Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Khái niệm và định nghĩa về tài nguyên thực vật: Cho đến nay chưa có định nghĩa nào về “Tài nguyên thực vật – Plant Resources”. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ này để chỉ những giá trị sử dụng của hệ thực vật tại một vùng hay khu vực cụ thể. Trước đây, người ta thường phân chia tài nguyên rừng thành 2 nhóm: gỗ và các lâm sản ngoài gỗ.
Trong đó tất cả các sản phẩm từ rừng không phải là gỗ được gọi là lâm sản ngoài gỗ (Non Timber Product). Gần đây, các nhà khoa học thuộc chương trình “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á – PROSEA” đã phân chia thành các nhóm cây tài nguyên như sau: - Cây cho hạt (Pulse). - Cây cho quả ăn được (Edible fruits and nuts). - Cây thuốc nhuộm và tannin (Dye and tannin - producing plants).
- Cây thức ăn gia súc (Forages). - Cây cho gỗ (Timber trees). - Cây làm rau (Vegetables). - Cây ngũ cốc (Cereal).
- Cây phụ trợ (Auxiliary plants). - Cây thuốc và có độc (Medicinal and poisonous plants). - Cây gia vị (Spices). - Cây cho dầu và chất béo (Vegetables oils and fats).
- Cây ẩn hoa – Tảo (Cryptogam - Aga). - Dương xỉ và các nhóm liên quan (Ferns and fern allies). m 13 - Cây có chất kích thích (Stimulant). - Cây cho sợi (Fibre plants).
- Cây cho tinh dầu (Essential - oil plants). - Cây cho nhựa (Plants producing exudates). Tương tự, chương trình Tài nguyên thực vật châu Phi nhiệt đới (PROTA) cũng đã phân chia giá trị sử dụng của thực vật thành 16 nhóm như sau: - Cây ngũ cốc và cây có hạt (Cereals and pulses). - Cây làm rau (Vegetables).
- Cây thuốc nhuộm và cho tan nin (Dyes and tannins). - Cây làm thức ăn gia súc (Forages). - Cây cho quả (Fruits). - Cây cho gỗ (Timbers).
- Cây cho cac bon (Carbohydrates). - Cây phụ trợ (Auxiliary plants). - Cây cho nhiên liệu (Fuel plants). - Cây cho tinh dầu (Essential oils and exudates).
- Cây cho nhựa (Vegetable oils). - Cây có chất kích thích (Stimulants). - Cây cho sợi (Fibres). - Cây làm gia vị (Spices and condiments).
Sự phân chia các nhóm cây tài nguyên nêu trên về thực chất là xếp những loài cây cho các nhóm sản phẩm giống nhau hay có cùng một giá trị sử dụng thành các nhóm cây tài nguyên. Tên gọi các nhóm cây tài nguyên là tên giá trị sử dụng hoặc tên sản phẩm sẽ được khai thác từ thực vật. Đây là cách phân chia đang được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về tài nguyên thực vật. m 14 Như vậy, mặc dù chưa có một định nghĩa rõ ràng, nhưng các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng tài nguyên thực vật là tiềm năng cung cấp các sản phẩm của thực vật cho con người hay các giá trị sử dụng của thực vật đối với con người.
Tiềm năng này chứa đựng trong khu hệ thực vật ở một vùng, một hệ sinh thái cụ thể. Xu hướng nghiên cứu về tài nguyên thực vật: Có 2 hướng nghiên cứu chính về tài nguyên thực vật: - Nghiên cứu về nguồn gen cây trồng: hướng nghiên cứu này phục vụ cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp. Đối tương nghiên cứu là các giống cây trồng (nguồn gen cây trồng) được tuyển chọn, di thực, nhập ngoại hay được tạo ra bằng các phương pháp lai tạo giống khác nhau. - Nghiên cứu tài nguyên thực vật trong các hệ sinh thái: hướng nghiên cứu này đã thu hút nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: thực vật học, sinh học, y dược, hóa học… Đối tượng nghiên cứu rất đa dạng và phong phú gồm các loài cây tự nhiên phân bố trong các hệ sinh thái.
Các nghiên cứu theo hướng này thường tập vào việc phân loại, đánh giá hiện trạng, đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật; điều tra nghiên cứu các hợp chất hóa học làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, hóa dược, mỹ phẩm, lương thực thực phẩm v.v… Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tài nguyên thực vật, trong đó đáng chú ý là những công bố của hai chương trình: (i) Chương trình tài nguyên thực vật Đông Nam Á (PROSEA) với 19 tập, và (ii) Chương trình tài nguyên thực vật châu Phi nhiệt đới (PROTA) với 16 tập về các nhóm tài nguyên thực vật. Nội dung chính của những tập sách là cung cấp các thông tin cơ bản về hình thái sinh thái, phân bố, công dụng, thành phần hóa học, tình hình khai thác, tiềm năng… của các loài cây. Những thông tin trong các công bố này đều do các tác giả tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chứ hoàn toàn không phải là kết quả nghiên cứu của chính các tác giả. Đây là m 15 những tài liệu quí có giá trị trong việc tham khảo và tra cứu về tài nguyên thực vật.
Ngoài ra, các chương trình còn thực hiện một số dự án nghiên cứu triển khai, trong đó chủ yếu là tuyển chọn và trồng thử nghiệm một số loài thực vật có tiềm năng. Trong giai đoạn 2003-2010, chương trình tài nguyên thực vật châu Phi nhiệt đới đã tuyển chọn và trồng thử nghiệm 25 loài cây bản địa tại một số nước ở châu Phi. Đó là các loài thuộc nhóm cây ngũ cốc và cây có hạt, cây làm rau ăn, cây làm thuốc nhuộm và tan nin, cây cho gỗ, cây làm thuốc và cây cho nhựa. Kết quả thu được cho thấy các loài cây đều có tiềm năng cho việc tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân.
