Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Khái niệm về cảnh quan: Theo Dictionary.com Cảnh quan (landscape) là một khu vực rộng rãi có thể nhìn thấy từ một điểm. Định nghĩa này xét trên khía cạnh phạm vi, cung cấp cho ta một cách nhìn hợp lý và dễ hiểu. Nhưng khi xét theo một hướng tổng quát và rộng hơn về mặt địa lý, văn hóa, tự nhiên thì cảnh quan là gì? Theo Wikipedia.org định nghĩa, cảnh quan là bao gồm tất cả các nét đặc trưng có thể nhìn thấy của một khu vực bao gồm: Các yếu tố vật lý của địa hình như núi, đồi, nguồn nước như sông, hồ, ao, biển, các yếu tố sống che phủ đất bao gồm cả thảm thực vật bản địa; Các yếu tố con người bao gồm các hình thức sử dụng đất khác nhau, các tòa nhà và các cấu trúc; Các yếu tố tạm thời như ánh sáng và điều kiện thời tiết.
Kết hợp cả hai nguồn gốc vật lý tự nhiên và lớp phủ văn hóa do sự hiện diện của con người tạo ra sau nhiều thiên niên kỷ, cảnh quan phản ánh tổng hợp cuộc sống của người dân địa phương và khu vực sống của họ, những điều tạo lên bản sắc của một địa phương hay cả một quốc gia. Cảnh quan, cư dân và tính cách của họ hình thành nên nét đặc trưng của một khu vực mà không nơi nào khác có được. Đây chính là bức tranh toàn cảnh về cuộc sống của cư dân. Khái niệm về rừng phòng hộ bảo vệ môi trường: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên.
Theo điều 5, Luật Lâm nghiệp dựa vào mục đích kinh doanh rừng được phân thành 03 loại: Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất. Trong rừng đặc dụng có rừng bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rừng tín ngưỡng; rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao [Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật số 16/2017/QH14 ngày 15/11/2017, Luật Lâm nghiệp]. 5 Theo điều 7, Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đa dạng sinh học có quy định: Khu bảo vệ cảnh quan cấp tỉnh là khu bảo tồn đáp ứng các tiêu chí chủ yếu sau đây: - Có cảnh quan môi trường, nét đẹp, độc đáo của thiên nhiên nhưng không đáp ứng các tiêu chí thành lập khu bảo vệ cảnh quan cấp quốc gia; - Có giá trị đặc biệt về sinh thái, môi trường phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, giáo dục, du lịch, nghỉ dưỡng. Theo Khoản 4, Điều 4, Quyết định 17/2015/QĐ-TTg về Quy chế quản lý rừng phòng hộ do Thủ tướng Chính phủ ban hành, rừng phòng hộ bảo vệ môi trường được quy định như sau: - Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường góp phần điều hòa khí hậu, chống ô nhiễm môi trường, tạo cảnh quan ở khu dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp, kết hợp phục vụ du lịch, nghỉ ngơi; - Diện tích rừng phòng hộ bảo vệ môi trường gồm diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch theo quy định của Nhà nước nhằm mục đích chủ yếu là bảo vệ và phát triển rừng.
Nghiên cứu về rừng phòng hộ bảo vệ môi trường 1. Giá trị của rừng phòng hộ Trên thế giới, các nghiên cứu về lượng giá trị của rừng đã được thực hiện khá phổ biến trong đó cách tiếp cận chủ yếu là trên quan điểm “Tổng giá trị kinh tế”. Ở Việt Nam, một số nghiên cứu về lượng giá đã được tiến hành cho một số loại rừng vùng đồi núi và đã đưa ra nguyên tắc, phương pháp lượng giá. Tuy nhiên các nghiên cứu trong nước về giá trị kinh tế môi trường của rừng phòng hộ đồi núi thì còn hạn chế, chưa có tính hệ thống và chưa có tính đại diện điển hình cho các vùng sinh thái, chưa có sự đánh giá giá trị tổng thể.
Đặc biệt, chưa có bất cứ nghiên cứu nào đề cập đến nguyên tắc và phương pháp để tính các giá trị môi trường của rừng phòng hộ đồi núi. Các phương pháp được quốc tế áp dụng cũng chỉ được giới thiệu một cách chung chung, chưa có hướng dẫn cụ thể để các địa phương trong cả nước có thể áp dụng được. 6 Trước đây, khái niệm về tống giá trị kinh tế của rừng (Total Economic Value - TEV) được xem xét rất hạn hẹp. Các nhà kinh tế thường có xu hướng chỉ xem xét giá trị của rừng thông qua các lượng sản phẩm hữu hình mà rừng đã tạo ra để phục vụ cho các nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của con người.
Tuy nhiên các sản phẩm có thể sử dụng trực tiếp này chỉ thể hiện được một phần nhỏ trong tổng giá trị của rừng. Trong thực tế, rừng đã tạo ra một lợi ích kinh tế vượt xa giá trị của các sản phẩm hữu hình đang được buôn bán chính thức trên thị trường. Theo thời gian, định nghĩa về giá trị kinh tế của rừng đã thay đổi. Khái niệm về tổng giá trị kinh tế (TEV) đã được đưa ra khoảng hơn ba chục năm về trước (Pearce, 1990).
