Phần mở đầu (5 trang), Chương Tổng quan tài liệu (27 trang), Chương Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (20 trang), Chương Kết quả nghiên cứu và thảo luận 88 trang), Phần kết luận và khuyến nghị (2 trang), Phần tài liệu tham khảo (10 trang) và Phần phụ lục. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Hiện trạng ô nhiễm sông trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Ngày nay, nhiều dòng sông ở khắp nơi trên thế giới đang phải đối diện với tình trạng cạn kiệt nguồn nước và vấn nạn ô nhiễm.
Ngày 20/03/2007, Quĩ Bảo vệ thiên nhiên WWF đã ra cảnh báo về tình trạng 10 con sông lớn trên thế giới, trong đó có sông Nin, Rio Grande, Đa nuýp, Trường Giang, sông Hằng, sông Ấn, .có nguy cơ bị cạn kiệt do tình trạng qui hoạch kém và thiếu được bảo vệ dẫn đến tình trạng đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng [97]. Sông Trường Giang là con sông dài nhất châu Á và đứng thứ ba trên thế giới sau sông Nin ở Châu Phi, sông Amazon ở Nam Mỹ. Trường Giang dài khoảng 6.385 km, bắt nguồn từ phía tây Trung Quốc và chảy về phía đông đổ ra Biển Hoa Đông. Đập Tam Hiệp chặn Trường Giang tại Tam Đẩu Bình, Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc.
Do hậu quả của hàng chục năm công nghiệp hóa, xây dựng đập thủy điện, ngày nay Trường Giang đã trở thành một trong những dòng sông ô nhiễm nhất trên thế giới. Nhiều KLN trong dòng sông này có hàm lượng rất cao và vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép đối với tiêu chuẩn nước mặt của Tổ chức y tế thế giới, như Asen (20,8μg/l), Sắt (350μg/l), Chì (756μg/l),… [61]. Sông Mekong là một trong những con sông xuyên biên giới lớn nhất hành tinh, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia, và đổ vào Biển Đông tại Việt Nam. Các hoạt động đánh bắt thuỷ sản quá mức và chế độ thủy văn thay đổi ở các lưu vực sông Mê kong đã làm thay đổi chất lượng nước và trầm tích của dòng sông này, đặc biệt là hàm lượng các KLN trong dòng sông.
Nghiên cứu của Fu Kaidao và cộng sự (2012) đã cho thấy hàm lượng trung bình của các nguyên tố KLN trong trầm tích ở phần thượng nguồn sông Mekong với Zn là 91,43 mg/kg, Pb là 41,85 mg/kg, As là 21,84 mg/kg, Cr là 42,19 mg/kg. Hàm lượng trung bình của các nguyên tố KLN trong trầm tích ở phần hạ lưu sông Mekong là Zn 68,17 mg/kg, Pb 28,22 mg/kg, As 14,97 mg/kg, Cr là 418,86 mg/kg. Hàm lượng Cr trong trầm tích sông rất cao ở một vài vị trí ở hạ lưu sông như ở Luang Prabang 762,93 mg/kg và Pakse là 422,90 mg/kg. Nồng độ của Cu trong tất cả các điểm lấy mẫu không cao ngoại trừ tại Jiajiu 1170 mg/kg và Jiebei với 700 mg/kg.
Cr là chất ô nhiễm chính ở hạ lưu sông Mekong, đặc biệt là ở Luang Prabang và Pakse. Ô nhiễm nhẹ với As cũng xảy ra ở Pakse [70]. Sông Hằng bị ô nhiễm vì ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý; phong tục hỏa táng thi thể rồi thả trôi sông, rác thải được xả trực tiếp từ các bệnh viện do thiếu lò đốt. Chất 8 lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm trọng cùng với sự mất đi khoảng 30-40% lượng nước do những đập nước đang làm cho sông Hằng trở nên khô cạn và có nguy cơ biến mất.
