CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm có liên quan 1. Ma thuật Những định nghĩa về ma thuật Theo Nguyễn Thị Hiền (2014), thuật ngữ ma thuật (magic trong tiếng Anh) có nhiều sắc thái ý nghĩa, bắt nguồn từ tiếng Latinh magicus, được sử dụng để đề cập tới nghệ thuật mang tính ảo thuật. Bên cạnh đó, Havilland và các cộng sự (2010) khi thống kê khái niệm về ma thuật, cũng tìm được nhiều cách diễn giải với nhiều hình thức, nhiều phân loại, nhiều chức năng bởi giới học thuật ở hầu khắp các nền văn hóa trên thế giới.
Những nhận định đầu tiên và đại diện cho trường phái nghiên cứu về ma thuật thứ nhất là những nhận định liên quan đến ma thuật của E.Tylor (1871), “ma thuật và niềm tin ma thuật cho thấy một “trạng thái trí tuệ thấp kém”, thậm chí “hoang tưởng” của con người” (tr. Với James Frazer, thuật ngữ ma thuật là một niềm tin mà những nguyên nhân tương tự sẽ luôn tạo ra kết quả tương tự, vì thế việc thực hiện nghi lễ thích hợp, kèm theo câu thần chú thích hợp chắc chắn sẽ có được kết quả như mong đợi và điều này liên quan đến việc không có sự cầu xin, nài nỉ với một quyền lực cao hơn; Bói toán, ma thuật lời, ma thuật sử dụng hiện vật thiêng, ma thuật tác động vào các lực lượng siêu nhiên, các loại nghi lễ chuyển đổi, các nghi lễ chữa bệnh, nhập hồn, yểm bùa, bùa hộ mệnh. cũng có thể tìm thấy trong tác phẩm Càng Vàng (Frazer, 1890). Không khó để nhìn ra những định kiến ẩn giấu trong các định nghĩa, trong cách mô tả các hành vi (thô sơ, tàn dư nguyên thủy, kì bí.) và dán nhãn theo các tiêu chí tốt-xấu, lợi-hại, thiện-ác.
Theo tác giả, nếu ma thuật đơn giản, thô phác và lạc hậu như cách Tylor và Frazer nhận định, sẽ không thể tồn tại khi con người và xã hội phát triển như ngày nay, nhưng sự thật lại ngược lại. Trường phái thứ hai, ma thuật là các thực hành kiểu bói quẻ chân gà, xin thăm xin thẻ, thờ hổ thờ rắn, may miệng xác chết gây điều hiểm họa, nhét miệng đinh kim, bọc lưới và nhiều thực hành tương tự của con người, nhằm đạt được những mục đích nhất định (Cadière, 1955). “Ma thuật cũng được thực hiện để tìm ra nguyên nhân và giải quyết các vấn đề liên quan đến lực lượng siêu nhiên gây hại cho con người theo cách 16 Cadière đã nói (1955, 2006, tr. Cadière cũng đề cập đến các hình thức bói toán, xử lý tình thế trong tang ma bất thường, trong ngày dịch bệnh hay cách con người nói tránh, nói lái, dùng phản ngữ trong một số trường hợp, đeo, treo, vẽ bùa, dùng hình nhân thế mạng (1955, 2006, tr.
