CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN 1. TONG QUAN VE NGUYÊN LIEU 1. Tinh hình xấu khẩu tôm — nguồn phé liệu Sản lượng nuôi trồng thủy san tháng 3 năm 2017: ước đạt 107 ngàn tan, tăng 9.6% so với cùng kì năm trước, đưa tong sản lượng nuôi trồng thủy sản 3 tháng dau năm ước đạt 570 ngàn tấn, tăng 2.7 % so với cùng kỳ năm 2016. Diện tích nuôi tôm nước lợ của cả nước 3 tháng đầu năm ước đạt 535.6 ngàn ha, tăng 1.7% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt 68.3 ngàn tan, tăng 14.
Diện tích tôm thé chân trang tại các tinh đồng bằng sông Cửu Long ước dat 17.6%), sản lượng ước đạt 21 ngàn tan (+10. [1] Ngay trong tháng đầu tiên của năm 2017, xuất khẩu tôm đã giảm 12.6% so với cùng kỳ năm 2016. Sang tháng 2/2017, xuất khẩu tôm lại tăng 18.2% trong tháng 3/2017. Do vậy, giá trị xuất khẩu trong 3 tháng đầu năm nay giảm nhẹ 0.
Trong quý 1/2017, xuất khẩu tôm chân trang vẫn chiếm ưu thế với tỷ trong 63.3% tong xuất khẩu tôm Việt Nam; tôm si đứng thứ hai với 27.3% và tôm biến với 9. Ty trọng xuất khẩu tôm chân trang tăng từ 57% trong quý 1/2016 lên 63. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu tôm sti giảm từ 35% năm xuống còn 27.3%, ty trọng tôm bién tăng nhẹ. Quy 1/2017, trong tổng xuất khẩu tôm của Việt Nam, tôm chân trang sống/tươi/đông lạnh là sản phẩm xuất khẩu chiếm giá trị cao nhất với 208.
Trong giai đoạn này, giá trị xuất khâu các sản phẩm tôm chân trăng của Việt Nam tăng 10.6% so với quý I/2016 đạt 391.7 triệu USD trong khi xuất khẩu các sản phẩm tôm st giảm 21% đạt 168. Xuất khẩu tôm biến tăng 12. Trong quý 1/2017, Việt Nam xuất khẩu tôm sang 68 thị trường, tăng so với 64 thị trường của cùng kỳ năm 2016. Top 10 thị trường chính bao gồm Nhật Bản, EU, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Australia, ASEAN, Đài Loan và Thụy Sỹ, chiếm 95.4% tổng xuất khẩu tôm Việt Nam.
Từ quá trình tìm hiểu về tình hình sản xuất và xuất khẩu như trên thấy được rang có một lượng lớn phé liệu tôm được thải ra và cần có biện pháp xử lý một cách khoa học, tạo nền móng cho công nghiệp sản xuất N-acetyl-glucosamine và các ngành công nghiệp khác. Vỏ tôm thẻ chân trắng a. GIỚI thiệu Tôm thẻ chân trang [2] hay còn gọi là tôm bạc Thái Bình Duong, có tên khoa học là Litopenaeus vannamei hay Penaeus vannamei [3], thuộc ngành Arthropoda (Chân khớp), lớp Crustacea (Giáp xác), bộ Decapoda (Mười chan), họ Penaeidae (Tôm he), giống Litopenaeus, loài Litopenaeus vannamei. Tên tiếng Anh là White leg shrimp.
Tôm thé chân trắng b. Đặc điểm hình thái và phân bố Đặc điểm hình thái Tôm chân trắng vỏ mỏng có màu trăng đục nên có tên là tôm bạc, bình thường có màu xanh lam, chân bò có màu trang ngà nên gọi tôm chân trang. Chùy là phần kéo dài tiếp với bụng. Dưới chùy có 2 - 4 răng cưa, đôi khi có tới 5 - 6 răng cưa ở phía bụng.
Những răng cưa đó kéo dài, đôi khi tới đốt thứ hai. Phân bo Tôm Litopenaeus vannamei [3] là tôm nhiệt đới, phân bố vùng ven bờ phía Đông Thái Bình Dương, từ biển Peru đến Nam Mexico, vùng biển Ecuado. Hiện tôm chân trăng đã được di giống ở nhiều nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Thành phan của vỏ tôm thẻ Cau tạo vỏ tôm Vỏ tôm chia làm 4 lớp chính là: lớp biểu bì, lớp màu, lớp calci hóa và lớp không bị calci hóa.
