CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THỰC TRẠNG THUC THI LUẬT LAM NGHIỆP QUAN TRI RUNG VA THƯƠNG MAI LAM SAN 1. Tong quan tài liệu 1. Các nghiên cứu về thực thi luật doanh nghiệp quản trị rừng va thương mại lâm sản (FLEGT). Võ Văn Toàn (2015) trong nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng bền vững tại Công ty TNHH lâm nghiệp Sông Kôn, tỉnh Bình Định” năm 2015 đã phân tích rằng trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam yếu tố chủ chốt thường xuyên được nhắc tới là quan lý rừng bền vững.
Hiện nay, chứng chỉ rừng được xem là một công cụ hiệu quả và minh bạch dé thúc day quản lý rừng bền vững. Bài nghiên cứu thực hiện thí điểm tại một vài địa phương được cấp chứng chỉ. Kết quả phân tích trong bài nghiên cứu đã đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của các chính sách những khó khăn trở ngại và bài học được rút ra trong quá trình thực hiện quản lý rừng bền vững. Trong bai An overview of legality verification systems của Proforest năm 2011 đã phân tích một số hệ thống xác minh tinh hợp pháp dang hoạt động: Các hệ thống này không phải là các chương trình chứng chỉ rừng đã được phê duyệt như Hội đồng Quản lý Rừng (FSC) hoặc Chương trình Phê duyệt các chương trình Chứng chỉ Rừng (PEFC), nhưng có thé được sử dụng dé dam bảo tính hợp pháp và truy xuất nguồn gốc của gỗ và sản phẩm gỗ.
Bản tóm tắt này nhằm mục đích cung cấp một cái nhìn tổng quan về các hệ thống xác minh tính hợp pháp tự nguyện hiện có và làm rõ các sáng kiến của NGO. Hơn nữa, nó cung cấp lời khuyên về mối quan hệ của họ với việc đáp ứng chính sách mua sắm công của Chính phủ Vương quốc Anh và Gỗ bất hợp pháp của EU. Trong bài nghiên cứu FLEGT, VPA, EUTR and their possible impact on the Bolivian timber sector. CBI-Ministry of Foreign Affairs of The Netherlands, The Hague của Christopher Carden va cộng sự năm 2012 đã chỉ ra rằng Trong khuôn khổ của EUTR, EU sẽ không xác định “làn đường xanh” cho các hệ thống chứng chỉ rừng (ESC, PEFC) hoặc VLC.
Thay vào đó, EU sẽ thiết lập một kế hoạch hoạt động sẽ hoạt động trong mọi quốc gia thành viên. Do đó, việc có chứng chỉ FSC, PEFC hoặc VLC sẽ có khả năng tạo điều kiện tiếp cận thị trường EU. Có 3 lựa chọn để tuân thủ các yêu cầu của EUTR: Giấy phép FLEGT (về lâu dài là cách dễ dàng nhất, vì những giấy phép này sẽ được chấp nhận trực tiếp bởi các cơ quan có thâm quyền của EU); Chứng chi quản lý rừng (FSC, PEFC) hoặc chứng chi Tuân thủ pháp lý đã được xác minh (VLC), vì có khả năng cao là những điều này sẽ được chấp nhận bởi Hệ thống siêng năng đến hạn của Nhà điều hành hoặc Tổ chức giám sát; Tất cả các bằng chứng liên quan khác dé có thể chứng minh sự tuân thủ pháp luật đầy đủ mà có kha năng nó được chấp nhận với điều kiện là bằng chứng đầy đủ và thuyết phục.Trong khi lựa chọn đầu tiên có thể sẽ trì hoãn vài năm, trên thực tế, xuất khẩu sẽ tiếp tục, tận dụng tùy chon thứ hai, hoặc, có lẽ, trong một vài trường hợp, là tùy chọn thứ ba. Tùy chọn thứ hai được coi là thiết thực nhất, đặc biệt là trường hop chứng chi VLC là cấp độ dễ đạt được nhất trong ngắn hạn đối với đa số của các công ty.