Các nghiên cứu chất lượng nước cũng phát hiện một hàm lượng cao các kim loại nặng trong nước sông Hằng như Hg (nồng độ từ 65÷520ppm), Pb (10÷800ppm), Cr (10÷200ppm) và Ni (10÷130ppm) [97]. Bên cạnh các dòng sông lớn rộng và là của chung của hơn một quốc gia ấy, các dòng sông chảy qua các đô thị lớn nhỏ đặc biệt ở các nước đang phát triển cũng đang bị ô nhiễm đến mức báo động. Các dòng sông này mang đến cho con người những lợi ích lớn lao cả về các tiêu chí môi trường, cả về các nguồn lợi thuỷ sản. Thế nhưng tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt nội đô bởi các dòng xả thải từ các khu dân cư, các khu công nghiệp, các nhà máy.
đang ngày một tăng lên về số lượng cũng như hàm lượng các chất ô nhiễm khiến các dòng sông trong các đô thị dần dần chuyển màu, chuyển mùi và mất đi sự đa dạng sinh học, mất đi các nguồn lợi thuỷ sản vốn từng là nguồn cung cấp thức ăn dồi dào cho cư dân đô thị, mất đi các lợi ích về sinh thái cảnh quan môi trường mà người ta có thể khai thác ở những dòng sông sạch. Sông Citarum, Indonesia, có lưu vực rộng 13.000km2, là một trong những dòng sông lớn nhất của Indonesia. Theo Ngân hàng phát triển châu Á [58] sông Citarum cung cấp 80% lượng nước sinh hoạt cho 14 triệu dân thủ đô Jakarta, tưới cho những cánh đồng và là nguồn nước cho hơn 2.000 nhà máy - nơi làm ra 20% sản lượng công nghiệp của đảo quốc này. Tuy nhiên, hiện tại nó là một trong những dòng sông ô nhiễm nhất thế giới.
Citarum như một bãi rác di động, nơi chứa các hóa chất độc hại do các nhà máy xả ra, thuốc trừ sâu trôi theo dòng nước từ các cánh đồng và cả chất thải do con người đổ xuống. Ô nhiễm nghiêm trọng khiến cá chết hàng loạt, người dân sử dụng nước bị lây nhiễm nhiều loại bệnh tật. Cũng theo Ngân hàng phát triển Châu Á, Sông Yamuna ở Ấn Độ có chiều dài 1.376km, là phụ lưu lớn nhất của sông Hằng. Hàng ngày, dòng sông phải đón nhận 45% nước thải của 15 triệu dân Thủ đô New Delhi mà không qua một quá trình xử lý nào.
Những dòng nước thải này khiến con sông nổi tiếng của Ấn Độ đang ngày một ô nhiễm hơn nhiều. Lượng rác đổ xuống sông từ năm 1993 đến 2005 đã tăng gấp đôi. Như vậy, các dòng sông ở khắp nơi trên thế giới đã và đang bị ô nhiễm chủ yếu bởi nước thải của các dòng thải đô thị, các khu dân cư, các ngành công nghiệp, nước thải nông nghiệp. với hàm lượng các hoá chất được sử dụng ngày càng nhiều.
Tất cả các dòng thải này đã và đang tăng lên theo đà tăng của dân số cả về khối lượng các chất ô nhiễm cũng như lưu lượng thải mang đến cho con người những thách thức ngày càng lớn về môi trường. Ở Việt Nam Việt Nam có số lượng lớn sông ngòi với nhiều hệ thống sông trải rộng khắp ba miền lãnh thổ với khoảng 2.360 con sông và kênh lớn nhỏ. Ở miền Bắc có các hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình; miền Trung có hệ thống sông Hàn, Sông Thạch Hãn và hệ thống sông Vu Gia -Thu Bồn; còn hai hệ thống sông lớn nhất ở miền Nam thì phải kể đến hệ thống sông Mê Kông và sông Đồng Nai. Tài nguyên nước mặt của Việt Nam chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của thế giới, trong đó tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy sông trong cả nước, hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), các hệ thống sông Mã, sông Cả, Sông Thu Bồn cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3(1%), các sông còn lại là 94,5km3(11,1%).