Hay Idowu (1973) thì cho rằng, ma thuật là nỗ lực từ phía một người để chạm tới, khai thác và kiểm soát các tài nguyên siêu nhiên của vũ trụ vì các lợi ích của chính mình, ma thuật là “ý chí của tôi được thực hiện”. Tương tự, Barnard (2003, tr.513) thì cho ma thuật là "nghệ thuật gây ảnh hưởng có chủ đích đến tiến trình và kết quả của các quá trình tự nhiên và xã hội bằng các phương thức và phương tiện huyền bí"… Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Huyên (2017) cho rằng ma thuật cũng là bói toán, phong thủy, xem số xem tướng, cầu đồng cốt, là các nghi thức trong lễ của thầy cúng và những tín hiệu ghi trên các “tờ thỉnh cầu”; là những “biện pháp lạ lùng” được con người thực hành trong ngày tết Đoan Ngọ (làm hình nộm cho năm con giáp bằng lá ngải; nhuộm lá móng; đàn bà thắt bụng bằng dây vôi rồi cởi ra buộc vào cột nhà để tránh mọi cơn đau bụng đau lưng; nhỏ mắt bằng nước muối hòa nước mưa vào chính ngọ; đeo bùa tua bùa túi cho trẻ con; đóng dấu đỏ của các vị thần vào áo cho trẻ; uống hùng hoàng hay thần sa, ăn hoa quả, rượu nếp, kê… để giết sâu bọ trong ruột); Đỗ Thị Thu Hà (2020) cho ma thuật là cách gọi chung các phương pháp, nghi lễ, kèm theo một tín ngưỡng, nhằm đưa ảnh hưởng của thế giới siêu nhiên tác động một cách tự động vào các sự kiện; ma thuật thường gắn bó với niềm tin rằng con người có thể dùng những sức mạnh siêu nhiên để tác động vào tự nhiên và con người, bằng cách: khấn nguyện, thề bồi, niệm thần chú, cầu đảo, chạy đàn, làm phép, yểm bùa, ấn quyết, mở phép lạ. những nhận định về ma thuật ở trường phái thứ hai đi vào các mô tả cụ thể và chủ yếu chỉ hướng đến chức năng của ma thuật. Trường phái thứ ba, trong tác phẩm Ma thuật, khoa học và tôn giáo, ma thuật như hướng tới mục tiêu và tôn giáo như cứu cánh tự thân (Malinowski, 1992).
Ma thuật vẫn được quan tâm ở khía cạnh chức năng, nhưng ngoài ra còn được khai thác ở ý nghĩa văn hoá. Tambiah (1973, 1985) phủ nhận suy nghĩ tương tự là thái độ của con người, ma thuật không được thực hành bởi những tương tự tiên đoán theo khoa học, dựa vào một số nhận định của Malinowski về cách người dân trên đảo Trobriands thực hành ma thuật như một phần của nghi lễ văn hoá bắt buộc mỗi khi ra khơi, nhằm cầu bình an là hành động nghi lễ mang tính diễn năng (performative) và tính công năng (efficancy), 17 tức là nghi lễ được thực hiện với mong muốn đạt được một kết quả nào đó. Sau đó, trong một số nghiên cứu, Tambiah còn chỉ ra ma thuật là thực hành có “công năng mang tính diễn năng” (performative efficacy) trong nghi lễ, nhằm đánh dấu sự chuyển đổi vị thế xã hội của con người, mang ý nghĩa văn hoá sâu sắc. Cuối cùng, Tambiah gắn khái niệm “hành động diễn ra cùng với lời nói” (illocutory act) cho ma thuật, nghĩa là người nói dù chỉ đơn giản là nói, nhưng hy vọng điều gì đó sẽ diễn ra, hoặc theo nghi thức (chuyển đổi) về mặt xã hội, làm thay đổi vị thế, trạng thái của con người, mùa màng.
Tóm lại, ông miêu tả ma thuật như một hình thức của hành động diễn ra cùng với lời nói, một nỗ lực để cho thế giới phù hợp với lời nói và hành động. Ma thuật được thực hành là sự kết hợp giữa lời nói và hành động. Thông qua hình thức thực hành nghi lễ, trong điều kiện phù hợp, ma thuật có thể đạt được trạng thái thay đổi. Từ đó chứng minh phương thức tư duy kiểu ma thuật, hoàn toàn không liên quan hay tương thích với tư duy khoa học và không thể được hiểu đúng nếu tách ra khỏi môi trường nghi lễ, bởi hành động ma thuật đồng nghĩa với hành động nghi lễ, ma thuật diễn ra trong diễn xướng nghi lễ.
Nguyễn Thị Hiền (2014) đánh giá Tambiah đã chuyển tranh luận của mình về ma thuật ra khỏi mọi quan điểm cho rằng ma thuật mà người nguyên thủy sử dụng khi thiếu vắng khoa học và kỹ thuật tốt hơn vào một lĩnh vực chung của ứng xử con người. Đa số nghi lễ, bao gồm cả những nghi lễ đơn giản nhất trong đám cưới của Tin Lành và nghi lễ thờ cúng tổ tiên của Khổng giáo có một nghĩa nào đó là làm phép và một nghĩa nào đó là ma thuật. Sự có mặt ở khắp nơi của hoạt động ma thuật là một phần quan điểm của Tambiah. Nhưng khái niệm này rất rộng, bao gồm cả những thủ tục chính thức và thông thường mà kết quả của chúng nhìn chung là tích cực và những việc có nhiều rủi ro là một phần của ma thuật.
