CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH 1. Định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là một bệnh hô hấp mãn tính phổ biến có thể được ngăn ngừa và điều trị. Bệnh được xác định bởi sự tồn tại của các triệu chứng hô hấp mãn tính (ít nhất là một trong số các triệu chứng ho, khạc đờm, khó thở khi gắng sức, nhiễm trùng đường hô hấp dưới tái đi tái lại) và tắc nghẽn đường thở tiến triển.
Chẩn đoán BPTNMT dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và giá trị của rối loạn thông khí tắc nghẽn cần thiết phải đo chức năng hô hấp với đo thể tích thở tối đa ở giây đầu tiên (FEV1) và dung tích sống gắng sức (FVC) trước và sau khi dùng thuốc giãn phế quản. Rối loạn thông khí tắc nghẽn được xác định theo tỷ lệ FEV1 / FVC < 0,7 (hoặc <70%). Đặc điểm và cơ chế bệnh sinh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Có nhiều yếu tố tham gia tạo nên tình trạng rối loạn thông khí tắc nghẽn, cũng như các biến chứng khác của BPTNMT, bao gồm: Phản ứng viêm Các phơi nhiễm đường hít có thể khởi phát phản ứng viêm ở đường hô hấp và phế nang, quá trình này được điểu chỉnh bởi sự gia tăng hoạt tính của protease và sự giảm hoạt tính antiproteinase. Các protease tại phổi, như elastase của bạch cầu trung tính, metalloproteinase của gian bào, và cathepsin làm giảm elastin và mô liên kết trong quá trình sửa chữa mô thông thường.
Hoạt tính của chúng thường được cân bằng bởi các chất chống oxy hoá, như alpha-1 antitrypsin, chất ức chế leukoproteinase có nguồn gốc từ biểu mô đường thở, elafin và chất ức chế men metalloproteinase. Ở những người bệnh BPTNMT, bạch cầu trung tính được hoạt hóa và các tế bào viêm khác giải phóng proteases như một phần của quá trình viêm; hoạt tính protease vượt quá hoạt tính antiprotease, hậu quả là sự phá hủy mô liên kết và tăng tiết chất nhầy. Hoạt hóa bạch cầu đa nhân trung tính và đại thực bào cũng dẫn đến việc tích tụ các gốc tự do, anion superoxide, và hydrogen peroxide, những chất này ức chế các antiprotease và gây co thắt phế quản, phù niêm mạc, và tăng tiết chất nhầy. Tổn 4 thương oxy hóa gây ra bởi bạch cầu trung tính, giải phóng neuropeptide (ví dụ như bombesin), và giảm các yếu tố tăng trưởng nội mô của mạch máu có thể dẫn đến sự hủy hoại nhu mô phổi theo chương trình.
Đáp ứng viêm ở BPTNMT tăng lên theo mức độ nặng của bệnh, và khi bệnh ở giai đoạn nặng, đáp ứng viêm không được giải quyết hoàn toàn mặc dù đã ngừng hút thuốc. Tình trạng viêm mạn tính này dường như không đáp ứng với corticosteroid, đặc biệt là ở những bệnh nhân tiếp tục hút thuốc lá. Nhiễm trùng Nhiễm trùng đường hô hấp có thể làm tăng tiến trình tổn thương đường hô hấp. Vi khuẩn, đặc biệt Haemophilus influenzae, cư trú đường thở ở khoảng 30% người bệnh BPTNMT.
Ở những NB có tiền sử nhiều đợt cấp nhập viện trước đó, việc có Pseudomonas aeruginosa hoặc các vi khuẩn gram âm khác cư trú là phổ biến. Hút thuốc lá có thể dẫn đến suy giảm chức năng làm sạch chất nhầy ở đường hô hấp dưới, điều này dẫn tới nhiễm trùng. Lặp đi lặp lại các đợt nhiễm trùng làm tăng gánh nặng của đáp ứng viêm, làm tăng quá trình tiến triển bệnh. Tuy nhiên, không có bằng chứng việc sử dụng kháng sinh dài hạn làm chậm sự tiến triển của BPTNMT.