Công tác điều tra thống kê tài nguyên thực vật là nhiệm vụ thường xuyên của các các quốc gia có rừng nhằm đánh giá hiện trạng, xây dựng chiến lược, kế hoạch hợp lý cho việc khai thác và sử dụng bền vững. Trên phạm vi toàn cầu, thống kê của FAO năm 2010 cho thấy: - Tổng diện tích rừng toàn thế giới 4.033 triệu ha, trong đó Liên Bang Nga chiếm diện tích lớn (809 triệu ha), sau đó là Brazil (520 triệu ha), tiếp đến là Canada (310 triệu ha), Mỹ (304 triệu ha), Trung Quốc (207 triệu ha), cộng hòa Công Gô (154 triệu ha), Australia (149 triệu ha), Inđônesia (94 triệu ha), Su Đăng (70 triệu ha), Ấn Độ (68 triệu ha), các nước khác 1. - Toàn bộ sinh khối rừng trên toàn thế giới chứa khoảng 297 tỷ tấn CO2. - Trong giai đoạn 2003-2007 khối lượng gỗ đã khai thác là 3,4 tỷ mét khối, tương ứng 100 triệu USD.
- Giá trị các sản phẩm phi gỗ là 18,5 tỷ USD (năm 2005). Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên thực vật: Từ thời sơ khai, con người đã biết khai thác và sử dụng thực vật. Trước đây, mật độ dân số thấp, rừng còn nhiều nên những tác động của việc khai thác là chưa lớn. Về sau, cùng với sự gia tăng dân số, nhu cầu của con người cũng tăng, nhất là từ đầu thế kỷ 20 do sự phát triển của một số ngành công nghiệp như: sản xuất giấy, khai thác mỏ, xây dựng v.v… đã yêu cầu ngày m 16 càng nhiều nguyên liệu từ rừng dẫn đến khai thác quá mức làm cạn kiệt tài nguyên.
Đặc biệt, do sức ép dân số, con người cần có lương thực để sinh sống dẫn đến chặt đốt rừng để lấy đất canh tác. Theo số liệu thống kê của FAO, trong giai đoạn 2005-2010 trung bình mỗi năm thế giới mất đi 13 triệu ha rừng, trong đó: Nam Mỹ mất nhiều nhất 4 triệu ha, sau đó là châu Phi 3,4 triệu, châu Đại dương 700 nghìn, châu Á 700 nghìn ha. Do giá trị to lớn của ngồn tài nguyên thực vật, nên việc bảo vệ chúng đã trở thành vấn đề toàn cầu, do đó đến năm 1972, Hội nghi Thượng đỉnh lần thứ nhất về môi trường họp tại Stockhom (Thụy Điển) đã kêu gọi khẩn cấp nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên thực vật. Hai mươi năm sau, năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ hai họp tại Rio de Janero (Brazin) đã đề xuất thông qua công ước về chống biến đổi khí hậu, trong đó có vấn đề về bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên rừng.
Cho đến nay đã có một số tổ chức quốc tế ra đời để thực hiện các hoạt động và nghiên cứu để bảo vệ và phát triển tài nguyên thực vật: Tổ chức nông lâm của liên hợp quốc - (FAO) thành lập năm 1945; Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên - International Union for Conservation of Nature and Natural Resources (IUCN) thành lập năm 1948; Quĩ quốc tế bảo vệ thiên nhiên - World Wide Fund For Nature (WWF) thành lập năm 1961; Tổ chức Bảo tồn quốc tế - Conservation International (CI) thành lập năm 1987 v. Ở trong nước Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tài nguyên thực vật đã được công bố. Đó là sách các chuyên khảo, các bài báo đã được đăng trong các tạp chí, hội thảo khoa học. Có thể nêu một số công trình nghiên cứu đáng chú ý như sau: - Những nghiên cứu về cây thuốc: Đây là nội dung có nhiều công trình đã được công bố: Võ Văn Chi (Từ điển cây thuốc Việt Nam, 1997), Đỗ Tất Lợi m 17 (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 1995, 1997), Cây thuốc Việt Nam (Nguyễn Đình Đàn và cộng sự, 1990), Thuốc từ cây cỏ và động vật (Đỗ Huy Bích, 1995), Cây thuốc Việt Nam, trồng hái chế biến trị bệnh ban đầu (Lê Trần Đức, 1997).
Trong các công trình này đã cung cấp nhiều thông tin về: thực vật, giá trị và cách sử dụng, cách thu hái chế biến, trồng trọt. - Những nghiên cứu về cây gỗ rừng Việt Nam: Cây gỗ rừng miền Bắc Việt Nam (Cục Điều tra quy hoạch rừng, 1971), Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện Điều tra quy hoạch rừng, 1978-1988), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh, 1993), Tên cây rừng Việt nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2000), Cây gỗ rừng Việt Nam (Vũ Văn Dũng, 1996). Đây là những tài liệu có giá trị làm cơ sở cho việc tra cứu và xác định nguồn tài nguyên cây gỗ rừng. Tuy nhiên, các tài liệu mới chỉ nêu lên tên loài, chưa nêu được các đặc tính sinh thái, phân bố, khả năng phát triển của chúng, nhất là trong trồng rừng.
- Những nghiên cứu về cây có ích: Tên cây rừng Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân và cộng sự, 2000), Nghiên cứu về cây thức ăn gia súc Việt Nam (Nguyễn Đăng Khôi, 1985), 1900 loài cây có ích (Trần Đình Lý và cộng sự, 1993), Tài nguyên thực vật Đông Nam Á (Prosea, 1989-1999), Đa dạng thực vật vườn quốc gia Pù Mát (Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn, 2004).