CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nấm linh chi 1. Giới thiệu chung Nấm linh chi có tên khoa học là Ganoderma lucidum (G. lucidum), thuộc chi Ganoderma, họ nấm lim (Ganodermataceae).
Linh chi có tên gọi là Lingzhi theo tiếng Trung Quốc, Reishi theo tiếng Nhật. Ở Việt Nam nấm linh chi còn được gọi là nấm Lim, Tiên Thảo và nấm Trường Thọ. Chi Ganoderma trên thế giới có trên 250 loài, nhưng chỉ có sáu loại là linh chi đỏ, đen, xanh, trắng, vàng và tím là được nghiên cứu để phát hiện ra tiềm năng có lợi cho sức khỏe tính chất. Theo màu sắc, nấm linh chi được chia thành 6 loại và mỗi có công dụng khác nhau như trình bày ở bảng 1.1: Phân loại nấm linh chi Tên gọi Màu sắc Đặc tính dược lý Thanh chi Vị chua, tính bình, không độc, (Long chi) sáng mắt, tăng cường trí nhớ Hồng chi Vị đắng, tính bình, không độc, (Xích chi) tăng cường trí nhớ Hoàng chi Vị ngọt, tính bình, không độc, (Kim chi) an thần 2 Vị cay, tính bình, không độc, Bạch chi ích phổi, an thần, chữa ho Vị mặn, tính bình, không độc, Hắc chi ích thận Vị ngọt, tính ôn, không độc, trị Tử chỉ đau nhứt khớp xương, gân cốt Nấm linh chi gồm hai phần cuống nấm và mũ nấm.
Cuống nấm dài hoặc ngắn, thường hình trụ, đường kính 0,5-3 cm. Cuống nấm thường không phân nhánh, đôi khi uốn khúc cong. Lớp vỏ cuống màu đỏ – nâu đỏ – nâu đen, bóng. Mũ nấm dạng thận – gần tròn, đôi khi xòe hình quạt.
Trên mặt mũ có vân gạch đồng tâm màu sắc từ vàng chanh – vàng nghệ – vàng nâu – vàng cam – đỏ nâu – nâu tím, nhẵn bóng. Khi già, sẫm màu lớp vỏ láng, lớp phấn đỏ nâu trên bề mặt ngày càng nhiều, và dày hơn. Kích thước mũ nấm thường 5-12 cm, dày 0,8-3,3 cm. Phần đỉnh cuống thường gồ lên hoặc hơi lõm [1].1 là ảnh chụp của nấm linh chi.1: Nấm linh chi Về công dụng dân gian, nấm linh chi có rất nhiều tác dụng hiệu quả lên các hệ cơ quan của cơ thể, từ hệ miễn dịch, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa đến việc bài tiết các độc tố trong cơ thể, điều trị bệnh tiểu đường.
Phần lớn các nghiên cứu về dược tính của nấm linh chi chủ yếu xoay quanh khả năng tăng cường hệ miễn dịch, điều hòa tim mạch, hạ huyết áp và bảo vệ gan [2]. Thành phần hóa học Nấm linh chi có nhiều lợi ích đối với sức khỏe và chứa hơn 400 hợp chất hoạt tính sinh học, bao gồm triterpenoid, polysaccharide, nucleotide, sterol, steroid, axit béo và protein [3, 4], có khả năng chống khối u [5], chống vi trùng, chống xơ vữa động mạch, chống viêm [6]. Thành phần chủ yếu của nấm là nước, chiếm đến 90 %. 10 % khối lượng còn lại bao gồm các thành phần dinh dưỡng như protein (10–40 %), chất béo (28 %), carbohydrate (3–28 %), chất xơ (3–32 %), tro (8–10 %) [7].
Ngoài ra trong nấm còn chứa các vitamin, axit béo, các khoáng chất thiết yếu như đồng, kẽm [8] và selen [9].2 trình bày hàm lượng chất khoáng và vitamin có trong nấm.2: Hàm lượng chất khoáng và vitamin có trong nấm linh chi [10] Chất khoáng và vitamin Hàm lượng (mg/100g) Canxi 832 Photpho 4,150 Sắt 82,6 4 Magie 1,030 Natri 375 Kali 3,590 Vitamin B1 3,49 Vitamin B2 17,10 Vitamin B6 0,71 Niacin 61,9 Inositol 307 Choline 1,150 1. Polysaccharide Các polysaccharide của nấm linh chi có tác dụng sinh học như kháng viêm, hạ đường huyết, chống loét, chống lại sự hình thành khối u, và tăng cường khả năng miễn dịch [11, 12]. Có trên 200 loại polysaccharide được phân lập từ nấm linh chi, trong đó chủ yếu gồm 2 loại chính là galactan và glucan. Đặc biệt, glucan có liên kết β (β-glucan) là hoạt chất sinh học có nhiều công dụng quý, có lợi cho con người [13, 14].
