CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE CU TRU VÀ ĐĂNG KÝ CU TRU 1.1 Khái niệm cư trú va quyền tự do cư trú 1.1 Khái niệm cư trú Theo từ điển Hán Việt, “cư” có nghĩa là ở, là động từ chỉ trạng thái dừng lại, ôn định lại vị trí; “trú” cũng có nghĩa là ở, trọ, nhưng mang nghĩa đã xác định được nơi để ở, nơi sinh song, ăn ở thường xuyên ôn định!, Như vậy, cư trú được hiểu là “tiệc ở lại tại một chỗ nào đó trong thời gian dài ”. Khái niệm này đúng khi áp dụng đối với con người nói chung bởi việc có chỗ sinh song, chỗ trú ngụ ton tại ở tất cả các loài động vật, tuy nhiên mỗi loài lại có một tập tính đặc trưng khác nhau. Khác với các loài vật có tập tính di cư, việc ôn định chỗ ở là một nhu cầu cần thiết của con người. Loài người cũng xuất phát điểm như tất cả các loại động vật có vú khác, sinh sống theo bầy đàn, tập trung ôn định tại một vi trí như, săn bắt hái lượm, khi khu vực sinh sống không còn thức ăn nữa thì đàn lại di chuyển tới một vị trí mới.
Dần dan, con người học được cách trồng trọt, chăn nuôi, không còn phải chuyên chỗ ở khi hết thức ăn, từ việc chỉ trú an trong các hang đá, con người đã tự cải thiện thiên nhiên, làm lều, làm lán, dan dan kiên có hơn, định cư tại một chỗ và cứ thế phát triển đời này qua đời khác. Khi xã hội con người văn minh hơn, đặt ra vấn đề cần quản lý con người, thì những thông tin cần quản lý đó là các thông tin về nhân thân như họ tên, giới tính, ngày tháng năm sinh, cha mẹ, quê quán, chỗ ở. Điều đó, cho thấy việc xác định, nhận diện một người là ai thì bên cạnh các yếu tố nhân thân thì yêu tô quan trọng khác đó là chô ở. Việc có chô ở ôn định vừa là ! Phan Văn Các (2014), Từ điển Hán — Việt, Nhà xuất bản dân trí, Hà Nội, tr74, tr358.
nhu cầu mang tính bản năng của con người, đồng thời cũng là một trong các yếu tố xã hội dé quan ly con người. Dưới góc độ xã hội, nơi cư trú của cá nhân là tạm trú hay thường trú tùy thuộc vào quan niệm xã hội. Thông thường, nơi có nhà ở của cá nhân sẽ được coi là nơi thường trú mặc dù cá nhân không ở đó thường xuyên. Quan niệm này thể hiện nhu cầu gắn kết gia đình của cá nhân.
Con người thường sông với gia đình, ở đâu có nhà là ở đó có gia đình. Tạm trú có thé hiểu là cư trú tam thời ở một nơi nào đó. Tạm trú dé chỉ tình trạng không cô định về chỗ ở. Khái niệm này quan tâm đến thời gian sinh song tại một địa điểm (một địa phương) cụ thé mà không dé cập tới mức độ cố định hay tam bo của điều kiện cư trú hoặc vi trí, nơi sinh sống cụ thê của cá nhân.
Tuy nhiên, sự không cô định của chỗ ở lại không phải là nay đây mai đó, sống không cần nhà, mà nó vẫn dé cập đến tính ôn định tương đối. Khi cá nhân đến ở thì đều xác định đây là chỗ ở dé phục vụ cho công việc, cho gia đình hay cho mục đích cụ thể, có thời hạn. Như vậy, tạm trú chỉ tình trạng “tạm” với mức độ ồn định không cao. Cư trú theo định nghĩa tại Điều 1 Luật Cư trú 2006 sửa đổi bô sung năm 2013, được hiểu là “việc công dán sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị tran dưới hình thức thường trú hoặc tạm tri”.
Định nghĩa của Luật Cư trú đã thé hiện rõ mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với cư dân. Công dân được tự do cư trú, nhưng đều được Nhà nước quản lý từ cấp cơ sở, xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên Luật Cư trú chỉ điều chỉnh việc cư trú của công dân Việt Nam, là người mang quốc tịch Việt Nam dang sinh sống trên lãnh thổ nước Việt Nam, còn việc cư trú của người nước ngoài, người không quốc tịch tại Việt Nam sẽ do Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 điêu chỉnh. Dưới góc độ pháp luật, quan niệm về cư trú còn phản ánh nhu cầu quản lý của Nhà nước.
