CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC DẪN DÒNG THI CÔNG VÀ KÊNH DẪN DÒNG KHI THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI, THỦY ĐIỆN 1. Vị trí, ý nghĩa của công tác dẫn dòng thi công Dẫn dòng thi công là một hạng mục công trình thường không thể thiếu được trong quá trình xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện. Đây là một trong những nội dung chủ yếu của thiết kế tổ chức xây dựng các công trình thủy công và phụ thuộc nhiều vào việc bố trí các công trình đầu mối. Lựa chọn phương án dẫn dòng hoặc công trình dẫn dòng ảnh hưởng lớn đến kế hoạch tiến độ thi công và giá thành công trình.
Khi lựa chọn phương án dẫn dòng cần phải tính toán sao cho kinh phí nhỏ nhất, thi công thuận lợi, an toàn nhất mà vẫn đảm bảo nước từ thượng lưu về hạ lưu, duy trì dòng chảy tự nhiên và phát huy yếu tố lợi dụng tổng hợp. Ngoài ra, việc chọn phương án dẫn dòng thi công hợp lý còn cho phép sớm phát huy hiệu quả công trình ngay trong thời gian thi công. Với mỗi công trình, quy mô và thời gian xây dựng khác nhau, điều kiện địa hình, địa chất từng công trình khác nhau, yêu cầu lợi dụng tổng hợp nguồn nước khác nhau do đó phương án dẫn dòng thi công không giống nhau. Tuy nhiên công tác dẫn dòng có chung những nội dung chính sau: - Lựa chọn xác định phương án dẫn dòng.
- Tính toán thiết kế các công trình dẫn dòng (Kênh, cống, tuy nen, tràn tạm,…). - Thiết kế công trình ngăn dòng và đê quai bao quanh hố móng đảm bảo hố móng được thi công khô ráo. - Lợi dụng tổng hợp dòng chảy tự nhiên ở mức cao nhất. 4 Có trường hợp đặc biệt do điều kiện dẫn dòng thi công khó khăn phải thay đổi tuyến công trình chính để đơn giản sơ đồ dẫn dòng, mặc dù điều này làm tăng khối lượng công trình chính.
Ví dụ như công trình thủy điện Tam Hiệp ở Trung Quốc và công trình thủy điện Sơn La, hồ chứa Nà Tấc ở nước ta, trong thiết kế đã phải điều chỉnh tuyến công trình để đơn giản hóa phương án dẫn dòng. Theo nghiên cứu tỷ lệ giá thành của các công trình dẫn dòng thường chiếm (7 ÷ 20)% giá thành xây dựng đập (Bảng 1-1): Bảng 1.1: Tỷ lệ giá thành công trình dẫn dòng so với giá thành đập Tỷ lệ giá thành Lưu lượng dẫn Tháo lưu lượng thi công trình dẫn Tên công trình dòng tính toán công qua dòng so với đập (m3/s) (%) Hồ Gò Miếu 11,5 Kênh dẫn 8 Hồ Khuổi Khe 76 Cống dẫn dòng 18 Hồ Bó Vàng 7 Cống dẫn dòng 10 Hồ chứa Hà Động 23,98 Lỗ xả tràn 15 Hồ Hồng Kếnh 4,21 Kênh dẫn 7 Thủy điện Na Kênh dẫn và đập 4938 18 Hang xây dựng dở Hồ suối Nứa 171 Kênh dẫn 9 Kênh dẫn + 2 lỗ xả Thủy điện Sơn La 16562 16 của cống 5 Công trình dẫn dòng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và thời gian thi công hoàn thành công trình. Dẫn dòng thi công chiếm vị trí quan trọng trong công tác thiết kế tổ chức thi công và bố trí tổng thể các công trình lâu dài. Do vậy, việc nghiên cứu để lựa chọn giải pháp dẫn dòng thi công hợp lý cho mỗi công trình là vấn đề khoa học, cần phải cân nhắc đầy đủ dựa trên cơ sở kỹ thuật, kinh tế và vấn đề xã hội.