[4] Lớp biểu bì: có chứa lipid vì thế nó cản trở tác động của acid ở nhiệt độ thường trong công đoạn khử khoáng bằng acid hơn là các lớp bên trong. Màu của lớp này thường vàng rất nhạt, có chứa polyphenoloxidase và bị hóa cứng bởi puinone-tanin. Lớp biểu bì liên kết với một số màng mỏng bên ngoài cản trở hòa tan, ngay cả trong môi trường acid đậm đặc do nó có chứa các mắt xích paratin mạch thăng. Lớp màu: tính chất của lớp này do sự có mặt của những thé hình hạt của vật chất mang màu giống dạng melanin.
Chúng gdm những túi khí hoặc không bào. Một vài vùng xuất hiện những rãnh thăng đứng có phân nhánh, là con đường cho calci thâm thấu vào. Lớp calci hóa: lớp này chiếm phan lớn vỏ, thường có màu xanh trải đều khắp, chitin ở trang thái tạo phức với calci. Lớp không bị calci hóa: vùng trong cùng của lớp vỏ được tạo thành bởi một phan tương đối nhỏ so với tổng chiều dày bao gồm các phức chitin-protein bên vững không có calci.
Thành phan hóa học của vó tôm [5] Protein: trong phế liệu tôm protein thường tôn tại ở 2 dạng tự do và phức hợp. Dạng tự do ton tại 6 phan thịt tôm lẫn vào phế liệu và nội tạng của tôm. Dạng phức hợp là dạng protein liên kết với chitin, calci carbonate, liên kết với lipid tạo thành lipoprotein, liên kết với sắc tố tạo thành proteincarotenoit. như một phan thống nhất quyết định tính bền vững của vỏ tôm.
Chitin: tồn tại dưới dạng liên kết với những liên kết đồng hóa trị với các protein dưới dạng phức hợp chitin-protein, liên kết với các hợp chất khoáng và các hợp chất hữu cơ khác gây khó khăn trong việc tách chiết chúng. Khoáng: chủ yếu là muối calci carbonate, hàm lượng calci phosphate không nhiều nhưng trong quá trình khử khoáng dễ hình thành hợp chất CaHPO, không tan trong HCI gây khó khăn cho quá trình khử khoáng. Sắc tố: trong vỏ tôm chủ yếu là astaxanthin. Astaxanthin liên kết với các phân tử protein tạo thành phức carotenoprotein hap thụ ánh sáng Amax = 628nm, tạo nên mảu xanh đặc trưng.
Dưới tác dụng của nhiệt, liên kết này bị phá hủy và giải phóng astaxanthin trở lại dạng tự do hap thu mạnh bức xạ trong vùng ^ = 470- 510nm có màu đỏ cam. Enzyme nội tạng trong đầu tôm và của các vi sinh vật thường trú trên tôm nguyên liệu. Ngoài ra, trong phế liệu tôm còn có các thành phân khác như: nước, lipid. Theo một số nghiên cứu, thành phan hoá học cơ bản của phế liệu vỏ tôm thẻ chân trang được trình bày trong Bảng 1.
Thành phan hoá học của vỏ tôm thé chân trắng [4] Thành phần hoá học Hàm lượng (%) Chitin 294+14 Protein 24.5 * Tính trên khôi lượng khô tuyệt đôi, độ âm vỏ tôm là 76% + 1. TONG QUAN VE CHITIN 1. Cau tao Chitin là polime hữu co pho bién trong tu nhiên sau cellulose, được tach chiết lần đầu tiên vào năm 1811 bởi nha dược hóa học người Pháp Henri Braconnot từ nam. [6] Trong tự nhiên chitin được tôn tại trong nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau bao gồm vỏ các loài giáp xác, côn trùng và vi sinh vật.
Trong các loài giáp xác như tôm, cua, ghe,. loài chân đầu như mực,. vỏ tôm hùm có hàm lượng chitin cao chiếm 60-75%. Từ côn trùng thi có ở vỏ các loai như muỗi, gián, ong mật, nhộng tăm,.
Chitin cũng tôn tại phô biên trong giới vi sinh vật như: vi nam, nâm mộc, nắm men, một số loài tảo và một số loài xạ khuẩn Streptomyces. Nhưng nguồn khai thác chính là từ phế liệu thủy sản, vỏ của các loài giáp xác đặc biệt là từ tôm và cua. Công thức phân tử là (CgH¡zOsN)ạ. Trong đó: n thay đổi tùy thuộc vào loại nguyên liệu (nam the = 400+500, nam ham = 7002800, neu = 500600).