Rối loạn thông khí tắc nghẽn Đặc điểm sinh bệnh học chủ yếu của BPTNMT là hạn chế luồng không khí do hẹp đường dẫn khí và/hoặc tắc nghẽn, mất phản xạ co giãn, hoặc cả hai. Hẹp đường dẫn khí và tắc nghẽn gây ra bởi đáp ứng viêm trung gian tăng tiết chất nhầy, nhầy niêm mạc, phù niêm mạc, co thắt phế quản, xơ dày thành đường thở, và tái cấu trúc các đường thở nhỏ hoặc các cơ chế này kết hợp nhau. Vách phế nang bị phá hủy dẫn đến giãn phế nang và kén khí. Điều này dẫn đến sự mất đàn hồi và tăng thể tích phổi.
Phân loại giai đoạn bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Mục tiêu của đánh giá BPTNMT để xác định mức độ hạn chế của luồng khí thở, ảnh hưởng của bệnh đến tình trạng sức khỏe của NB và nguy cơ các biến cố trong tương lai giúp điều trị bệnh hiệu quả hơn. Đánh giá BPTNMT dựa trên các khía cạnh sau: mức độ tắc nghẽn đường thở, mức độ nặng của triệu chứng và sự ảnh 5 hưởng của bệnh đối với sức khỏe và cuộc sống của NB, nguy cơ nặng của bệnh (tiền sử đợt kịch phát/năm trước) và các bệnh lý đồng mắc. Phân loại mức độ nặng tắc nghẽn đường thở (sau test phục hồi phế quản) theo GOLD 201813 GOLD Độ nặng Giá trị FEV1 sau test hồi phục phế quản Giai đoạn 1 Nhẹ FEV1 ≥ 80% trị số lý thuyết Giai đoạn 2 Trung bình 50% ≤ FEV1 < 80% trị số lý thuyết Giai đoạn 3 Nặng 30% ≤ FEV1< 50% trị số lý thuyết Giai đoạn 4 Rất nặng FEV1 < 30% trị số lý thuyết Đánh giá triệu chứng và ảnh hưởng của bệnh Công cụ để đánh giá triệu chứng và sự ảnh hưởng của bệnh lên tình trạng sức khỏe của NB: - Bộ câu hỏi sửa đổi của Hội đồng nghiên cứu y khoa Anh (mMRC) (phụ lục 1): gồm 5 câu hỏi với điểm cao nhất là 4, điểm càng cao thì mức độ khó thở càng nặng. mMRC 0-1 được định nghĩa là ít triệu chứng, mMRC ≥ 2 được định nghĩa là nhiều triệu chứng.14 - Bộ câu hỏi CAT gồm 8 câu hỏi, tổng điểm 40, điểm càng cao thì ảnh hưởng của bệnh tới tình trạng sức khỏe của NB càng lớn.
CAT < 10 được định nghĩa ít triệu chứng, ít ảnh hưởng, CAT ≥ 10 được định nghĩa ảnh hưởng của bệnh nhiều. 15 Đánh giá nguy cơ đợt kịch phát Dựa vào tiền sử đợt kịch phát trong năm trước (số đợt kịch phát và mức độ nặng của đợt kịch phát). Số đợt kịch phát/năm: 0-1 (đợt kịch phát nhẹ không phải nhập viện, không sử dụng kháng sinh và/hoặc corticosteroid đường toàn thân) được định nghĩa là nguy cơ thấp. Số đợt kịch phát ≥ 2 hoặc có từ 1 đợt kịch phát nặng phải nhập viện hoặc đợt kịch phát mức độ trung bình phải sử dụng kháng sinh và/hoặc corticosteroid đường toàn thân được định nghĩa là nguy cơ cao.1 Đánh giá BPTNMT theo nhóm ABCD Phân nhóm ABCD chủ yếu dựa vào: + Mức độ triệu chứng, ảnh hưởng của bệnh (mMRC, CAT).
6 + Nguy cơ đợt kịch phát (tiền sử đợt kịch phát/năm, mức độ nặng đợt kịch phát). Đánh giá bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo nhóm ABCD (GOLD 2018)13 1. Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Chẩn đoán BPTNMT dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và giá trị của rối loạn thông khí tắc nghẽn, do đó cần đo chức năng hô hấp để xác định giá trị thể tích thở tối đa ở giây đầu tiên (FEV1) và dung tích sống gắng sức (FVC) trước và sau khi dùng thuốc giãn phế quản. Rối loạn thông khí tắc nghẽn được xác định theo tỷ lệ FEV1 / FVC <0,7 (hoặc <70%).
