phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương bao gồm: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật công chứng của các văn phòng công chứng Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về công chứng củacác Văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Quan điểm và các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về công chứng- từ thực tiễn Văn phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội 7 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG CỦA CÁC VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG 1.Công chứng và pháp luật về công chứng 1. Khái niệm công chứng Công chứng do người Pháp đưa vào Việt Nam trong những năm 30 của thế kỉ XX. Nhưng mãi đến năm 1987, công chứng mới được đề cập đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tại thời điểm này công chứng được hiểu là “Công quyền đứng ra làm chứng”, cụ thể là Nhà nước trao thẩm quyền cho một tổ chức hành nghề công chứng của Nhà nước được phép nhân danh Nhà nước để xác định các quan hệ giao dịch dân sự và thương mại.
Trước Luật Công chứng 2014, công chứng có nhiều định nghĩa được ghi nhận trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Thông tư 574/QLTPK ngày 10 tháng 10 năm 1987 của Bộ Tư pháp là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của nhà nước ta quy định về lĩnh vực công như sau: “Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước với mục đích giúp công dân, cơ quan tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản sự kiện đó, làm cho văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản sự kiện đó làm cho các văn bản sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Khái niệm này cũng có những hạn chế như: Thứ nhất, là chưa xác định được chủ thể công chứng, đối tượng hoạt động của công chứng cũng như nội dung việc công chứng. Thứ hai, là chưa phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động của cơ quan nhà nước khác. Ngày 27 tháng 02 năm 1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT đưa ra khái niệm Công chứng là: “Công chứng nhà nước là việc xác nhận tính xác thực của các Hợp đồng, giấy tờ theo quy định của Pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan 8 Luan van nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ được công chứng có giá trị chứng cứ”. So với Thông tư 574/QLTPK ngày 10 tháng 10 năm 1987 của Bộ Tư pháp, thì khái niệm công chứng được quy định ở Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 02 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng được xác định cụ thể rõ ràng hơn tuy nhiên vẫn còn những hạn chế như sau: Chưa xác định được chủ thể của hoạt động công chứng. Quy định “chứng nhận tính xác thực của hợp đồng, giấy tờ” ở Nghị định này còn nói quá chung chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác nhau trong thực tiễn hoạt động công chứng. Ngày 18 tháng 05 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công chứng theo đó, khái niệm công chứng đã được những sửa đổi và được hiểu như sau: “Công chứng là việc xác nhận tính xác thực về các hợp đồng, giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, Nghị định số 31/NĐ-CP Ngày 18 tháng 05 năm 1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước, bước đầu có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực.
Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý của hành vi công chứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt. Quy định “chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ” ở Nghị định này còn quá chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác nhau trong thực tiễn hoạt động công chứng. Chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới được tách bạch khỏi khái niệm chứng thực. Khái niệm công chứng ở Nghị định này đã được xác định khoa học hơn.
Theo Nghị định này, “Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của Hợp đồng được giao kết hoặc của giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan hệ 9 Luan van giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này” (Khoản 1 Điều 2). Cùng với việc xác định khái niệm công chứng như trên, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP đã xác định được khái niệm chứng thực “là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y các giấy tờ hợp đông giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này” (Khoản 2 Điều 2). Điểm mới quan trọng nữa của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP đã thay đổi tên gọi từ “Phòng công chứng nhà nước” ở các văn bản pháp lý trước đó thành “Phòng công chứng” đã xác định được chủ thể của hoạt động của công chứng là Phòng công chứng. Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận…” (Điều 2).
Tuy nhiên, việc xác định như vậy cũng chưa chính xác vì thực chất hành vi chứng nhận trong hoạt động công chứng chính là hành vi của Công chứng viên, người Công chứng viên phải chịu trách nhiệm về hành vi công chứng của mình trước pháp luật cũng như trước tổ chức cá nhân có yêu cầu công chứng. Vì vậy, quy định chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng là chưa làm rõ được bản chất của vấn đề, chưa xác định một cách đúng đắn vai trò, vị trí và trách nhiệm của người Công chứng viên trọng hoạt động nghề nghiệp. Cùng với thời gian, khái niệm công chứng được các văn bản quy phạm pháp luật trên đưa ra ngày càng một hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa làm rõ được bản chất của công chứng do pháp luật công chứng ở nước ta là một ngành luật non trẻ, chưa tiếp cận nhiều và chưa hội nhập được với nền công chứng thế giới, các khái niệm công chứng nêu trên đều chưa trả lời thấu đáo vấn đề: Ai là chủ thể có thẩm quyền công chứng? Công chứng cho ai? hình thức công chứng là gì? Công chứng mang tính bắt buộc hay tự nguyện? phạm vi giới hạn của việc công chứng đến đâu?.Vì vậy, việc hoàn thiện về pháp luật công chứng một yêu cầu cấp thiết trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế Quốc tế.
Trước yêu cầu đó Luật công chứng đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 10 Luan van năm 2006 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2007 theo đó khái niệm công chứng được xác định như sau: Điều 2 Luật công chứng 2006 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Với khái niệm trên cho thấy, công chứng là hoạt động mang tính bắt buộc để áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch có tính chất quan trọng, phức tạp hoặc những giao dịch có giá trị lớn mà nhà nước đòi hỏi cần phải có sự định hướng và kiểm soát các giao dịch đó nhằm mục đích phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra cho các bên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các giao dịch dân sự thương mại, những lợi ích vật chất và phi vật chất được thể hiện trong những cam kết thỏa thuận diễn ra trong đời sống hàng ngày, là yêu cầu chính đáng và là mong muốn của người tham gia giao dịch. Vì vậy, công chứng còn được đặt ra nhằm phục vụ rộng rãi cho các đối tượng có nhu cầu tự nguyện công chứng các hợp đồng giao dịch. Luật công chứng ra đời là một bước tiến mới của công chứng Việt Nam, làm thay đổi nhiều vấn đề về công chứng Việt Nam.
Tuy về mặt nội dung của Luật Công chứng vẫn còn nhiều điều cần giải quyết cho phù hợp với tình hình thực tiễn của hoạt động công chứng ở nước ta và theo sát được những mặt tiến bộ của công chứng thế giới, song cũng phải công nhận rằng Luật công chứng năm 2006 đã đưa ra khái niệm về công chứng tương đối hoàn thiện, thể hiện được bản chất của một nền công chứng đang trên con đường hoàn thiện và hội nhập quốc tế. Khái niệm công chứng trong Luật công chứng đã chỉ ra được chủ thể của hoạt động công chứng là Công chứng viên, điều đó thể hiện đúng bản chất của hoạt động công chứng. Vì vậy, ngay trong khái niệm này đã chỉ rõ nghĩa vụ của người Công chứng viên là phải chứng nhận tính xác thực tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch điều này có ý nghĩa khi ký tên vào văn bản công chứng việc giao kết các hợp đồng, giao dịch đó người Công chứng viên phải chịu trách nhiệm bảo đảm 11 Luan van rằng sự giao kết đó là xác thực về thời gian và địa điểm giao kết, chủ thể giao kết và nội dung của hợp đồng, giaodịch được giao kết đó là hợp pháp. Đứng trên phương diện lập pháp, Luật công chứng là đạo luật đầu tiên của nước ta về công chứng, sự ra đời của Luật công chứng đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về chất lượng công tác xây dựng pháp luật đối với lĩnh vực bổ trợ tư pháp.