Từ đó đến nay, khái niệm này đã trở thành một trong những khuôn mẫu để xác định và phân loại các lợi ích của rừng. Muốn xem xét tổng giá trị của rừng thì phải xem xét toàn bộ giá trị của các nguồn tài nguyên, các dòng dịch vụ môi trường và các đặc tính của toàn bộ hệ sinh thái như một thể thống nhất. Tổng giá trị kinh tế của rừng bao gồm: - Một là, các giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value - DUV): Là giá trị của những nguyên liệu thô và những sản phẩm vật chất được sử dụng trực tiếp trong các hoạt động sản xuất, tiêu dùng và mua bán của con người như thức ăn, cây thuốc, vật liệu gen. - Hai là, các giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value - IUV): Là giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường và chức năng sinh thái mà rừng tạo ra như duy trì chất lượng nước, giữ dòng chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, phòng hộ đầu nguồn, hấp thụ các bon,.
- Ba là giá trị phi sử dụng: Là những giá trị được để lại bao gồm: + Các giá trị lựa chọn (Option Value - OP): Là những giá trị chưa được biết đến của nguồn gen, các loài động vật hoang dã trong rừng và các chức năng sinh thái rừng khi chúng được đưa vào ứng dụng trong lĩnh vực giải trí, dược phẩm, nông nghiệp, trong tương lai. + Các giá trị để lại (Bequest Value - BV): Là những giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp mà các thế hệ sau có cơ hội được sử dụng. 7 + Các giá trị tồn tại (Existence Value - EV): Là giá trị nội tại đi kèm với sự tồn tại của các loài trong rừng và hệ sinh thái rừng mà không kể đến việc sử dụng trực tiếp như ý nghĩa về văn hoá, thẩm mỹ, di sản, kế thừa. Theo Luật Lâm nghiệp 2017 giá trị của rừng phòng hộ bao gồm tổng thể các mặt từ bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Nghiên cứu về rừng và mô hình quản lý rừng một số nước trên thế giới Trên thế giới hiện chưa có nhiều nghiên cứu độc lập về rừng bảo vệ cảnh quan, chủ yếu các nghiên cứu về sinh thái cảnh quan; nghiên cứu theo phân loại 3 loại rừng: rừng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng; nghiên cứu cây xanh đô thị trong đó rừng bảo vệ cảnh quan là một hợp phần của vấn đề nghiên cứu. Nghiên cứu về cây xanh đô thị các quốc gia như Ai Cập, Trung Hoa, La Mã, Hy Lạp,… đã xem cây xanh như là biểu tượng cho các vị thần và thờ cúng chúng. Họ sử dụng cây xanh trong việc trang trí ngoại thất cho các tượng đài, xây dựng các vườn tín ngưỡng trong các đền thờ. Thời kỳ Hi Lạp cổ đại, từ thế kỉ VII trước Công nguyên đến thế kỉ IV sau công nguyên, người ta thấy hai bên các đường dạo phía trước các sân thi vận động (Stadium) và quảng trường (Forum) trước các đền thờ đều có trồng cây Ngô đồng Pháp.
Còn ở những tuyến đường chính trong các khu thành cổ La mã thì lại chủ yếu trồng Bách Italia. Tiếp đến thời kỳ từ thế kỉ V cho đến thế kỉ XIV, nhiều quốc gia châu Âu cũng đã trồng Bách Italia trên các tuyến đường hành lễ. Ngoài ra người ta còn trồng thành các đai rừng, dải rừng trong lòng thành phố phát triển nhưng lại có các khu rừng có cảnh quan thiên nhiên thơ mộng như hiện nay [Phan Ngọc Tám (2013), Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sỹ Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Thái Nguyên]. Thành phố Milan (Italy) Một số thành phố trên thế giới đã làm rất tốt công tác phát triển không gian xanh.
Thành phố Milan (Italy) là một trong những đô thị phát triển nhất châu Âu. Sau 8 Cách mạng công nghiệp (đầu thế kỷ 19), xung quanh Milan có vô số khu công nghiệp và rất thiếu không gian xanh khiến chính quyền vô cùng lo ngại. Năm 1995, chính quyền thành phố Milan thông qua bản quy hoạch đô thị, trong đó một phần quan trọng là quy hoạch hệ thống công viên cây xanh. Trọng tâm là dự án phát triển 9 công viên lớn ở trung tâm thành phố, kết hợp với hệ thống các quảng trường và vườn hoa trên khắp thành phố.
Các hệ thống này được kết nối với nhau nhờ các đại lộ cây xanh. Do quy hoạch hợp lý, hệ thống này khiến cho người đi lại trên các tuyến đường dành cho người đi bộ và xe đạp luôn được đi qua những tuyến phố xanh mát bóng cây. Không chỉ có không gian xanh trong nội đô, Milan còn có vành đai xanh bao quanh, đó là hệ thống rừng kiêm công viên với diện tích lớn.