β-glucan là một chuỗi các phân tử D-glucose liên kết bởi liên kết (1,3)-β hay (1,6)-β. Các sản phẩm tự nhiên có chứa β-glucan đã được sử dụng rất lâu, nhưng β-glucan chỉ mới được nghiên cứu trong những năm gần đây. β-glucan được sử dụng để điều trị một số bệnh bao gồm ung thư, bệnh truyền nhiễm, bệnh tiểu đường và các bệnh tim mạch [15, 16]. Cấu trúc hóa học của hoạt chất β-glucan được trình bày như ở hình 1.2: Cấu trúc β-glucan phân lập từ nấm linh chi [17] 1.
Saponin Saponin hay saponosid là một nhóm các glycosid có phần genin với cấu trúc triterpen hay steroid và được tìm thấy ở thực vật, ngoài ra cũng được tìm thấy ở động vật thân mềm như hải sâm, sao biển. Tên gọi saponin xuất phát từ sapo theo tiếng Latinh có nghĩa 5 là xà phòng do tính tạo bọt của nhóm hợp chất này. Dựa trên cấu trúc hóa học của phần sapogenin saponin được chia thành 3 nhóm lớn là saponin triterpenoid, saponin steroid và saponin steroid alkaloid. Các triterpenoid trong nấm linh chi thuộc nhóm saponin triterpenoid [18, 19].
Triterpenoid Triterpenoid là một hợp chất được cấu tạo gồm ba đơn vị terpene hoặc 6 đơn vị isoprene có công thức phân tử C30H48. Triterpeneoid được phân thành 6 loại lớn gồm acyclic (nhóm squalene), monocyclic (achilleol A), bicyclic (pouoside A), tricyclic (lansioside A), tetracyclic (lanostane, dammarane và euphane) và pentacyclic triterpenoids (oleanane group, ursane, nhóm lupane và nhóm hopane) được trình bày trong bảng 1.3: Phân loại triterpenoid STT Loại Nhóm Cấu trúc Acyclic 1 Squalene triterpenoid Monocyclic 2 Achilleol A triterpenoid Bicyclic 3 Pouoside A triterpenoid Tricyclic 4 Lansioside A triterpenoid 6 Lanostane Tetracyclic 5 triterpenoid Dammarane Oleane Pentacyclic 6 triterpenoid Ursane 7 Lupane Hopane Các triterpenoid tồn tại dưới dạng tự do (không có phần đường), có cấu trúc vòng, mang một số nhóm chức như: – OH, – O –, C=O. Đặc tính chung là tan tốt trong etanol, metanol, ít tan trong nước ngoại trừ khi kết hợp với đường để tạo thành glycosid. Các triterpenoid có độ nhớt vừa phải, bền với nhiệt độ và tạo vị đắng trong nấm linh chi [11, 12].
Cấu trúc hoá học của các triterpenoid trong nấm linh chi dựa trên lanostan, là một chất chuyển hoá của lanosterol. Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra cao chiết bằng CH2Cl2 và CH3OH bao gồm các triterpenoid thuộc nhóm lanostane (ganoderol A, ganodermadiol, axit applanoxidic A, axit applanoxididic F, ganoderone A, lucidadiol và ganoderal A [20]. Trong phần không phân cực của quả thể nấm linh chi có các triterpenoid tự do với hàm lượng từ 3 – 5 %. Thành phần chính là các axit ganoderic A, B, C, D, F, H, I và J như hình 1.
Chính các triterpenoid này làm cho nấm linh chi có vị đắng, khác với các loại nấm khác. Hàm lượng triterpenoid là khác nhau ở các bộ phận khác nhau và giai đoạn phát triển khác nhau của nấm [21].3: Một số axit ganoderic phổ biến trong nấm linh chi Trong các thành phần hóa học trên, nhóm triterpenoid là một trong số những dược chất quý được phát hiện đầu tiên với nhiều tác dụng. Ở hầu hết các nước phát triển, triterpenoid là chất chính được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng của các loài nấm linh chi khác nhau [22]. Triterpenoid chiếm hàm lượng cao trong nấm linh chi và có những tác dụng nổi bật nên trong luận văn này đối tượng được lựa chọn trích ly là triterpenoid và thử nghiệm hoạt tính sinh học của cao chiết.