Trung tâm Phát triển Nông thôn Bên vững (2019) trong báo cáo khảo sát hiện trạng hộ trồng rừng và doanh nghiệp chế biến gỗ quy mô nhỏ, siêu nhỏ trước khi thực thi VPA/FLEGT đã lựa chọn giám sát tác động của VPA tới hai nhóm đối tượng dễ bị tồn thương là nhóm hộ trồng rừng và doanh nghiệp chế biến gỗ ở 4 tỉnh Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Nam và Bình Định. Kết quả chỉ ra số hộ có giấy chứng nhận sử dụng đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn. Tuy vậy, tại một số địa phương nhiều hộ dân vẫn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn thu từ lâm nghiệp giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với tất cả các hộ dân tại 4 tỉnh.
Tại một số tỉnh, nhiều hộ dân đã không làm thủ tục khai thác rừng do thiếu sự kiểm soát từ chính quyền địa phương. Cũng có số ít hộ tự làm thủ tục khai thác nhưng hầu như phần lớn trong số họ không làm đầy đủ tất cả các thủ tục khai thác. Doanh nghiệp được khảo sát đều tỏ ra khá hài lòng với dịch vụ công hiện nay trong ngành lâm nghiệp. Các yêu cầu về nhu cầu, tiêu chuẩn mua bán trên thị trường không được nhiều hộ dân biết đến một cách đầy du.
Để giúp các hộ trồng rừng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận tốt các cơ hội và giảm thiểu các tác động tiêu cực do VPA mang lại cần có những giải pháp khác nhau, các giải pháp này bao gồm giải pháp về thé chế, chính sách; giải pháp về quản trị rừng, trong đó cần tăng cường vai trò giám sát, phản biện của các tổ chức xã hội. Trong nghiên cứu Experimentalism in transnational forest governance: Implementing European Union Forest Law Enforcement, Governance and Trade (FLEGT) Voluntary Partnership Agreements in Indonesia and Ghana của Christine Overdevest va Jonathan Zeitlin năm 2018 đã phân tích việc thực hiện VPA ở Indonesia va Ghana, hai quốc gia tiến xa nhất trong việc cấp giấy phép xuất khâu FLEGT. Một phát hiện trọng tâm là mối quan hệ qua lại giữa kiến trúc chủ nghĩa thực nghiệm của sáng kiến FLEGT và hoạt động xã hội dân sự xuyên quốc gia, theo đó sự nhất trí của VPA về sự tham gia của các bên liên quan, giám sát độc lập và đánh giá thực hiện chung, do EU bảo trợ, trao quyền cho các tổ chức phi chính phủ trong nước kiến thức địa phương đề vạch trần các van dé trên thực tế, yêu cầu các cơ quan công quyên có trách nhiệm giải quyết chúng và đóng góp vào việc phát triển các giải pháp tạm thời. Các nghiên cứu các yếu tố ảnh hướng đến thực thi các quy định cấp phép FLEGT của doanh nghiệp Nguyễn Thanh Hiền và cộng sự (2020) trong nghiên cứu Điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong bối cảnh VPA-FLEGT các nhân tổ tác động khác nhau đã khảo sát 86 doanh nghiệp vừa và nhỏ, phân bố tại bảy tỉnh khác nhau của Việt Nam và sử dụng mô hình hồi quy logistic dé phân tích dir liệu.
Kết quả nghiên cứu phân tích sáu nhân tố, chỉ có nhân tố mức độ hiểu biết của lãnh đạo doanh nghiệp có mối tương quan rất có ý nghĩa, ảnh hưởng mạnh đến quyết định điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN. Sở di mức độ hiểu biết về VPA-FLEGT khác nhau giữa các lãnh đạo doanh nghiệp là do số lượt tiếp cận thông tin giữa các lãnh đạo doanh nghiệp có sự khác nhau. Nghiên cứu cũng đã nhận thấy các doanh nghiệp tại một số tỉnh nơi có các hội/hiệp hội, hay các tổ chức NGOs đang hoạt động, hỗ trợ thông qua các tham van, hội thảo, nghiên cứu,. thì số lượt tiếp cận của các DN với thông tin VPA-FLEGT cao hơn nhiều so với các nơi khác.