Mặc dù cũng quy định việc cư trú của công dân có thé là thường trú hoặc tạm trú nhưng cách hiểu về thường trú và tạm trú trong Luật có những đặc thù riêng, khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú năm 2006, sửa đổi bồ sung năm 2013 quy định: Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cú trú của công dân là nơi thường tru hoặc nơi tạm tru. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân dùng để sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyên sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhán cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định cua pháp luật.
Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng kỷ thường tru. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng kỷ thường tru và đã đăng ky tạm tru. Như vậy, tạm trú không được Luật định nghĩa riêng biệt mà dựa trên sự loại trừ là “chỗ ở không phải là nơi thường trú”. Nơi thường trú của công dân không chỉ phan ánh tình trạng cư trú “2à nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định ” mà còn là nơi công dân đó đăng ký thường trú với co quan có thấm quyền.
Thiếu một trong 2 tiêu chí trên thì đều không được coi là có nơi thường trú; công dân chỉ có một nơi đăng ký thường trú, nếu cư trú ở những nơi khác (ngoài nơi đăng ký thường trú) thì sẽ coi là tạm trú. Thực tế cho thấy, đôi khi nơi tạm trú của công dân mới là nơi sinh sông thường xuyên, ôn định của người đó. Nên tình trạng “tạm” chỉ là tình trạng pháp ly phan ánh việc cư trú mà không phải là bản chất của việc cư trú. Nơi tạm trú theo quy định của pháp luật có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, là chỗ ở hợp pháp.
Nơi tạm trú là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng dé cư trú có thé thuộc quyền sở hữu của người tạm trú hoặc được cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ”. Việc sở hữu nhà ở, phương tiện dé làm nơi sinh hoạt ăn ở hang ngày không phải bat cứ cá nhân nào đều có thê làm được, vì vậy các hình thức cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ sẽ chiếm tỷ lệ cao hơn và cũng cần đáp ứng các quy định của pháp luật. Thứ hai, là nơi đăng ký sinh sống có thời hạn. Thời han nay có thé được xem như thời hạn dé gia hạn lại số tạm trú.
Khi công dân đăng ký tạm trú, sẽ được trả kết quả là số tạm trú, số tạm trú này có giá tri trong tối đa 24 tháng trong thời gian đó, cá nhân được gia hạn nhiều lần nhưng tổng thời gian không quá 24 tháng. Nếu sau 24 tháng, cá nhân vẫn tiếp tục tạm trú tại nơi ở cũ thì phải làm thủ tục đôi số tạm trú. Thứ ba, không phải là nơi thường trú, nơi đăng ký hộ khâu. Bất cứ công dân nào cũng đều có hộ khẩu thường trú.
Việc đăng ký hộ khẩu được thực hiện ngay sau khi có giấy khai sinh, và đó là một quyền của trẻ em khi mới sinh ra. Tuy nhiên trên thực tế, chỗ ở của cá nhân không thể cô định mãi, nếu có sự thay đổi chỗ ở mà không thay đổi nơi đăng ký thường trú thì chỉ cần đăng ký tạm trú. 3 Điều 5, Nghị định 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2014 quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú.2 Quyên tự do cư trú Quyền tự do cư trú là một trong những quyên cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính tri, được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế và khu vực. Quyền con người được lần đầu nhắc đến vào năm 1948 tại Pháp.
Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot, Paris, Pháp. Tuyên bố này phát sinh trực tiếp từ những kinh nghiệm trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và là tuyên ngôn nhân quyên đầu tiên trên thế giới, trong đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhận được hưởng, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị, quốc tịch hay nguồn sốc xã hội, tài sản, nơi sinh hay tât cả các hoàn cảnh khác. “Mọi người có quyên tự do di lại và cư trú trong phạm vi lãnh thé quốc gia. ” (khoản 1 Điều 13) Sau đó, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966 (ICCPR) ra đời, cũng nhân mạnh “Bat cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia déu có quyên tự do di lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thé quốc gia do.” (Điều 12) Quyền tự do cư trú còn bao hàm sự bảo vệ khỏi tình trạng bị bắt buộc rời khỏi chỗ ở trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, cũng như bảo vệ khỏi bị ngăn cam không được đến hoặc sinh sống ở một khu vực nhất định trên lãnh thé quốc gia.
Tại các diễn đàn khu vực, Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN năm 2012 tại Điểm 15 quy định: “Moi người déu có quyền tự do di lại và cư trú trong phạm vi biên giới quốc gia. Mọi người déu có quyên rời bất kỳ quốc gia nào, kê cả quốc gia của chính mình, và trở về quốc gia cua minh” lãi Quyền tự do cư trú là tiền đề để bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, tự do cư trú không phải là một quyền tuyệt đối, “Trong khi hành xử những quyên tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra, những quyên tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đảng về đạo ly, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa man.