Hoạt tính sinh học của triterpenoid Triterpenoid phân bố rộng rãi khắp thế giới thực vật và góp phần tạo nên các hoạt tính sinh học của nấm linh chi. Triterpenoid, đặc biệt là các axit ganoderic trong nấm linh chi giúp nấm linh chi có khả năng chống viêm, chống khối u, Human Immuno- deficiency Virus (HIV) [23], ngăn ngừa tiểu đường, kháng khuẩn, kháng oxy hoá và giảm mỡ máu. Kháng oxy hóa Trong cơ thể sống thường xuyên xảy ra các phản ứng oxy hóa – khử, gắn liền với quá trình trao đổi chất, trao đổi năng lượng của tế bào. Chính nhờ phản ứng oxy hóa – khử này mà các dạng oxy hoạt động bao gồm gốc superoxide (O2●), hydro peroxid (H2O2), và gốc hydroxyl (HO●) được hình thành.
Quá trình tích lũy các sản phẩm oxy hóa này ở nồng độ cao là nguyên nhân dẫn đến các tổn thương oxy hóa của cơ thể sinh vật. Ngoài ra, các gốc tự do còn có thể phát sinh bởi nguyên nhân bên ngoài như tia UV, chất kích thích sinh trưởng, chất bảo quản thực phẩm và chất thải công nghiệp. Các ion kim loại chuyển tiếp (Cu2+, Fe2+…) có thể xúc tác cho phản ứng tạo gốc hydroxyl từ superoxide và hydro peroxide. Phản ứng này gọi là phản ứng Fenton (1.
Ức chế tế bào ung thư Khả năng ức chế tế bào ung thư của các hợp chất có thể là do quá trình apoptosis [24]. Apoptosis là quá trình đóng vai trò thiết yếu trong sự phát triển và tồn tại bằng cách loại bỏ tế bào bị hư hỏng hoặc không mong muốn. Một loạt các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng, hầu hết các chất hóa trị diệt khối u gây ra quá trình apoptosis ở các tế bào và mô đích. Các hợp chất tự nhiên đã được chứng minh là gây ra quá trình apoptosis ở một số dòng tế bào ung thư, đồng thời không ảnh hưởng đến các tế bào bình thường [25].
Tuy cơ chế phân tử mà flavonoid gây ra quá trình apoptosis vẫn chưa được làm rõ, nhưng một số cơ chế có thể liên quan bao gồm ức chế hoạt động của ADN topoisomerase I/II, giảm (Reactive oxygen species ‒ ROS) [26], điều hoà con đường truyền tín hiệu [27], giải phóng cytochrome C với sự kích hoạt tiếp theo của caspase ‒ 9 và caspase ‒ 3, [28] điều hòa giảm biểu hiện Bcl ‒ 2 và Bcl ‒ X, nhưng thúc đẩy biểu hiện Bax và Bak, kích hoạt endonuclease và ức chế Mcl ‒ 1 protein [29]. Kháng khuẩn Hoạt tính kháng khuẩn của các hợp chất tự nhiên thường được thể hiện như thể hiện trong hình 1.6 bao gồm các quá trình: Ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn bằng cách ngăn cản sinh tổng hợp lớp peptidoglycan nên không tạo được khung murein; Gây rối loạn chức năng màng sinh chất: Điện thế màng thể hiện sự khác biệt của điện thế trong và ngoài màng tế bào. Các hợp chất tự nhiên có tính kháng khuẩn sẽ gây ra sự khử cực của màng dẫn đến giảm khả năng chuyển hóa các chất trong tế bào [30]; Ức chế sinh tổng hợp protein: Chủ yếu ức chế ribosome, ngoài ra còn tác động lên các nhân tố tham gia quá trình dịch mã và sau dịch mã. Dẫn tới các protein không được tạo thành hoặc nếu được tạo thành thì không có hoạt tính [31].4: Cơ chế kháng khuẩn của hợp chất có hoạt tính sinh học đối với vi khuẩn Escherichia coli a) và Staphylococcus aureus b) [30] 1.