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương án dẫn dòng thi công Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn phương án dẫn dòng, nhưng chủ yếu tập trung vào các nhân tố sau: 1. Điều kiện tự nhiên 1. Địa hình Điều kiện địa hình của khu vực công trình đầu mối thường là yếu tố chủ yếu quyết định phương án dẫn dòng: Độ dốc hai bờ, lòng sông rộng hay hẹp, bãi bồi ở khu vực lòng sông; địa hình lân cận dốc hay thoải; khả năng cho phép thu hẹp dòng chảy, khả năng đào kênh dẫn dòng, lợi dụng yên ngựa để xả lũ. Ví dụ: Công trình thuỷ điện Nậm Na 2 được xây dựng trên sông Nậm Na thuộc địa phận xã Phìn Hồ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu cách thị xã Lai Châu khoảng 15km về phía Tây Bắc.
Đặc điểm về địa hình của khu vực dự án là núi cao và lòng sông rộng, địa hình dốc, bị chia cắt nhiều bởi khe và suối từ hai bên đổ vào sông Nậm Na. Từ những phân tích địa hình: với lòng sông rộng, bên bờ trái công trình đầu mối có bãi bồi về mùa kiệt có thể dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp bờ phải. Lợi dụng vị trí tuyến kênh dẫn vào và kênh dẫn ra Nhà máy lựa chọn 6 phương án đào kênh dẫn dòng bờ trái, phục vụ dẫn dòng trong mùa lũ năm thứ nhất và các giai đoạn sau. Phương án dẫn dòng thi công được chọn như sau: Q đến /Q tháo TT P(%) Thời gian Biện pháp dẫn dòng (m3/s) Từ tháng 12 năm 2008 Dẫn dòng qua lòng 1 10 đến tháng 04 năm 2009 526/526 sông thu hẹp bờ phải (mùa kiệt năm XD1) Từ tháng 05 năm 2009 Dẫn dòng qua lòng 2 5 đến tháng 11 năm 2009 3260/3260 sông, kênh dẫn dòng (mùa lũ năm XD1) Từ tháng 12 năm 2009 Dẫn dòng qua kênh 3 10 đến tháng 04 năm 2010 526/526 dẫn dòng bờ trái (mùa kiệt năm XD2) Từ tháng 05 năm 2010 Dẫn dòng qua kênh 4 5 đến tháng 11 năm 2010 dẫn dòng bờ trái và 3260/3260 (mùa lũ năm XD2) đập tràn xây dở Từ tháng 12 năm 2010 Dẫn dòng qua 04 hầm 5 10 đến tháng 04 năm 2011 dẫn dòng: bxh = 526/526 (mùa kiệt năm XD3) 5x6m Từ tháng 05 năm 2011 Dẫn dòng qua 04 hầm 6 5 đến tháng 11 năm 2011 dẫn dòng và 04 3260/3260 (mùa lũ năm XD3) khoang tràn xây dở Từ tháng 12 năm 2011 Dẫn dòng qua 04 hầm 526/526 7 10 đến tháng 04 năm 2012 dẫn dòng (mùa kiệt năm XD4) 1.
Đặc điểm địa chất và địa chất thủy văn Địa chất có ảnh hưởng đến việc mở mái dốc hai bên bờ, thi công bóc bỏ hay xử lý tầng phủ lòng sông, mức độ thu hẹp lòng sông và bờ sông, do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến phương án dẫn dòng. Với điều kiện địa chất tốt 7 có thể tăng mức độ thu hẹp lòng sông khi dẫn dòng vào mùa lũ; nền công trình nứt nẻ ít không phải khoan phụt xử lý nền. Ví dụ: Công trình Hồ Hà Động (Quảng Ninh) mùa lũ dẫn dòng qua phần lòng sông thu hẹp, gia cố mái đập phần tiếp giáp với dòng chảy bằng tấm bê tông lát mái thượng lưu, lòng suối vùng hạ lưu đập đảm bảo ổn định chống xói. Thủy điện Supan ở Sơn La, nền công trình ít bị nứt nẻ, không phải khoan phụt gia cố nền do vậy thời gian mùa khô tập trung cho việc đắp đập đẩy nhanh tiến độ.
