips non-resident contractors business tại Bang Delaware của Hoa Kỳ thì thuế nhà thầu là loại thuế đánh vào các nhà thầu có hoạt động sử dụng nguồn nguyên vật liệu, nhân công để thực hiện toàn bộ hay một phần của quá trình xây dựng, sửa chữa, phá hủy tòa nhà, đường xá, cầu cống, xây nhà, sửa điện… • Theo Hội đồng doanh nghiệp của Singapore Enterprise One thì thuế nhà thầu là một khoản thuế đánh trên khoản chi trả cho một đối tượng không thường trú bao gồm nhân viên, đối tác của công ty, các đại lý nước ngoài… Khi thanh toán thì đối tượng chi trả phải khấu trừ một tỷ lệ phần trăm cố định từ số tiền đó. Từ một số định nghĩa trên, chúng ta có thể ghi nhận một số thông tin chính của thuế nhà thầu, đó chính là: - Là một khoản được giữ lại và được tính toán thông qua các hình thức thuế khác của quốc gia đó; - Được tính trên số tiền trả cho phía nước ngoài hoặc khoản thu nhập mà tổ chức, cá nhân đó nhận được khi hoạt động kinh doanh; và - Nộp trực tiếp hoặc tạm thu trước để cho cơ quan thuế có thẩm quyền.