Điều này cho thấy hoạt động của các hội/hiệp hội và NGOs là rất có ý nghĩa trong quá trình thực thi VPA-FLEGT. Trong nghiên cứu Factors affecting certification uptake - Perspectives from the timber industry in Ghana cua Kirsten Carlsen va cOng su nam 2012 tiếp cận vấn đề hạn chế việc tiếp nhận chứng chỉ ở vùng nhiệt đới bằng cách đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định về việc tiếp nhận chứng chỉ của các công ty gỗ Ghana. Trong tổng số 224 công ty gỗ đã đăng ký ở Ghana, tám công ty đã bắt đầu chứng nhận FSC. Bài báo thảo luận về các khả năng hiệp lực giữa xác minh tính hợp pháp của FLEGT VPA và chứng nhận FSC.
Điều này nhấn mạnh vai trò bổ sung của co quan quản lý do Nha nước lãnh đạo trong việc củng cố chức năng của chứng nhận. Bài báo gợi ý rằng cần chú ý hơn nữa đến khía cạnh này của động lực học thu nhận chứng chỉ. Cuối cùng, bài báo thảo luận về các khả năng hiệp lực giữa xác minh tính hợp pháp của FLEGT VPA và chứng nhận FSC. Điều này nhắn mạnh vai trò bổ sung của cơ quan quản lý do Nha nước lãnh đạo trong việc củng có chức năng của chứng nhận.
Trong bài nghiên cứu Perceptions of wood-processing industries on FLEGT implementation: Insights from Vietnam của Pham Thu Thuy và cộng sự (2021) phân tích quan điểm của các công ty gỗ và chế biến gỗ về cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện FLEGT ở Việt Nam dựa trên đánh giá tài liệu, khảo sát trực tuyến với 5Ó công ty gỗ và chế biến gỗ, phỏng van sâu với 26 bên liên quan từ các tổ chức khác nhau và hội thảo tham van liên quan đến 94 người tham gia. Báo cáo của chúng tôi cho thấy FLEGT ngày càng nhận được sự quan tâm và hỗ trợ chính trị từ Chính phủ Việt Nam, quôc gia đã ban hành các chính sách mới vê quản lý rừng bên vững, chứng chỉ rừng và khuyến khích tài chính để tạo điều kiện cho các công ty gỗ và chế biến gỗ tham gia vào FLEGT. Sự hiện diện tích cực của các tổ chức xã hội dân sự đã giúp cải thiện quản tri rừng, một khía cạnh chính của FLEGT. Nhận thức được FLEGT là một xu hướng thị trường toàn cầu có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn, các công ty gỗ và chế biến gỗ nhận thấy cơ hội hưởng lợi từ sáng kiến kinh doanh gỗ này và do đó sẵn sàng tuân thủ các yêu cầu của FLEGT hơn.
Tuy nhiên, các công ty này cũng nêu rõ những thách thức đối với việc thực hiện FLEGT trên thực tế, bao gồm các chính sách không rõ ràng và không nhất quán, giám sát và đánh giá yêu, chi phí giao dịch cao, khả năng tiếp cận thông tin hạn chế của các công ty, quyền sử dụng không rõ ràng và quy hoạch sử dụng đất không én định, và năng lực yếu kém của hộ gia đình và doanh nghiệp quy mô nhỏ. Dé thực hiện hiệu quả FLEGT đòi hỏi phải có những thay đổi về quy định, cải thiện việc thực thi pháp luật và dịch các chính sách trên cơ sở, tăng cường trao đôi thông tin giữa các bên liên quan và giải quyết các van dé cơ bản liên quan đến quyền sử dụng đất và quản lý rừng.