Như vậy nguồn nước mặt của chúng ta về cơ bản là khá phong phú. Tuy nhiên, nguồn nước mặt này lại đang phải đối mặt với sự xuống cấp nghiêm trọng về chất lượng, sự cạn kiệt về trữ lượng với rất nhiều nguyên nhân trong đó có có 3 nguyên nhân chính được trình bày dưới đây. Thứ nhất, chất lượng cũng như trữ lượng nước các dòng sông của Việt Nam đang dần bị suy thoái, bị cạn kiệt do các sông lớn của chúng ta thường bắt nguồn từ bên ngoài, chỉ trung lưu và hạ lưu chảy trên đất Việt Nam. Cụ thể 60% lượng nước cấp cho hệ thống các sông lớn của Việt Nam được hình thành từ bên ngoài lãnh thổ, trong đó sông Cửu Long phụ thuộc 95% nguồn nước quốc tế, lưu vực sông Hồng - Thái Bình phụ thuộc tới 40% nước sông từ Trung Quốc chảy về.
Lượng nước chính hình thành từ bên ngoài lãnh thổ cũng mang đến cho chúng ta nhiều bất lợi lớn do trữ lượng nước không chủ động được, phải phụ thuộc nhiều vào quốc tế. Do đó khi lụt lội thì nước lại đổ về thêm mà khi khô hạn lượng nước không về khiến tình hình khô hạn lại càng trầm trọng. Lượng lớn nước sông bắt nguồn từ bên ngoài lãnh thổ cũng mang đến nguồn nước có chất lượng thấp do việc xả thải từ đầu nguồn mang lại dẫn đến những bất lợi lớn cho môi trường mà chúng ta khó có thể chủ động khắc phục. Điều này một phần giải thích tại sao, trong khoảng 2 thập kỷ trở lại đây, các nghiên cứu, các chương trình quan trắc chất lượng nước đã liên tục công bố về sự xuống cấp của chất lượng nước các dòng sông lớn nhỏ ở khắp 3 miền lãnh thổ [7], [8], [9], [10], [28], [93], [94],.
đặc biệt là chất lượng nước sông Cửu Long, sông Hồng đang ngày càng xuống cấp. Thứ hai, các dòng sông ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị cạn kiệt dòng chảy do việc khai thác quá ngưỡng giới hạn của dòng chảy (quá 30% lượng dòng chảy) diễn ra trên khắp các lưu vực sông trên toàn lãnh thổ, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (khai thác trên 50% lượng dòng chảy), ở Ninh Thuận 10 (khai thác tới 80% lượng dòng chảy). Việc khai thác quá mức dòng chảy ở Việt Nam chủ yếu do lợi ích của việc xây đập thủy điện và thủy lợi. Tình trạng ngăn sông đắp đập đang diễn ra khắp nơi khiến tình trạng suy thoái chất lượng cũng như trữ lượng nước trên các sông lớn của Việt Nam như sông Hồng, sông Đồng Nai, sông Thái Bình… ngày càng trở nên nặng nề.
Thứ ba, tình trạng xả thải nước ô nhiễm chưa qua xử lý vào các dòng sông của Việt Nam cũng là một nguyên nhân lớn khiến các thuỷ vực này ngày càng bị ô nhiễm, bị xuống cấp về chất lượng nước. Một số lượng không nhỏ các nhà máy, xí nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng chưa xử lý nước thải triệt để đã gây ra sự ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước mặt. Nước thải đô thị thường được dẫn qua hệ thống thoát nước chung của đô thị rồi xả vào các hệ thống sông trong và ven đô thị, xả vào hệ thống ao, hồ và ngấm xuống đất.