Công trình thủy điện Bình Điền tỉnh Thừa Thiên Huế nền tuyến công trình bị nứt nẻ nhiều nên mùa khô năm đầu tiên phải tập trung khoan phụt dung dịch chống thấm để xử lý nền do vậy tiến độ thi công đập bị chậm lại. Địa chất thủy văn, vấn đề nước ngầm dưới đất cao hay thấp cũng ảnh hưởng đến việc chọn vật liệu làm đê quai cho phù hợp với địa chất nền, hình thức tiêu nước hố móng. Đặc điểm khí tượng thủy văn dòng chảy Sông có lưu lượng lớn hay nhỏ, chênh lệch cột nước và biên độ lưu lượng của mùa lũ và mùa khô, lưu lượng đỉnh lũ và quy luật xuất hiện … đều trực tiếp ảnh hưởng tới phương án dẫn dòng. Đối với dòng sông có lưu lượng lớn, quá trình xây dựng thường chia ra hai thời đoạn dẫn dòng, mùa khô có thể dẫn dòng qua kênh hoặc cống, mùa lũ dẫn dòng qua công trình khác hoặc qua lòng sông thu hẹp.
Ví dụ: Công trình thủy điện Nậm Na 2 có lưu lượng mùa khô và mùa lũ chênh nhau rất lớn (Lưu lượng tính toán dẫn dòng mùa kiệt max là Q Kiệt10% = 526 m3/s; Q Lũ5% = 3260 m3/s ). Vì vậy, năm thứ nhất mùa kiệt dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp; mùa lũ lưu lượng lớn dẫn dòng qua lòng sông và kênh dẫn dòng bờ trái. 8 Công trình Hồ Hà Động (Quảng Ninh) lưu lượng thiết kế dẫn dòng mùa lũ Q lũ = 987,0 m3/s, mùa khô QTkdd kiệt = 23,98 m3/s, lưu lượng mùa lũ và mùa khô chênh nhau rất lớn, mùa khô dòng chảy được dẫn qua lỗ xả dưới tràn, mùa lũ dẫn dòng qua lòng sông thu hẹp phần bờ trái. Với dòng sông có lưu lượng mùa khô không lớn, thường đê quai ngăn nước làm khô hố móng, công trình dẫn dòng là cống ngầm dưới thân đập kết hợp với kênh dẫn dòng, ví dụ như ở công trình hồ chứa nước Nậm Pông tỉnh Điện Biên; công trình hồ Quán Chẽ tỉnh Thái Nguyên; Hồ suối Nứa tỉnh Bắc Giang… Mùa khô kéo dài hay ngắn cũng ảnh hưởng đến thời gian thi công, cường độ đắp đập vượt lũ.
Trường hợp chênh lệch mực nước và lưu lượng giữa mùa khô và mùa lũ không lớn có thể đào kênh dẫn dòng đủ rộng để phục vụ dẫn dòng cả mùa khô và mùa lũ. Hình thức và bố trí công trình chính Hình thức kết cấu công trình thủy công, bố trí tổng thể và khối lượng công trình chính … là một trong những yếu tố quan trọng để đề xuất và lựa chọn phương án dẫn dòng. Quá trình dẫn dòng cần lợi dụng công trình lâu dài tham gia vào dẫn dòng để giảm giá thành xây dựng. Đối với đập đá đổ hoặc đá xây, đập bê tông có thể xem xét đến phương án cho nước tràn qua công trình đang xây dở trong mùa lũ.
Tuy nhiên trường hợp này cần phải so sánh phương án dựa trên cơ sở kỹ thuật và kinh tế … Ví dụ: Công trình thủy điện Nậm Na 2 lợi dụng vị trí và sử dụng công trình lâu dài tham gia dẫn dòng nên tiết kiệm được giá thành xây dựng công trình tạm là rất lớn, cụ thể như sau: 9 + Kênh dẫn vào và Kênh dẫn ra Nhà máy thủy điện. Thiết kế tuyến kênh dẫn dòng có vị trí tuyến và chiều rộng chính là vị trí tuyến và kích thước kênh dẫn vào và kênh dẫn ra của Nhà máy thủy điện. + Mùa lũ năm xây dựng thứ 2 dẫn dòng qua Kênh và Đập tràn xây dở; Mùa lũ năm xây dựng thứ 3 dẫn dòng qua 4 hầm dẫn dòng và 4 khoang tràn xây dở. Điều kiện xã hội, điều kiện thi công 1.