Trong BPTNMT, rối loạn thông khí tắc nghẽn tồn tại lâu dài và hồi phục không hoàn toàn (FEV1/FVC <0,7 sau khi dùng thuốc giãn phế quản).1 Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng có điều kiện để trang bị máy đo chức năng thông khí (CNTK), do vậy trong hướng dẫn chẩn đoán và điều BPTNMT năm 2018 do Bộ Y Tế ban hành đã đưa ra hướng dẫn chẩ n đoán đinh ̣ hướng áp du ̣ng ta ̣i tuyế n chưa đươc̣ trang bi ̣và đã được trang bị máy đo CNTK.16 Chẩ n đoán đinh ̣ hướng áp du ̣ng ta ̣i tuyế n chưa đươ ̣c trang bi ̣ máy đo CNTK: Khai thác kỹ tiề n sử tiế p xúc với các yế u tố nguy cơ gây bệnh, thăm khám 7 lâm sàng để tìm các dấ u hiệu đinh ̣ hướng chẩ n đoán: bệnh hay gặp ở nam giới trên 40 tuổ i; có tiề n sử: hút thuố c lá, thuố c lào; ho, kha ̣c đờm kéo dài không do các bệnh phổ i khác như lao phổ i, giãn phế quản…; khó thở với đặc điểm tiế n triể n nặng dầ n theo thời gian. Khám lâm sàng có thể thấy lồ ng ngực hình thùng, phổi gõ vang, rì rào phế nang giảm; giai đoa ̣n nặng hơn có thể có ran rít, ran ngáy, ran ẩ m, ran nổ ; giai đoa ̣n muộn có thể thấ y những biể u hiện của suy hô hấ p ma ̣n tính: tím môi, tím đầ u chi, thở nhanh, co kéo cơ hô hấ p phu ̣, biể u hiện của suy tim phải (tiñ h ma ̣ch cổ nổ i, phù 2 chân, gan to, phản hồ i gan tiñ h ma ̣ch cổ dương tính). Khi phát hiện NB có các triệu chứng nghi ngờ BPTNMT như trên cầ n chuyể n NB đế n các cơ sở y tế có đủ điề u kiện (tuyế n huyện, tuyế n tỉnh hoặc tuyế n trung ương.) và làm thêm các thăm dò chẩ n đoán: đo chức năng thông khí, chu ̣p X-quang phổ i điện tim. nhằ m chẩ n đoán xác đinh ̣ và loa ̣i trừ những nguyên nhân khác có triệu chứng lâm sàng giố ng BPTNMT.
Chẩ n đoán xác đinh ̣ áp du ̣ng cho cơ sở y tế đã đươ ̣c trang bi ̣ máy đo CNTK: NB có tiề n sử tiế p xúc với các yế u tố nguy cơ, có các dấ u hiệu lâm sàng nghi ngờ mắ c BPTNMT như đã mô tả ở trên cầ n đươc̣ làm các xét nghiệm như đo chức năng thông khí phổ i chẩ n đoán xác đinh ̣ và đánh giá mức độ tắ c ngheñ đường thở; X-quang phổ i hoặc cắt lớp vi tính ngực lớp mỏng 1mm độ phân giải cao: giai đoạn sớm có thể bình thường, giai đoa ̣n muộn có hình ảnh khí phế thũng; điện tâm đồ và siêu âm tim: ở giai đoa ̣n muộn có thể thấ y các dấu hiệu của tăng áp phổ i và suy tim phải… 1. TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TRÊN THẾ GIỚI 1. Đặc điểm của hệ thống y tế trên thế giới Có nhiều cách phân loại hệ thống y tế nhưng cách thường dùng đó là dựa trên tiếp cận kinh tế học. Ở góc độ này thì một hệ thống y tế thường được xem xét dựa trên việc trả lời 2 câu hỏi cơ bản: “Ai cung cấp dịch vụ?” và “Ai chi trả?”.
Người cung cấp dịch vụ có thể là nhà nước hoặc tư nhân hoặc hỗn hợp.