Chitin la poly (B-1,4- N-acetyl-D-glucosamine), một polisaccharide mach thăng không phân nhánh, được cấu tạo bởi các monosaccharide N-acetyl-B-D- glucosamine liên kết với nhau bằng liên kết B-1,4-glucoside, tạo nên một mạng lưới các sợi có tổ chức, có cầu trúc tương tự như cellulose, ở cellulose thì carbon C-2 chứa nhóm hydroxyl (-OH), còn đối với chitin thì chứa nhóm acetyl (-COCHH:).2) [5,7] HOH2C NHCOCH; HO ` ~ Sg O O “ PS hổ HO NHCOCH3 HOH„C Hình 1. Cau trúc hóa học của chitin Trong các loài giáp xác, chitin là thành phần cấu tạo chính tạo nên độ cứng chắc của vỏ giáp xác, chitin thường không tôn tại ở dạng tự do mà luôn kết hợp với protein dưới dạng phức hợp, carbonate calci và nhiều hợp chất hữu cơ khác. Chitin được chia thành 3 dạng cau trúc: a-chitin, B-chitin, y-chitin xuat phat từ nguồn gốc tách chiết chitin. Ba dang chitin này khác nhau về tinh hydrate hoá, kích thước của mỗi đơn vị cau trúc và cách sắp xếp các mach trong mỗi đơn vị cau trúc.
- -chitin: là phố biến nhất, được tim thấy trong thành tế bào nam men, nam mốc, VI nắm, nhuyễn thé, gân, trong vỏ tôm, tôm hum, cua, và lớp biểu bì của côn trùng, có độ rắn phân tử cao nhất và ở dạng rắn chắc và các mạch chitin sắp xếp song song ngược chiều nhau. - §-chitin: hiếm gặp hon, thường có trong xương mực, bao gồm các mach chitin song song cùng chiều nhau, có độ ran chắc thấp, tinh hydrate hóa cao. - y-chitin: là biến thé của a-chitin, sắp xếp cứ 2 mạch song song cùng chiều thì có một mạch ngược chiêu. œ-chitin B-chitin y-chitin Hình 1.
Sự sắp xếp cua chuoi polime cua ơ-chitin, j-chitin, y-chitin 1. Tính chất của chitin Chitin có màu trắng, có cấu trúc siêu lỗ, có khả năng hấp phụ tốt, dễ tạo mang. Chitin là polime ky nước (hydrophobic polime) đặc biệt là a-chitin, không tan trong nước, môi trường kiềm, acid loãng và các dung môi hữu cơ như ete, rượu. Chitin tan trong dung dich acid đậm đặc như HCl, H;PO¿, dimethylacetamide chứa 5% lithium chloride, trong dung dich đặc nóng của muối tioxianat Liti (LISCN) và thioxianat calci Ca(SCN)» tạo thành dung dịch keo.
Chitin tương đối 6n định với các chất oxy hóa khử, như thuốc tím (KMnO,), HO», nước Javen (NaC1O) hay Ca(C1O)s,. Khi đun nóng trong dung dich HCI đậm đặc thi chitin sẽ bị thuỷ phân thành các phan tử glucosamine có hoạt tính sinh học cao. Chitin có độ deacetyl thấp. Chitin tự nhiên có độ deacetyl dao động trong khoảng từ 8-12%.
Khi đun nóng chitin trong dung dịch NaOH đặc thi chitin bị khử mat gốc acetyl tạo thành chitosan. TONG QUAN VE GLUCOSAMINE 1. Tinh hinh san xuat glucosamine a. Thé gidi Từ những năm 1990, người ta đã chế tao được glucosamine từ vỏ tôm, cua, sò.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu và ứng dụng sản xuất glucosamine, chủ yếu là glucosamine sulfate, glucosamine hydrochloride. Tuy nhiên, N-acetyl-D-glucosamine không phố biến rộng rãi trên thị trường và có giá thành rất dat. Việt Nam Tình hình sản xuất ølucosamine ở Việt Nam còn khá hạn chế, một số ít các công ty sản xuất glucosamine (chủ yếu là glucosamine sulfate, glucosamine hydrochloride) xuất khẩu qua Mỹ, Nhật như AFCP, VN Organic,.