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu thay thế thuật ngữ ma thuật bằng các thuật ngữ khác, chẳng hạn như thuật ngữ nghi lễ. Mặc dù có nhiều hàm ý trong thuật ngữ ma thuật mang tính nghi lễ (hoạt động, lời nói, động tác, sân khấu tâm linh, đồ cúng, hiện vật thiêng, biểu tượng thiêng) và nhiều yếu tố chung (mang đậm tính tâm linh, liên quan đến tinh thần, tâm lý, xúc cảm), nhưng thuật ngữ nghi lễ không thể bao chứa hết hàm ý của các yếu tố ma thuật, mang tính trải nghiệm tinh thần, chủ tâm, lòng mong muốn, phép mầu, làm phép, sự chuyển hóa mang tính biểu tượng, tâm linh, phép thuật của lời nói, hành động tác động lên trạng thái, vị trí xã hội (yếu tố ma thuật trong nghi lễ thành 18 đinh, nghi lễ mở phủ, nghi lễ hô thần nhập tượng. Không thể phủ nhận, ma thuật được mô tả dày đặc trong các nghi thức, nghi lễ tôn giáo tín ngưỡng, trong các lễ hội như: ma thuật truyền sinh trong lễ hội phồn thực (Trần Ngọc Thêm (1996); dòng lễ hội “ma thuật vật hèm” (Dương Đình Minh Sơn, 2008, tr.159), "ma thuật cầu mưa" với hình thức đốt pháo, thi bơi, đua thuyền, bơi chải, bơi cạn (Lê Như Hoa, 2001, tr.87); “ma thuật giao cảm” phồn thực trong các trò chơi dân gian chơi đu, thả đèn trời/cầu lửa, thả diều “ma thuật mô phỏng” trong lễ hội như đua thuyền, bắt vịt (Nguyễn Việt Hương (2015, tr. Ý nghĩa về văn hoá của ma thuật cũng được thể hiện qua một số khái luận về ma thuật ở Việt Nam là: ma thuật “gắn bó với niềm tin rằng con người có thể dùng những sức mạnh siêu nhiên để tác động vào tự nhiên và con người, bằng cách khấn nguyện, thề bồi, niệm thần chú, cầu đảo, chạy đàn, làm phép, yểm bùa, ấn quyết, mở phép lạ” (Nguyễn Văn Minh, 2013, tr.
Hay “ma thuật là những thực hành trên linh vật bằng điệu bộ, cử chỉ, động tác kèm những lời kinh tụng, hô hoán, truyền phép có vẻ huyền bí, khó hiểu của thầy cúng, pháp sư hay những người có chức năng thực hành tín ngưỡng tôn giáo. Những thực hành ma thuật thường gắn với điều kiện và không gian nghi lễ, lễ hội phù hợp với tín ngưỡng tôn giáo của con người. Nếu so sánh thì có thể thấy ma thuật biểu hiện ở trình độ kém huyền bí và ít nguy hiểm hơn hiện tượng Saman giáo” (Nguyễn Thị Nguyệt, 2015, tr. Đỗ Thị Thu Hà (2021,tr.31) quan niệm, “ma thuật là một phương thức tương tác hoặc ứng xử của con người với cái siêu nhiên.
Dựa trên các hiện vật, kĩ thuật, lời nói, trong sự lựa chọn cẩn trọng về tư cách người thực hành, con người muốn buộc cái siêu nhiên mà mình tương tác chú ý tới và thực hiện theo một kết quả cụ thể nào đó đã được đặt ra. Phụ thuộc vào những kiến tạo đã có trong từng nền văn hóa về cái siêu nhiên này, con người lựa chọn thực hiện những hành vi hoặc vật tương ứng nhằm đảm bảo rằng, điều họ mong muốn sẽ xảy đến.